tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22307419
Tiểu thuyết
04.09.2014
Ngũ Hà Miên
Bão

Ai dè, trước ngày tất niên Dương lịch, Đài Phát thanh loan tin tướng Nguyễn Khánh làm cuộc chỉnh lí, bắt các tướng Đôn, Đình, Xuân, Kim giam giữ, qui cho ông Big Minh[1] tội trung lập. Vẫn là Quốc trưởng nhưng ông vô quyền, từ Hội đồng Quân nhân đổi ra Quân đội cách mạng, phế bỏ ông Đốc phủ sứ Nguyễn Ngọc Thơ. Người ta đồn ông Khánh là gốc Cần lao, vùng dậy phục hận.


Báo hại anh em ông Diệm, Nhu khuya ngày 2-11-1963 đã bị bắn nát thây trong xe thiết giáp, thì giờ đây, người em út, cậu Cẩn quyền hành ở miền Trung trước kia, nay cũng bị mang ra tử hình để chứng minh cho tấm lòng chí công vô tư của ông tướng râu cằm đang làm xiếc trên sân khấu chính trị. Thế là, tại các tỉnh đông đảo Phật tử như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Nha Trang, Đà Lạt… lại náo động, ùn ùn chuẩn bị xuống đường.


Nguyễn Thái Sơn tập hợp anh em, dặn dò các thứ, xong anh bay vô Sài Gòn. Trước tết Giáp thìn có năm ngày, ông Khánh tự lập chính phủ do mình làm thủ tướng, ban cho phía Phật giáo bốn ghế Bộ trưởng Văn hóa, Ngoại giao, Giáo dục và Xã hội, hoàn toàn thỏa mãn các thầy, tình hình trở lại im re.


Trước khi đi, Sơn đến thăm chàng nơi ngôi nhà lợp ngói có căn gác lửng trong Cống Kiểu. Lâu nay, không hiểu sao chàng nhớ cha vô cùng. Chàng rất tiếc khi mình đã có vợ con, đã có chút tiền riêng thì cha đã không còn để mình được thỉnh thoảng dâng lên người lấy một con cá trê nướng nhỏ mà người hằng cực kì thèm ước trước khi ngủ giấc bỏ đời.


Để bù lại, trong mảnh sân nhỏ bé trước nhà, bên quốc lộ, chàng trồng đủ thứ hoa: phù dung, hồng, cúc, thiên lý, cả hoa sen trắng trong một chiếc hồ con, cây lá lên um tùm. Phải bắt chước Thị Ẩn mà ẩn cư trong lòng phố chợ. Chàng tự nhủ thầm


Thái Sơn nhìn phong cảnh, đùa:


– Bộ ông muốn tu tiên hay sao?


Chàng ngao ngán thở dài:


– Không muốn tu cũng không được. Mà muốn tu đi nữa, vị tất người ta đã để yên cho. Thế cuộc mang mang, nan tự liệu.


Sơn trấn an chàng:


– Tôi đi chuyến này, chắc phải làm cái gì đó. Địa chỉ tôi ở Sài Gòn đây, ông có dịp vào thì nhớ ghé. Mình còn mấy đứa em, Bảo Sơn, Hùng Sơn, Minh Trí… chúng nó còn đang học, có gì cần tiếp tay giùm thì thay mình nhé.


– Ông yên trí đi, lâu rồi mình đã coi chúng như em ruột.


Vậy mà, từ đó Sơn đi luôn, vào làm ở Bộ Xã hội với ông Đại đức Thích Trí Không, Trần Quang Thuận rồi sang Pháp. Chàng chỉ được thư từ nhau, cùng tham gia Quốc tế Xã hội (International Socialist) vận động cho hòa bình ở Đông dương, mãi mười mấy năm, sau 1975 mới lại gặp, mừng mừng tủi tủi.


Chiều mồng hai Tết, vợ con về quê cả, chàng phải ở lại giữ nhà. Đất nước nhiễu nhương, đám tướng tá giành nhau quyền lực và từ quyền lực là vàng bạc, nhà cửa, xe cộ, gái và rượu. Một cô học trò của chàng, Hồng Vân, nhan sắc thật mặn mà, cha hồi kết sống dưới hầm bí mật Bầu Súng. Hầm bị khui, cha bị bắn chết. Nàng bị mang lên quận tra khảo, cuối cùng trở thành vợ bé một trưởng chi Công an. Chàng gặp nàng trên chiếc Vespa của người chồng mới, tay đeo vòng vàng, môi hồng má phấn. Chàng thấy lòng quặn đau cho chính cái người chồng cũ của nàng, cũng là học trò của chàng hồi chín năm, đẹp trai, rất dễ thương, cưới vợ chỉ được ba hôm, rồi phải ra đi, bỏ lại người vợ trẻ đang tràn trề nhựa sống buổi xuân thì với những đòi hỏi tất yếu của xác thịt.


Thắp cây hương trên bàn thờ vọng, tia khói xám hững hờ bay qua cành mai vàng cắm trên chiếc độc bình cổ, trời không nắng dù là chút nắng vàng yếu ớt buổi đầu xuân miền Trung. Đây đó, chỉ có tiếng pháo tép của trẻ con nhà bên và tiếng gà trưa xao xác gáy, chàng thấy lòng buồn vô hạn bèn khóa cửa đến chơi Vũ Quỳnh Bang.


Bình là dân miệt biển Bình Sơn, quê gần Dung Quất, cha buôn mắm nên có tiền cho anh ra học tận Huế, đỗ được cái Diplôme. Trước anh có dạy Pháp văn ở Lê Khiết, sau đứng ngoài biên chế, về đi cày. Lúc Quốc gia tiếp thu Quảng Ngãi, anh trở thành một trong những ông thiện chí, cho tới ngày nay, trải qua bao đời chúa tỉnh, ngu dốt có, tàn bạo có. Nhưng cũng như bao kẻ khác, cuộc đời dạy anh phải nhẫn nhục. Nhẫn nhục để bà vợ không biết chữ của anh có thể điều hành thành công một cái đại lý gạo lớn nhất tỉnh, nhằm nuôi một bầy con khá đông ăn học. Vợ anh không biết chữ, thích làm thơ, lắm bài cũng hay đáo để, lại mới học thêm thi đỗ được cái Tú tài 1 ban C này, cái gì cũng nửa giả, nửa thật.


Anh cũng như chàng, trơ trọi trong căn nhà, Tết nhất trống huênh vì vợ con đi vắng cả. Vớ được chàng, anh mừng như bắt được của. Đặt dĩa bánh mứt xuống bàn và đi pha trà hảo hạng thết khách, anh nói:


– Mày không tin là bà xã tao mù chữ thật à? Hồi đó, năm 1943 tao học trường Việt Anh ở Huế, thì con Nguyên, con ông nhạc tao bây giờ, học Đồng Khánh. Tao cua nó, hai bên thề non hẹn biển. Bây giờ nó là vợ thằng Đại đấy, mấy chục năm rồi vẫn còn đẹp. Thế là tao về nhà thưa với ông già tao đi hỏi nó, cưới hỏi làm một lần. Mày biết điều gì xảy ra không?


Đám cưới tới hồi đó còn đi võng, tao cho là nhà gái người ta muốn chơi nổi, giữa cái vùng đồng chua nước mặn quê tao mà thôi. Cô dâu xuống võng tuột vào buồng ngay. Nửa đêm, khách khứa ra về hết. Tao mò vào động phòng huê chúc, thì không phải Nguyên mà là chị ruột cô ta. Kêu trời không thấu. Rồi cũng có một lũ nhóc tì ra đời. Bả không biết chữ thật đấy, chỉ dùng cây viết chì xổ một cái, làm dấu sự thiếu đủ của bạn hàng. Vậy mà mày biết sao không? Hơn một trăm bạn hàng lớn nhỏ của đại lý gạo này, kẻ mua năm tạ, người hai chục, kẻ này trả ba, người kia nợ lại bảy, bả nhớ không ly một xu. Hơn nửa đời rồi, tao mới thấy bả đen đủi, ít học hơn con Nguyên mà kì thực bả mới thông minh hơn. Số kiếp cả.


Chàng hỏi đùa:


– Gặp hồi có gì bất bình, bả không đủ trình độ văn hóa, anh làm sao xổ cái mớ văn chương, chữ nghĩa đầy mình của anh ra mà thuyết phục bả?


Anh cười ha hả, đắc chí:


– Ai cũng nói mày như Khổng Minh mà sao dốt vậy, hở cu con? Trời sinh cho lũ đàn ông chúng ta có một thằng nhỏ. Đàn bà mà ít học chừng nào thì thằng nhỏ còn giỏi như Kissinger vậy. Nó vận động ngoại giao một độ là bao nhiêu giận hờn gây gổ trong lòng nàng tan biến hết, nhanh chóng hơn thuốc thần.


Đấy, quan điểm tính dục học hài hước, hơi thô lỗ nhưng không phải hoàn toàn vô lý của Bình. Bởi vậy, chàng thích trò chuyện với Bình, những vấn đề, các khái niệm thật nghiêm túc của các danh nhân đều được Bình diễn giải một cách rất đời, cực kì thoải mái.


Tuy vậy, khi chàng hỏi tới tình hình xung đột giữa hai phe Võ – Hoàng, anh cũng thở dài:


– Bị Mỹ và bọn tướng tá lợi dụng cả thôi. Rồi cậu coi, tới Công giáo cũng phân đôi. Phật giáo thì rồi: Tâm Châu, Trí Quang, Thiện Minh, Mai Thọ Truyền, Thiện Hoa… cũng chia nhóm, không thống nhất. Đại Việt bây giờ 4 hệ phái, nào Đảng Việt quan lại của Đặng Văn Sung, Bùi Diễm, Đại Việt Nam kỳ của Nguyễn Tôn Hoàn, Đại Việt cách mạng của Hà Thúc Ký. Quốc dân đảng thì quá loạn, nào Chấn Hưng, Chủ Lực, Vũ Hồng Khanh, Xuân Tùng, Kỳ bộ Trung Việt, đám miền Nam của Nguyễn Hòa Hiệp xưng là Đệ tam Sư đoàn, Chấn đen, Chấn trắng, Trần Văn Tuyên…


Với nhóm phái nào Mỹ cũng ngầm cho người tới hứa sẽ ủng hộ nên mỗi nhánh lại bí mật bắt tay thần phục một số tướng lãnh và chức sắc tôn giáo nhằm khi có chính phủ mới thì chờ chia ghế.


Ở đây, anh Hoàng, Diễn vì mặc cảm trí thức không đi đêm được với ai, chứ phía Võ thì thằng Thục nó đang bày mưu vận động với Nguyễn Chánh Thi để cho Thiếu tá Lê Khắc Lý, người Quảng Nam về làm tỉnh trưởng. Tụi nó sẽ dựa thế lực chính quyền mà ép anh em anh Hoàng dưới cơ sở. Tao có cảnh giác với mấy ảnh, nhưng chưa thấy mấy ảnh động đậy gì. Buồn hiu. Chuyện không phải của mình. Tao với mày bây giờ…, tao có chai Johny Walker 20 năm của thằng thuộc hạ nó mới cho. Thời buổi này, làm quan to thì ăn hối lộ lớn, tao làm nhỏ, uống bay vài chai rượu cũng được rồi. Chàng tửu lượng kém, nhưng cũng nhâm nhi chén anh chén chú với bạn tới say xỉn, mửa ra giữa nhà và ngủ vùi ở chỗ Bình tới sáng. Đó là lần say rượu duy nhất trong đời chàng.


Sau Tết, chàng loay hoay với tập thơ Mười năm của mình. Tội nghiệp Hướng Dương, trước khi lấy chồng ít lâu nàng đã thức nhiều đêm trắng chép tay làm hai bản cả mấy chục bài trên giấy trắng để đưa kiểm duyệt và in. Được hỏi, sao bận bịu làm hiệu trưởng một trường nữ học mà còn tự mình rước khổ vào thân, nàng chỉ mỉm cười:


– Em muốn làm một việc gì đó cho thầy. Nhất là em thích bài Mười năm quá, nó lung linh cái hình ảnh linh đinh của cỡ tuổi tụi em bây giờ.


Rồi nàng ngâm, giọng nàng u buồn nhưng vẫn trong vắt bay lên:


Mười năm đó, bao lần sông đổi nước,


Bãi dâu làng qua mấy lượt cát bồi.


Đêm trời đen bao sao lạ đổi ngôi


Màu tím hiện về chập chờn giấc ngủ.


Dạo ấy nàng trăng còn là thiếu nữ


Biếc xiêm y, đôi cánh trắng hiền từ


Và cánh hoa đèn chưa biết ưu tư.


Mười năm đó, đá tan rừng biển động


Lửa loạn ly đốt vèo bao giấc mộng


Dự ước huy hoàng của buổi mười lăm.


Mười năm qua, râu đã mọc trên cằm


Thương tích thời gian đã hằn trên trán


Mấy cuộc tình duyên: khóc, thương, hờn, giận


Bút mực nào kể hết chuyện con tim?


Chân lý sơn son mỏi bước đi tìm


Đường khấp khểnh lại trách thân mình lận đận.


Cô hàng xóm nhỏ rỡ ràng son phấn


Lên xe hoa một sáng rộn pháo hồng.


Nhưng rồi một đêm, súng nổ mịt mùng


Nàng quấn khăn tang, mắt đầm lệ khổ


Tay dắt con, áo phất phơ chiều gió


Nhân loại ơi bao giờ hết chia lìa?


Tôi chong đèn, thức trắng những đêm khuya


Nghe tiếng dế khóc bờ hoang bãi rậm


Trang sách giở, với tháng ngày ngùi ngậm


Tôi tiễn bao người đi tới nghĩa trang


Mới hay rằng lòng đất rộng thênh thang.


Chàng chưa nghe nàng ngâm thơ bao giờ, vậy mà hôm đó Hướng Dương như nàng tiên cá đi lạc trong cổ tích, hát rong bên bờ biển vắng, chơi vơi tra hỏi, mà khôn xiết thảm sầu. Chàng mê mộng trong một thế giới vừa loảng xoảng binh đao, vừa trống lạnh của tha ma, vừa huy hoàng những tòa lâu đài mà con người chỉ có thể tiếc nuối xa xăm.


Thấy mắt nàng ứa một dòng lệ nhỏ, chàng nói như trong mơ: Không phải anh, chính em, em mới đích thật là người nghệ sĩ làm ra bài thơ này. L’artiste est une seconde Nature, c’est toi! và chàng hôn lên đôi mắt đắm say đó. Nàng vội gạt ra một bên, khước từ. Họ cùng tỉnh thức để thấy rằng cả hai đã quá muộn để có thể thuộc về nhau, giữa cái bối cảnh xã hội bấy giờ. Đâu có dễ dàng gì những kẻ tâm đầu ý hợp có thể gặp nhau, sống bên nhau suốt đời. Chẳng thế, làm gì có một bài Tiết phụ hành của Trương Tịch mà chàng từng chép tặng nàng trong đó có hai câu cuối:


Hoàn quân minh châu song lệ thùy


Hận bất tương phùng vị giá thì.


Chàng cố dịch kéo dài ra, dài như nỗi than oán triền miên, khi cái ông Nguyệt Lão cắc cớ kia ít khi nào ban cho ta cái một nửa của mình tâm đắc:


                            Trả chàng này cặp minh châu


Mà đôi dòng lệ rầu rầu như mưa


Tiếc rằng chẳng gặp từ xưa


Những ngày hoa gấm em chưa có chồng.


Ngồi nghiêm chỉnh, nàng nói:


– Thầy không biết đó thôi, bài Mười năm này, trong tỉnh ta có bao nhiêu học sinh, tuổi từ mười sáu tới ba mươi thì ngần ấy người đều thuộc hết. Khỏi in cả tập ba chục bài, Thôi Hiệu có mỗi bài Hoàng Hạc lâu cũng đủ để hiện diện trong văn chương Trung Quốc rồi.


Chàng trìu mến:


– Cảm ơn em, nhưng chúng ta không còn ở thế kỉ thứ bảy đời Đường nữa. Hồi đó, người ta tắm gội, bận lễ phục để tiếp khách.


Chàng muốn nói thêm:


– Bây giờ, muốn chinh phục đối tượng thì nữ giới phải hở hang khêu gợi.


Nàng ân cần dặn:


– Nếu in tập Mười năm này, em đề nghị thầy nhờ anh Phạm Cung vẽ bìa một cái tranh nói lên được bước đi của thời gian.


Chàng đã làm vừa lòng nàng: Mười năm đã xuất hiện với hình bìa bé gái tóc búp bê làm nền một thiếu nữ tràn trề sức sống, ngực căng phồng trước bóng một cây cau xõa tóc đợi chờ, dưới một bầu trời đầy trăng sao, tinh tú luân lưu.


Khóa hai kì thi tú tài năm đó, chàng vào chấm thi tại trường Petrus Ký cùng với Huệ. Giờ rảnh, Huệ mượn chiếc xe máy Sach cũ, thồ chàng cùng thăm chơi các chính khách mà Huệ quen biết trước. Nhờ đó chàng biết thêm là các đảng phái Quốc gia chia năm xẻ bảy còn hơn những điều Bình nói trước đây.


Riêng Quốc dân đảng, ngoài số người cũ của Nhất Linh như Nguyễn Thành Vinh, Trương Khánh Tạo, Phạm Lợi, Vĩnh Lợi… còn có cánh Chủ lực của Lê Hưng, Chu Tử Kỳ, Nguyễn Tường Bá mà phần lớn là Bắc kỳ trẻ, cánh Nguyễn Hòa Hiệp đang chuẩn bị vận động nắm ghế tổng trưởng nội vụ gồm phần lớn người Nam, đám Nguyễn Văn Cử từng ném bom dinh Độc Lập năm 1961 thì thông qua ông Đỗ Mậu và Nguyễn Văn Lực kết thân với thầy Trí Quang làm nòng cốt cho đảng Phật xã đang thai nghén.


Kỳ dư, Vũ Hồng Khanh, Lê Ngọc Chấn đang kình chống nhau bên nào cũng tự cho rằng mình mới chính cống Quốc dân đảng, duy nhất xứng đáng nhân danh đó mà tham chính.


Luật sư Trần Văn Tuyên thì liên lạc với Cao đài mà ông từng quan hệ trước trong những năm bôn ba. Cánh Đại Việt của Phạm Thành Giang, Thái Vị Thủy thì lấy trường Phan Sào Nam ở Ngã bảy làm nơi tập họp, phần lớn họ là Phật giáo di cư nên họ quây quần xung quanh thầy Đức Nhuận, Chính thư ký Viện Tăng thống.


Đám Đại Việt quan lại thì đúng như tên dân dã gọi nó, gồm những chính khách chuyên làm quan. Trước đây, họ là lực lượng chính của nhóm trí thức họp ở khách sạn Caravelle này 11-11-1960 hoan nghênh đảo chính lật Diệm của Nguyễn Chánh Thi, có người như Nguyễn Tôn Hoàn, Phan Huy Quát, Bùi Tường Huân, Nghiêm Xuân Hồng đã kiếm được ghế Phó thủ tướng, Tổng trưởng càng khiến cho số chính khách đang còn mỏi mòn chờ đợi đến phiên mình, lố nhố bên ngoài nóng ruột.


Chiều Chủ nhật rỗi việc, Huệ rủ chàng đến nhà Vũ Hồng Khanh chơi. Chiếc xe cũ lịch xịch rời sân trường lên đường Lê Văn Duyệt, Hòa Hưng, vào một cửa hiệu nhỏ bán trà Tàu. Ông tiếp hai người bạn trẻ rất niềm nở. Được Huệ hỏi về tình hình thế giới và trong nước, ông giáo Giản thao thao bất tuyệt giảng bài: nào Mỹ phải giúp miền Nam chống Cộng, nào phải thực hiện dân chủ ra sao và bề gì cái Quốc dân đảng truyền thống của ông cũng là chính nghĩa nhất và rồi đây sẽ có vai trò cứu nước, rằng những anh em trẻ như đám Huệ… phải có lý tưởng.


Chàng buồn ngủ, nhưng phải giữ lễ, tự đánh thức mình bằng cách bưng chung trà xin phép chủ nhân hớp một hớp cho tỉnh, ủa sao không có mùi vị gì thế này?


Đang lúc ông say sưa hùng biện, bỗng có cơn gió mạnh tràn vào khung cửa lay động mấy thùng trà to để trên cao chót vót ở phía nhà trong. Rồi đánh sầm một cái, một chiếc rơi xuống. Nhà lãnh tụ dày dạn phong trần nín thít, đôi mắt ông hiện ra vẻ lo lắng rõ rệt. Ông cất cao giọng hỏi:


– Có đứa nào trong ấy không?


Một tiếng thưa thật to đáp lại:


Dạ có, thùng trà rơi. Nhưng không sao ạ.


Võ Hồng Khanh yên tâm, lấy lại bình tĩnh, tiếp tục thuyết giáo về Tam dân Chủ nghĩa, Ngũ quyền Hiến pháp mà cả đời ông thờ phụng. Đã cảm thấy kiến bò bụng, Huệ cáo từ ra về. Trên đường Huệ nói với chàng:


Ông đã ngán cho chính khách Quốc gia chưa? Đất nước hưng vong không đáng quan tâm bằng chiếc thùng trà bị rơi, phải lắng nghe xem nó có rè bể không, thực dụng mà. Lâu nay tui với ông đi làm chương trình công tác hè (summer program) giúp đỡ đồng bào nạn nhân chiến cuộc, cũng có đứa nó kết mình tội ủng hộ Việt cộng đấy. Tôi được tiếng là Quốc dân đảng từ lâu, chứ ông thì mỗi thầy Diễn không đủ bao che cho ông cái cốt cách ăn mắm kho quẹt, nằm giường tre, nhín tiền cho học trò nghèo kiểu anh giáo hò lơ thời chín năm đâu. Liệu hồn đấy.


Quả vậy, suốt hè qua, hai đứa quyên tiền và xin thuốc men, quần áo cũ, rủ một số học trò tâm phúc ban ngày lên các vùng xôi đậu phân phát cho đồng bào nghèo. Đã vậy, chàng còn liên lạc với Tỉnh hội Phật giáo, sinh hoạt trong gia đình Phật tử, truyền bá những tài liệu chống Nguyễn Khánh, bị An ninh Quân đội thuộc tiểu khu nhất nhất báo cáo ra vùng.


Đầu mối vẫn là ông đệ tử tên Sáu hành tung có vẻ bí mật mà chàng gặp không lâu trước đảo chính Diệm 1963 ở chùa sư thầy Giải Hậu, thông qua vợ chồng một người học sinh cũ. Để che mắt những kẻ tò mò, chàng rủ Huệ vào trung tâm Cao đài ở cầu Bầu Giang làm giúp Lê Quang Sách mấy dãy nhà, bằng vật tư và tiền của công tác hè. Nhân đó chàng làm quen được với tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ từ Quảng Nam[2] vào và được biết ngoài đó nhánh truyền giáo của Lương Vĩnh Thuật đang kết với Quốc dân đảng kỳ bộ của Trần Thích, Phan Thiệp, Lê Đình Duyên lập chiến khu chống Cộng.


Cũng năm ấy, kì thi tú tài khóa một, chàng vào chấm ở Qui Nhơn, cùng đi với cụ tú, vốn là thầy học của chàng về môn chữ Nho hồi xưa. Cả đám đến muộn, phòng trọ hết, phải nhét vào một khách sạn tồi tàn ngoài Xóm Mới. Huỳnh Ngọc Anh, nhà mô phạm bất đắc dĩ, đã nổi máu hoang đàng thách thức với anh em là y sẽ cù rũ được cụ tú hưởng thú thanh lâu cho coi. Theo kế của y, chàng mượn cớ đi thăm bà con, nhường phòng trống cho hai người. Khuya về, chàng hỏi: Kết quả ra sao? Anh nói: Chỉ có mày mới thần tượng hóa mấy ông nhà nho, chứ tao thì chẳng cần trắc nghiệm, cũng biết cụ tú nhà mình năm nay mới sáu ba, gân cốt còn cứng lắm, tao còn thua đó. Con nhỏ hồi hôm nói, nó chịu ổng lắm.


Trời Phật ơi, ai mà tin được cái miệng ông Huỳnh Ngọc Anh này, nhưng thầy đồ của chàng thì cũng chỉ là ông thầy đồ của mọi thời đại. Chàng đã từng kể cho học trò mình nghe, câu chuyện như vầy:


Hồi xưa có một thầy đồ học rộng như biển, đạo đức còn hơn đức vạn thế sư biểu. Ông đến ngồi dạy học tại nhà ông phú hộ nọ nổi tiếng trọng nghĩa khinh tài, hai bên rất là tương đắc. Vậy là mấy tháng sau, trong nhà xảy ra việc mất đâu chục quan tiền. Phú hộ nghi cho thầy đồ. Thầy đồ tức khí cự lại. Hai bên kiện lên cửa quan. Quan nghe câu chuyện, sai nọc phú hộ xuống đánh cho mười roi. Phú hộ nhất thiết kêu oan, rằng mình đã bị mất tiền, lại còn bị đòn. Quan nói: Anh đã chọn người giáo huấn cho con cái mình lễ nghĩa Thánh hiền, mà lại còn nghi người đó ăn cắp thì xử như vậy là nhẹ, lẽ ra phải hai mươi roi mới đáng.


Gia hình phú hộ xong, quan kêu tới thầy đồ. Lại bảo lính lệ nọc đánh mười roi. Thầy đồ thống thiết kêu, xin được biết tại sao. Quan đáp: Nhà ngươi đại diện cho Thánh hiền. Lúc mới đến ở nhà phú hộ ắt là ngươi được trọng vọng lắm. Thế mà chỉ được ít lâu, trong nhà có mất mát, người ta tới nghi nhà ngươi ăn trộm, ngươi đã hành xử ra sao mà tới nỗi vậy? Chẳng đáng đánh đòn sao?


Tới Đức Khổng Tử mà còn mê nàng Nam Tử nước Vệ thì trách gì thầy tú của chàng, vui vẻ một chút cũng chẳng sao, miễn là phải kin kín một chút. Ước gì cuộc đời luôn thoải mái cho mọi người, chàng nghĩ vậy.


Chấm thi kì hai về, mây mùa thu đã sang, ngày khai trường sắp tới thì chàng và anh Sáu nhận được giấy phải rời Quảng Ngãi. Anh Sáu ra Hội An, chàng vào Qui Nhơn, mọi việc xáo trộn hết.


Hóa ra bao đêm chàng lên chùa bàn bạc vận động đồng bào biểu tình, tuyệt thực phản đối cái gọi là Hội đồng Quân đội cách mạng của Nguyễn Khánh, nhất cử nhất động của chàng đều được vị Đại đức trên đó báo cáo với Tỉnh trưởng. Nhận được giấy, anh Sáu mang xuống nhà hỏi chàng:


– Chú tính sao?


Chàng đáp:


– Thì đi chứ còn làm gì được nữa.


Anh nhăn nhó:


– Sao chú tiêu cực thế. Nội các của Nguyễn Khánh có Bùi Tường Huân, Đại Việt, cánh Phật giáo làm Bộ trưởng Giáo dục. Anh Lễ, con cụ bá Đạt hồi học Sĩ quan Thủ Đức kết bạn với anh Thúy nay đang làm thư ký riêng cho ông Huân. Lễ có hứa với tôi là anh ấy trong chuyến công tác sắp tới vô Sài Gòn nhất định sẽ nhờ Thúy trình ông tổng trưởng thay đổi quyết định thuyên chuyển trả thù ngang xương này.


Chàng không muốn vậy, bèn thưa:


– Mình đã chống Khánh mà Huân chỉ là chân tay nhất thời của Khánh. Ta đã có gan đánh nhau với chủ, lại đi xin xỏ đầy tớ của người đó. Chắc gì đầy tớ dám cho, chỉ khiến người ta nghĩ mình đối lập cuội mà thôi.


Thấy anh Sáu không vui, chàng rất áy náy. Xong, chàng về nhà lo thu xếp quần áo sách vở tính đi xe lửa vào Qui Nhơn ngay. Về sống giữa lòng quê hương Quảng Ngãi đã tám năm, quen đi tiếng xe nước kẽo kẹt bên bờ sông Trà Khúc, và lâu lâu lại về đắm mình trong cơn gió mát của ruộng đồng Thi Phổ. Bao nhiêu bà con thân bằng quyến thuộc, mái nhà tranh bên con lộ Bắc Nam, những nửa khuya mùa đông không mưa tạnh vắng, có cơn lốc nhỏ chơi trò quay vòng tròn với những chiếc lá úa khô vàng.


Những người học trò cũ được tin tới thăm chật nhà, kẻ tính kiến nghị xin thầy ở lại, người đề nghị một phản ứng mạnh mẽ hơn, tất cả đều bị chàng ngăn lại:


– Các em không nhận là nếu muốn hữu ích thì ở đâu cũng được sao? Bất công đầy rẫy ở khắp đất nước ta, đâu chỉ cái xứ Quảng này? Mà đâu chỉ mình thầy mới có chút đốm lửa lương tâm? Đồng bào lao khổ bị áp bức của chúng ta đông đảo vô cùng. Các em hãy vui lên.


Chàng nhìn Hướng Dương đang ưu sầu ánh mắt rưng rưng:


– Nếu ta luôn ở trong nhau thì ta sẽ có nhau mãi mãi dù cho góc bể chân trời xa cách.


Chàng lục trong túi xách lấy ra một chiếc áo len đưa cho mẹ:


– Cái pull’ over này má thằng Quới đan cho con hồi ở Huế, dày lắm. Mẹ bận thường trong người mùa này mẹ nhé.


Mẹ không nói gì, bỏ đi tìm ống ngoáy ăn trầu, lẳng lặng đẩy nỗi buồn vào lòng. Anh Cả nói:


– Từ ngày ông ngoại mất, bao giờ mẹ vẫn vậy.


 Mẹ nhớ lời ông dạy: Hãy giữ gìn khí sắc khi ở với người trong nhà, câu danh ngôn còn dài.


Chàng đi xe lửa, tàu qua cầu sông Thoa, chậm lại vì cây cầu mới bị mìn cách đây hơn tuần, chàng thoắt nhớ chuyện mười hai năm trước. Hồi đó Nhụy mới đi lấy chồng, Đỗ Văn, người bạn học hồi nhỏ đang đi bộ đội về thăm nhà hay chuyện, muốn giúp chàng khuây khỏa bằng cách giới thiệu người em gái họ của mình. Và chàng đã gặp Cúc, tên cô gái, một đêm trăng dưới chân cầu này. Mái tóc nàng dài, như có mùi hương thơm. Bàn tay nàng chai sần vì phải bỏ học ở nhà cấy gặt. Nhưng cuộc tình dưới ánh trăng mau chóng tan đi: Cúc có bà con với Nhụy. Nghe điều đó không hiểu sao lòng chàng tê điếng. Từ đấy họ không gặp nhau nữa, chắc là bây giờ Cúc đã tay bồng tay mang rồi.


Hỡi cây cầu sông Thoa, như bao cây cầu khác trên thế gian, luôn nhìn nước chảy dưới chân:


Sous le pont de mirabeau coule la Seine


Et ns amour


Faut il qu’il m’en souvienne


như lời thơ Apollinaire.


Nhưng chưa hết. Lại cây cầu Trà Câu nữa. Đời người, ai lại không qua lắm đồi núi sông hồ huống chi là chàng trai quê nghèo Thi Phổ may mắn có chút chữ nghĩa, mơ bao nhiêu chuyện, nói như lời nhà thơ Minh Đường: Đầu thai quên kiếm mang về trần mà luôn luôn vướng vào vòng tình lụy. Đây là rặng tre quạ kêu, nơi có lần chàng xuống chuyến xe goòng, thả bộ về thăm nàng Nhụy, nàng Nhụy của những cành khế non trong vườn xưa lấm tấm hoa thời thơ ấu, của những bông ngọc anh (magnolia) trắng tuyết ngát hương.


Qua vùng đất cũ, lòng càng nhớ em, bây giờ


Em ở bên kia vùng giới tuyến,


Kỷ niệm còn gì một thuở niên hoa?


Rồi tới Bồng Sơn, dừa xanh ngàn trùng xõa tóc bên bờ Lại Giang mà có thời Ủy ban miền Nam Trung bộ đóng ở đây, các cụ Lê Đình Thám, Bùi Đặng Độ, Hồ Hưng giờ ở đâu, sao tiếng chân chạy bộ của các cụ sau giờ tan sở buổi chiều như vẫn còn xoắn lên một chút bụi mù trong tâm khảm chàng?


Điểm cuối là College Qui Nhon, nay mang tên Trung học Cường Để.


Hiệu trưởng ở đó, Tôn Thất Ngạc, vừa người Huế, vừa hoàng tộc, đã sớm nghe tin chàng vốn là tay xách động các cuộc biểu tình chống chính phủ tại Quảng Ngãi. Khôn ngoan tiếp chàng rất nồng hậu, ông gọi tùy phái pha trà hảo hạng, hỏi thăm vợ con chàng và nhất là anh Sáu: Anh ấy giỏi lắm, dạy Pháp văn cả cái miền Nam này vị tất đã ai bằng. Anh ấy đi Hội An à, ông Hoàng Trung có phước thật. Nhưng đến cái việc chính là chàng vô nhậm chức ở đây, thì ông khựng lại, cũng cực kì khéo léo:


– Tình thật mà nói với anh nhé, ở đây Việt văn quá thừa, mà nếu anh chán cảnh Quảng Ngãi, cứ về tạm đó niên khóa nữa, sang năm xin vào thẳng Sài Gòn, có hơn không. Tôi ghi vào Sự vụ lệnh và viết thư giải thích cho hiệu trưởng Nguyễn Khoa Phước đây.


Ông còn tử tế mời chàng ghé nhà dùng cơm và đàm đạo về Phật giáo. Sao cũng được.


Hoàng khủng độ đầu ngộ hoàng khủng.


Linh lình dương lý thánh linh đình.


Về, nó lại không chịu thì ngồi không ăn lương, quá nữa là ra ngoài dạy tư, chết gì ai mà sợ? Trở lại trường xưa, mọi việc êm xuôi, Phước có em rể làm Tổng trưởng Giáo dục, tự thất có thế, không ngán ngại lắm về việc nhận lại chàng.


Cuối năm đó là vụ tàu Madox, rồi quân Mỹ đổ bộ Chu Lai. Ông Khánh lập Hiến chương Vũng Tàu. Biểu tình, tự thiêu, bạo động. Phật tử bị bắt. Công giáo và Phật giáo xung đột nhau tại Thanh Bồ, Đức Lợi, Đà Nẵng, Qui Nhơn, máu chảy, nhà cháy.


Tại Sài Gòn, sinh viên tụ tập hàng vạn phản đối ầm ầm như sóng thần bão lửa. Nguyễn Khánh làm đủ trò hề, cạo râu, ra tiếp sinh viên, cũng đả đảo độc tài quân phiệt, loan báo thu hồi Hiến chương Vũng Tàu, thành lập Thượng Hội đồng Quốc gia và cử Trần Văn Hương làm thủ tướng.


Lại biểu tình, tự thiêu, bạo động… báo chí của các phe phái tố cáo lẫn nhau, dao rựa, gậy gộc, kìm búa, mã tấu, thậm chí súng, lựu đạn của các khu định cư được vác ra, hàng hàng lớp lớp thị uy trên các nẻo đường. Tiếng gươm giáo loảng xoảng giữa đô thị, tiếng đạn lạc, tiếng còi hụ của xe cứu thương xảy ra từng chặp một, giữa lòng phố xá, có bà già gần tám mươi, có em bé lên năm mù chữ, cả đời chưa ra khỏi ngõ, cũng xuống đường hoan hô đả đảo, đòi nhân quyền, dân sinh, dân chủ.


Khi cái đòn dùng gánh phân chuồng để bón khoai đậu từ nhà bếp của người nông dân Hố Nai động đậy, được vác lên vai, chạy xộc về Sài Gòn diễu hành trên đường Cách mạng để tiến đến Tổng tham mưu thì nó phải là kết quả của bao toan tính của các nhà chiến lược Oasinhtơn hoa lệ hay Maxcơva với điện Cẩm Linh nghiêm thâm, hùng vĩ và huyền bí. Thời cuộc đó làm ta quên đi những sự kiện khác quan hệ tới vận mạng dân tộc mà chẳng ai để ý: hàng chục vạn quân Mỹ, hàng triệu tấn vũ khí đã yên ổn được đưa vào Việt Nam. Thời cuộc cũng làm cho những cuộc lên đường xuống phố phần nào trở thành tầm thường, khiến một số những trí thức đâm ra hướng nội.


Hôm chấm thi ở Qui Nhơn, vừa ra khỏi trường, chàng thả bộ bát phố một chút cho đỡ buồn chân thì gặp ngay một đoàn người ô hợp, ăn mặc lam lũ đủ màu, đang hò hét giơ cao dao rựa, nộ khí xông tận trời cao.


Chàng sợ hãi nép mình vào chỗ vắng thì bỗng có ai ôm chầm lấy mình, hoảng hốt nhìn lại thì ra Hoàng Thơ, cô nữ sinh đang thi lại lần thứ ba bằng Tú tài 1, cháu ruột anh Hoàng - Quốc dân đảng và cả anh Trần Tế Hanh, nhà thơ nổi tiếng xứ Quảng đang hoạt động văn học nghệ thuật ngoài Bắc. Mùi thơm dịu dàng của da thịt cô gái trẻ đầy ma lực. Thơ hỏi:


– Lần này em sao thầy?


Chàng mỉm cười mau miệng báo tin vui: – Đã coi kĩ, đỗ rồi.


Sẵn tay, Thơ sung sướng siết chặt lấy chàng, đôi mắt mở to, đen lánh tràn đầy hạnh phúc. Còn chàng, tự soi mình vào đấy, thấy bóng mình cùng với một mảng mây trời bay trên không gian ngút ngàn. Chàng hôn vào đôi mắt đẹp. Tất cả những hùng hổ đáng sợ mới đây của thời cuộc chợt tan biến đi hết.


Cộng với những sôi sục của lòng người đưa tới đốt phá nhà cửa, giết chóc nhau xảy ra khắp toàn miền Nam, ông trời cũng đâm ra cuồng nộ với quê hương miền Trung của chàng. Mưa bão liên miên. Sóng thần ập vào những xóm nghèo An Chuẩn, thủy triều dìm tất cả trong làn nước sủi bọt trắng xóa rồi cuốn hết ra bể năm vạn nhà cửa, một vạn sinh mạng dân quê và cơ man là trâu bò, thóc lúa, gà lợn.


Anh Sáu đã đùm túm vợ con đi Hội An. Anh Cả đã cùng Ninh, đứa con đầu lòng hăm sáu tuổi của anh, và cái tiểu gia đình của nó ra ở gần thị xã bên Hòn đá Chẻ dưới cầu Bầu Giang. Người chị dâu đáng thương, không biết chữ của chàng, hàng ngày lại trều trào nước miếng nhai cơm với cá nục kho sú cho thằng cháu nội như gần ba chục năm trước chị đã làm.


Lịch sử được nói là không lặp lại, nhưng cuộc đời luôn luôn tái diễn. Có điều, vẫn mù chữ như xưa, nhưng giờ đây chị đã vặn quạt máy và biết bật radio nghe đài BBC mỗi sáu giờ ba mươi chiều để nghe tin tức chiến sự. Việc duy nhất chị quan tâm là thằng Ninh đã bị bắt lính, làm hạ sĩ quan cần vụ cho vị đại tá Trung đoàn trưởng 51 biệt lập, suốt ngày chỉ chuyên việc lau bàn ghế và rót nước mời khách.


Em chàng, chú Út đã đổi từ Phú Yên về dạy trong tỉnh, tận những Đức Phổ. Chú thuê nhà ở Ngã năm, một nơi nổi tiếng khắp miền Trung cùng với một doanh nhân, cũng không biết chữ như chị Cả, nhưng nấu bún bò Huế thì không chê vào đâu được: bún bò bà Năm, Ngã năm thị xã Quảng Ngãi, mà mỗi sáng công chức, binh lính, học trò, con buôn, tấp nập đến điểm tâm để cùng kháo nhau chuyện thời sự.


Người ta nói Phật giáo ầm ĩ phản đối ông Trần Văn Hương vì thầy Tâm Châu đòi chia mấy ghế bộ trưởng trong nội các Khánh mà bị ông gay gắt từ chối. Ông lại còn dại mồm gọi những người biểu tình là lũ lưu manh cạo đầu rồi mặc áo tăng ni… và… đã làm những trò khỉ để vô giựt đồ bán chợ Tết.


Cái giọng ông đọc thông cáo cứ ngắt hai chữ một, thật buồn cười. Ông còn cứng rắn tuyên bố sẽ đánh đòn sinh viên biểu tình.


Rốt cuộc, chỉ mấy hôm trước tết Ất tỵ, ông nhà giáo Hương - từng nổi tiếng với câu thơ lúc ngồi tù thời Ngô: Ngồi buồn gãi háng dái lăn tăn. Ông là thần tượng của cánh Liên Trường bấy giờ, bị buộc phải giải nhiệm chức Thủ tướng.


Còn cái anh chàng Hạm gốc giáo hò lơ nhỏ con, đen đủi và gầy rộc suốt đời long đong trên chiếc xe đạp của chúng ta, nếu chẳng có chút tài làm thơ và chút lòng, thì có cho không cũng chẳng ai màng thì bấy giờ khá đắt giá: sáng dạy, chiều dạy, tối hội họp, khi là thành viên Hội đồng Nhân dân Cứu quốc với những tài liệu được nhóm bác sĩ Lê Khắc Quyến và giáo sư Lê Tuyên ở Huế chủ trương và phát hành, chửi nhà cầm quyền quân phiệt rất đã, khi là Trưởng ban Tu thư của Gia đình Phật tử điều động người đi biểu tình, hội thảo lăng xăng. Có bổn đạo, có học trò, có ánh mắt nụ cười, có cả những bữa chè khuya, mưa bay thấm áo. Cuộc đời chẳng đẹp sao, khi tự an trú mình trong những hoạt động thực chất chưa chắc đã có ích nhưng theo đúng ý ưng như cái triết lý kì dị của anh Phạm Viết Tùng: Vivre, c’est vivre avec les autres[3], mày phải nhớ như vậy.


Tết Ất tỵ, hai bên cả nhà cầm quyền và quần chúng đều mệt nhoài trong cuộc quần thảo lẫn nhau. Nên chẳng cần hội đạm, tuyên bố gì ráo mà đương nhiên hưu chiến, ai cũng thấy mình thắng:


Phật giáo thì đã buộc được ông Hương từ chức như yêu cầu, ông Khánh thì cho ra được cái quái thai tam đầu chế Khánh – Minh – Sửu mà mình còn quyền nhiếp Thủ tướng.


Vậy thì tha hồ: Thịt mỡ dưa hành, câu đối đỏ. Cây nêu tràng pháo, bánh chưng xanh, cái Tết cuối cùng của tiểu gia đình nhà chàng với hai vợ chồng, bốn con, ba trai, một gái, ở quê nhà. Thằng Văn đã lên lớp nhì tiểu học ở trường Hướng Dương. Nó theo cô giáo sinh hoạt đội Oanh vũ của gia đình Phật tử chùa thầy Giải Hậu. Thời buổi Phật giáo lên chân, đứa con nít cũng hùa theo. Nhưng khi dân chúng tạm ngừng đấu tranh, thì phe tướng tá lại bùng lên thanh toán lẫn nhau: chỉ trong vòng vài tháng, hai cuộc đảo chính xảy ra.


Trước tiên, một ông tên Dương Văn Đức nổi tiếng khùng khùng, có bà vợ người Đức da trắng, tóc nâu. Sau khi nốc hết một chai Wishky, ông bốc đồng ùn ùn kéo quân, có cả thiết giác xa yểm trợ từ Mỹ Tho lên, tuyên bố tính sổ ông Khánh. May sao, đám đệ tử của Khánh cũng đã kịp thời về cứu giá.


Chỉ mấy tuần sau, thì lại ông tướng thuộc đảng Đại Việt, tên Lâm Văn Phát thấy mình cũng cách mạng như ai, bèn điều binh về Sài Gòn để cách cái mạng của ông Khánh. Ông Khánh có bà vợ là Phật tử sùng tín, hay đến Xá Lợi lễ bái nên Trời Phật cũng ngó nghĩ, giữa bấy nhiêu lửa đạn mà đức ông chồng bà vẫn được ơn trên phù hộ an lành. Ông tạ âm Tam bảo bằng cách cạo trụi chòm râu duy nhất mà bình sinh ông cưng nuôi dưới cằm. Vậy mà cái bộ mặt nhẵn nhụi của ông lại còn có vẻ khôi hài hơn trước, kể cũng lạ.


Chỉ trong vòng vài tháng mà đảo chính lên xuống mấy lần, tình hình xáo trộn quá, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu phải tham khảo Khánh và Thượng hội đồng, mời bác sĩ Phan Huy Quát lập chính phủ. Ông này thân Phật giáo. Thế là, những thanh niên lực lưỡng, những bà già trầu từ các nhà thờ Xóm Mới, Gò Vấp, Hố Nai lại gậy gộc, dao phay xồng xộc kéo đến vây phủ Thủ tướng, số 7 Thống Nhất (Lê Duẩn ngày nay) la hét phản đối, nằm vạ, tiêu tiểu ngay tại cổng, khai ngầm.


Tất cả chỉ để lót đường cho một lớp người mới được Ngũ giác đài tín nhiệm hơn, với cỡ tuổi trên dưới bốn mươi: Thiệu, Kỳ, Khiêm như báo chí hồi đó hay gọi dồn làm một thứ bè lũ, sống chết ăn chịu có nhau.


Cuối cùng ông Sửu về vườn, kì thực là về căn phố 636 Phan Đình Phùng quận 3 để nuôi giấc mơ trị thủy miền tây Nam kỳ mà ông nói là đã hoài bão từ nhỏ, khi còn đi học kỹ sư nông nghiệp. Linh hồn của đảo chính 1963, Đại tướng Dương Văn Minh làm Đại sứ lưu hành ở nước ngoài, chẳng hẹn được ngày về. Và ông Khánh, nhân vật đầy kịch tính nhất, lại có vẻ có tâm hồn nhất, khi cũng ra đi trong nước mắt, ông mang theo một lọ đất của quê hương.


Vào những giờ chót của tấn kịch đó, anh giáo hò lơ Thi Phổ của chúng ta đang lại chấm thi tú tài ở Qui Nhơn. Lần này, chàng đến trọ tại nhà người bạn thân trước học lớp với anh Mười, anh Hồ Dần, lớn hơn chàng những bốn tuổi. Sau đình chiến, họ cùng nhau đi thi lại tú tài II ở Huế. Dần sống chân chỉ hạt bột, đỗ cử nhân Luật được bổ làm Trưởng ty Lao động, gia đình ở ngay tại cơ quan, con cái đùm đề. Sau giờ làm việc công sở, anh chăm lo dạy thêm Toán cho thằng con trai mới vào năm đầu bậc trung học, thằng Ngọ, sinh 1954.


Một buổi chiều tĩnh lặng, cả hai đang cùng ngồi yên đọc báo. Dần gạt mục kỉnh sang một bên, giụi mắt ra dáng buồn rầu, hỏi bạn: Lâu nay ông có về Mộ Đức không?


– Có, mới tháng trước, tôi còn vào thăm Thiết Trường nữa.


Dần thở dài:


– Thiết Trường, Thiết Trường, mười lăm năm rồi. Tôi gặp bà xã ở đó. Ôi! Thời trai trẻ nay còn đâu! Bà Ba nấu cơm tháng cho chúng mình hồi đó, bây giờ còn không?


Chàng nhớ lại thời thơ ấu, ghẻ chốc đầy người, được bà Ba mà chàng kêu bằng cô thương như con, giặt giũ tắm rửa cho hàng ngày:


– Cô già thật nhanh sau khi anh Chi, con trai một đi tập kết. Nàng dâu không thuận với mẹ chồng bèn mang mấy đứa cháu nội bỏ cô trơ trọi mà vào Vũng Tàu. Tất cả cạo đầu đi tu dưới bóng Linh Sơn cổ tự. Chị Chi, nay là ni cô Phước An, nương tựa cửa thiền, nhưng hàng ngày vẫn lết ra ngoài chợ bán rau mà nuôi ba chú tiểu nhỏ vừa sớm hôm kinh kệ vừa học chữ. Vậy mà cũng có đứa đạo hiệu là Đại đức Thích Minh Tuấn vô được Phú Thọ, sắp ra kĩ sư.


Dần như mơ:


– Hồi đi dạy ở Mộ Đức, ở trọ nhà cô, chiều nào tụi mình cũng ra ngã ba trước nhà, ông thì ngó về Thi Phổ than cho mây trắng ngút ngàn, còn tôi trông xuống Quít Lâm nước loáng mênh mông. Nay tôi đã gần tứ thập nhị bất hoặc rồi.


Chàng nói:


– Dạo đó ông đã có vợ, chưa con. Tôi còn xêlibate, mang nàng Nhụy trong tim, nhưng nhìn cô nữ sinh nào cũng thấy đẹp. Rồi anh em ta lưu tán mỗi đứa một phương. Mỗi lần gặp nhau, tôi hay đọc mấy câu trong đoạn mở đầu Thủy hử đùa nhau:


Nhữ tại đông thời, ngã tại tây


Nhữ vô nam ấu, ngã vô thê.


(Hồi ngươi ở phía Đông, thì ta ở Tây, bấy giờ ngươi chưa có con trai, thì ta chưa vợ).


Tới đó, thì thằng bé con của Dần bật cái radio nhỏ. Sau một khúc quân nhạc, Đài Sài Gòn loan tin đám tướng tá tuyên bố nắm lại quyền hành với lí do phe dân sự bất lực, buộc họ phải họp Hội đồng Quân lực, giải tán Thượng Hội đồng, thay thế nó bằng cái gọi là Ủy ban lãnh đạo Quốc gia do chính Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch và cử Nội các chiến tranh với cái tên Ủy ban Hành pháp Trung ương do Nguyễn Cao Kỳ (Thủ tướng) làm Chủ tịch.


Đó là ngày 19-6-1965, Thiệu tuổi Giáp tý, gốc Đức Phổ, Quảng Ngãi, ông nội dời vào Phan Rang đã được vài đời. Kỳ người Sơn Tây, ở phố Chợ Hôm, Hà Nội, đi lính cho Pháp, bấy giờ là Thiếu tướng Tư lệnh Không quân Việt Nam Cộng hòa.


Nếu Khánh từng có bộ râu cằm dị hợm thì Kỳ nuôi bộ râu cá chốt quanh mép. Đúng thời điểm đó, quân Mỹ ùn ùn đổ bộ vào Chu Lai (Quảng Nam) và Dung Quất, vùng bờ biển giáp ranh Tam Kỳ và Quảng Ngãi. Mọi người, ai cũng sửng sốt đến ngơ ngác. Đây là một địa danh không mấy quen thuộc với lịch sử. Mấy năm trước, khi nghiên cứu về Đoàn Thị Điểm cho luận văn cao học của mình, chàng có nhờ một người bạn ở Paris chụp vi phim một cuốn sách cũ do nhà Lạc Thiện Đường, Thăng Long, in vào đầu thế kỉ XIX, trong đó có chuyện Hải Khẩu Linh Từ Lục kể việc Lê Thánh Tôn ngự giá thân chinh đi đánh Chiêm Thành năm 1471. Vua đã cho thủy quân đổ bộ vào Vũng Quít, thuộc duyên hải cực Bắc Quảng Ngãi ngày nay. Chàng đã thắc mắc không hiểu sao vị vua văn võ kiêm toàn đó lại chọn nơi này cho các chiến thuyền của mình đổ bộ miền đất lạ, mà không sợ những trận mưa tên tẩm thuốc độc và hùm beo rắn rết. Chàng đã mượn tiếng ra Tam Kỳ thăm một người bạn thân để quan sát địa hình, thì mới thấy bể Kỳ Hà quả là cảng nước sâu và trên bờ là bãi cát và đồi trọc, không cây cối, theo Tam Quốc Chí, tới Tào Tháo cũng không nghi là có thể phục binh.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info








[1] Big Minh: Tướng Minh Lớn, tức Dương Văn Minh.


 




[2] Hai cán bộ cao cấp của Đạo Cao đài ở miền Trung 1964-1974.




[3] Nghĩa là: Sống, sống với tha nhân.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 20.04.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 20.04.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 10.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 16.03.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 16.03.2018
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 18.01.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 20.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
xem thêm »