tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19386504
01.09.2014
Tư liệu
Hiệp ước Xô-Đức 1939 (tiếp & hết)

Từ đây, một số nhà nghiên cứu kết luận rằng Stalin coi nguyên nhân làm suy yếu hệ thống đế quốc là các cuộc chiến tranh được tiến hành theo kế hoạch nhằm mục đích chính trị của họ. Theo S. Z. Slutch, Stalin đã nhận thấy tham vọng của các nước đế quốc trong sự phát triển đối đầu trên trường quốc tế và coi đó là cơ sở thực tế để xác định lợi ích an ninh quốc gia của mình, đồng thời tìm cách làm cho thế giới tư bản phải "lùi một bước".[84]


Năm 1935, Stalin đã viết điện khẩn gửi Kaganovich:


    "Các cuộc tranh chấp ngày càng mạnh mẽ hơn giữa các thế lực tư bản độc quyền nhà nước có lợi hơn cho Liên Xô. Chúng ta có thể bán bánh mì cũng như nhiều thứ khác. Vì vậy họ có thể chiến đấu. <...> Chúng ta đang thuận lợi cho một cuộc chiến có nhiều khả năng kéo dài nhưng không thể chiến thắng một cách nhanh chóng."[85]


Những tư duy trên vẫn được Stalin thể hiện sau Chiến tranh thế giới thứ hai khi ông trao đổi với Georgi Dimitrov:


    "Chiến tranh giữa hai nhóm nước tư bản (nước tư bản giàu với nước tư bản nghèo) vì mục đích tranh giành thuộc địa, nguyên liệu thô, v.v... là để thống trị các vùng trên thế giới! Chúng ta nhớ rằng họ đã chiến đấu tốt và đã làm suy yếu lẫn nhau. Không xấu, nếu bàn tay của Đức phải rung động bởi tình hình của những nước tư bản giàu của nhất (đặc biệt là Anh). Hitler đã không hiểu và không muốn lay động, phá hoại hệ thống tư bản... Chúng ta cần phải linh hoạt, đẩy một bên chống một bên khác là cách tốt nhất... Vậy có gì là sai trái khi với thất bại của Ba Lan, chúng ta đã phát triển hệ thống xã hội chủ nghĩa trên lãnh thổ mới và dân cư mới?"[86]


Về vấn đề này, một số nhà sử học cho rằng Stalin đã thực sự tuân theo "luật chơi" mà ông nêu trong bài phát biểu của ông khi đánh giá các quan hệ với nước Anh, Pháp:


    "Thực chất, chính sách không can thiệp có thể được mô tả như sau: "Hãy để mọi quốc gia để bảo vệ bản thân chống xâm lược như họ muốn và làm thế nào để bên chúng tôi có thể kinh doanh, chúng tôi sẽ thương lượng với cả kẻ xâm lược lẫn nạn nhân của nó." Tuy nhiên, trên thực tế, đó là một chính sách buông thả cho sự xâm lược và làm cho chiến tranh bùng nổ. Và cũng do đó mà nó chuyển thành một cuộc chiến tranh thế giới. Chính sách không can thiệp đã phản bội lại ý muốn không can thiệp. Và ý muốn không can thiệp đã bị cuộc chiến tranh xâm lược làm dơ bẩn chính sách đó. Chính sách ấy đã đẩy tất cả các bên tham gia cuộc chiến sa lầy trong vùng bùn của chiến tranh rồi lặng lẽ khuyến khích, cung cấp cho họ những gì họ cần để làm suy yếu lẫn nhau. Và sau đó khi họ đã đủ yếu, người cầm chịch cuộc chơi mới bước lên sân khấu với sức mạnh đổi mới, tất nhiên là để nói chuyện "vì hòa bình" và để sai khiến người tham gia chiến tranh đã suy yếu làm theo các điều khoản của chính mình. Rẻ quá và tốt đẹp quá!"[78]


Cách nhìn của Stalin về "Vị thế của nhà nước Liên Xô"


Một số nhà nghiên cứu cho rằng Stalin, khi đưa ra đề nghị về một cuộc đấu tranh chung chống Hitler không hẳn xuất phát từ sự vô tư vì đề nghị đó thể hiện quyền lợi của Moskva. Họ dựa vào một số báo cáo, trực tiếp hay gián tiếp, lật lại vấn đề này của Stalin. Một trong các số báo Pravda (Sự thật) ra năm 1940 sau đây có thể xác định hành vi của Liên bang Xô viết trước khi ký hiệp ước:


    "Liên Xô đã tìm cách thực hiện nghĩa vụ quốc tế của mình ở biên giới phía tây của nước ta và thúc đẩy hòa bình, và Liên Xô bỏ qua những vấn đề này trong quan hệ ngoại giao với Anh-Pháp để tổ chức cuộc chiến tranh với sự tham gia của Liên bang Xô viết".[87].


Những điểm trên cũng thấy trong lời của Stalin với Georgi Dimitrov (ngày 7 tháng 9 năm 1939). điều này cho thấy rằng Stalin đã hy vọng có được sự "thanh toán" cho một liên minh với các nền dân chủ:


 


    "Chúng ta ưa thích một thỏa thuận với cái gọi là các nước dân chủ, và vì thế nên phải thương lượng. Tuy nhiên, Anh và Pháp muốn có chúng ta trở thành người làm thuê, và hơn thế nữa là người làm thuê không phải trả công! Chúng ta chắc chắn sẽ không thể là một người làm thuê, ngay cả với mức độ ít nhất mà không đạt được bất cứ điều gì."[88]


Quan điểm đương đại


Winston Churchill Thủ tướng Anh từ 1940 đến 1945


Không thể nói rằng những người Anh không ưa ai hơn ai - Hitler hay Stalin. Cả hai đều nhận thấy rằng điều này có thể chỉ là một giải pháp tạm thời, là những sự xoay xở linh hoạt bởi hoàn cảnh. Sự đối lập về nguyên tắc giữa hai đế quốc và hai hệ thống đã được tạm bỏ qua. Stalin không nghi ngại gì khi cho rằng Hitler là đối thủ ít nguy hiểm hơn cho Liên Xô sau nhiều năm chiến tranh chống lại các thế lực phương Tây. Còn Hitler thì lại tuân theo phương châm cố hữu của mình là "chủ nghĩa đơn phương". Trên thực tế, một thỏa thuận như vậy có thể là dấu hiệu báo trước sự thất bại nghiêm trọng của nền ngoại giao chính trị Anh và Pháp trong vài năm đó.


Liên bang Xô viết đã mong muốn thực hiện lợi ích quan trọng của của mình trong việc dịch chuyển đường biên giới đến các vị trí cực Tây càng gần quân đội Đức càng tốt. Bằng cách đó Liên Xô có thời gian để có thể tập hợp sức mạnh từ tất cả các khu vực trong đế chế khổng lồ của họ. Trong tâm trí sắt đá của người Nga vẫn còn vết thương nóng bỏng của thảm họa mà quân đội của họ phải chịu trong năm 1914, khi họ ồ ạt triển khai các cuộc tấn công vào quân Đức trong tình trạng trang bị của quân đội vẫn chưa hoàn bị. Và bây giờ, biên giới của họ đã xa hơn phía Tây, xa hơn so với cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Và họ đã bắt buộc phải dùng biện pháp đó để chiếm Pribaltic và phần phía Tây của Ba Lan trước khi quân Đức tấn công họ. Nếu chính sách của họ có phần lạnh lùng thì cũng dễ hiểu vì nó rất phù hợp với thực tế của tình hình.[89]


Adolf Hitler, Thủ lĩnh Đảng Quốc xã, Quốc trưởng của Đệ tam đế chế Đức


Với Hiệp ước này, từ quan điểm của người Nga cho thấy chúng ta đã gặp thuận lợi do họ không có khả năng tham gia vào bất kỳ một cuộc xung đột nào, kể cả một cuộc xung đột như vậy tại Romania![90]


Kẻ thù của chúng tôi được tính trên thực tế là Nga sau khi chúng tôi xâm chiếm Ba Lan. Kẻ thù đã không nghĩ ra quyết định của tôi. Kẻ thù của chúng tôi được lợi một ít. Tôi đã thấy điều đó trong Hiệp định Munich. Tôi tin rằng Stalin sẽ không bao giờ chấp nhận đề nghị của Anh. Chỉ có sự lạc quan thiếu thận trọng mới có thể nghĩ rằng Stalin rất ngớ ngẩn mà không nhận ra mục đích thực sự của họ. Người Nga đã không quan tâm đến việc duy trì các quan điểm của Litvinov về Ba Lan, và việc ông ta từ chức là một yếu tố quyết định. Sau đó, tôi ngay lập tức nhận ra rằng thái độ của Moskva đối với các cường quốc phương Tây đã thay đổi.


Tôi đã tiến hành các bước nhằm thay đổi mối quan hệ với Nga. Trong đó, đã thông qua các hiệp định về kinh tế để bắt đầu đàm phán chính trị. Ở giai đoạn cuối, chúng tôi đã nhận được từ người Nga đề nghị về việc ký một hiệp ước không xâm lược. Bốn ngày trước, tôi đã đi một bước đặc biệt dẫn đến một thực tế là hôm qua, người Nga đã tuyên bố sẵn sàng để ký tên vào hiệp ước. Tôi cũng đã đặt quan hệ cá nhân với Stalin. Đến ngày mai Ribbentrop sẽ ký hiệp ước. Bây giờ, Ba Lan đã ở vào vị trí trong tầm mắt của tôi... Một sự khởi đầu để làm tiêu vong quyền bá chủ của người Anh. Bây giờ, khi tôi đã có sự sắp xếp ngoại giao cần thiết, các binh sĩ đã ở trong trạng thái sẵn sàng.[91]


I. V. Stalin - Tổng Bí thư Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (b),từ năm 1941, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng dân uỷ Liên Xô.


Hiệp định không xâm lược đã có lợi cho Đức ở một mức độ nhất định.[92]


Một câu hỏi được đặt ra: làm thế nào lại có thể xảy ra mà Chính phủ Liên Xô đã đồng ý để ký kết một hiệp ước không xâm lược với những đối tác không thể tin cậy được như Hitler và Ribbentrop? Điều này có một phần sai lầm của của Chính phủ Liên Xô? Tất nhiên không! Hiệp ước không xâm lược Đức-Xô là một hiệp ước hòa bình giữa hai nước. Và chính phía Đức đã đề nghị trước với chúng ta hiệp ước đó trong năm 1939. Chính phủ Liên Xô có thể từ chối một đề nghị như vậy? Tôi nghĩ rằng nếu chỉ có lòng yêu nước mà không yêu hòa bình thì có thể từ chối một hiệp ước hòa bình với một nước láng giềng. Nếu người đứng đầu nhà nước mà làm như vậy thì thậm chí còn gần với quái vật Cannibals hơn cả Hitler và Ribbentrop. Và tất nhiên là không thể thiếu một trong những điều này: thỏa thuận hòa bình này không vi phạm hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đến toàn vẹn lãnh thổ, độc lập và danh dự cũng như sự yêu chuộng hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc trong Liên bang. Và mọi người đều biết, Hiệp ước không xâm lược giữa Đức và Liên Xô là một hiệp ước đúng đắn.[93]


Benito Mussolini, Thủ lĩnh Đảng Phát xít Ý, Thủ tướng Chính phủ Ý


Đối với các thỏa thuận với Nga, tôi hoàn toàn chấp nhận nó... Việc lập lại quan hệ hữu nghị giữa Đức và Nga là cần thiết để ngăn chặn sự bao vây của các nền dân chủ.[94]


V. M. Molotov, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng dân uỷ kiêm Bộ trưởng dân ủy Ngoại giao


Tầm quan trọng chủ yếu của Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau giữa Liên Xô và Đức trong thực tế là hai quốc gia lớn nhất châu Âu đã đồng ý chấm dứt sự thù địch, loại bỏ sự đe dọa của chiến tranh và cùng chung sống hòa bình. Do đó, các khu vực xung đột quân sự ở châu Âu có thể thu hẹp lại. Thậm chí nếu chúng tôi không thể tránh một cuộc xung đột quân sự ở châu Âu, thì quy mô của những hành động quân sự này cũng sẽ được hạn chế. Những nước không hài lòng với hiệp ước này là những nước muốn "đốt ngôi nhà chung" Châu Âu trong một cuộc chiến tranh, những người lập luận một cách đơn giản rằng ánh sáng hòa bình của một Châu Âu quý tộc chỉ nhìn thấy được trong sự bùng nổ các hoạt động quân sự.[95]


Thỏa thuận này có được sau thất bại của cuộc đàm phán Liên Xô-Anh-Pháp cho thấy rằng hiện nay, không thể quyết định vấn đề quan trọng của quan hệ quốc tế, đặc biệt là các vấn đề của Đông Âu, mà không có sự tham gia tích cực của Liên bang Xô viết, rằng bất kỳ nỗ lực để phá vỡ Liên Xô và giải quyết các vấn đề sau lưng Liên Xô sẽ chắc chắn kết thúc bằng sự thất bại. Hiệp ước không xâm lược Đức-Xô có nghĩa là thay đổi sự phát triển của châu Âu... Thỏa thuận này không những cho chúng ta loại trừ các mối đe dọa chiến tranh với Đức... mà nó sẽ cho chúng ta những cơ hội mới để phát triển các lực lượng vũ trang, củng cố vị trí của chúng ta và phát huy liên tục những ảnh hưởng của Liên Xô trong quan hệ quốc tế.[96]


Kurt von Tippelskirch, thượng tướng quân đội Đức Quốc xã, Giám đốc cơ quan tình báo của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Đức 1939


Một câu hỏi được đặt ra: có thể có một số chính trị gia không muốn sử dụng tất cả các ảnh hưởng của mình để ngăn chặn một thảm họa tương tự như Chiến tranh thế giới thứ nhất. Thực tế là Hitler muốn chiến tranh, ít nhất là chiến tranh khu vực. Nhưng ông sẽ không dễ dàng để đạt được mục tiêu đó, nếu không tìm thấy những đồng minh cần thiết và kẻ thù ở Liên Xô, Anh và Ba Lan. Điều quan trọng là thái độ của Liên Xô. Khi Hitler nhận được sử bảo đảm sự đồng tình với mình, ông ta thực sự tự tin rằng ông ta sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến chống các cường quốc phương Tây. Xã hội Liên bang Xô Viết cũng là một cơ sở lý luận thuyết phục cho phép Hitler xua tan nghi ngờ về các cố vấn quân sự của mình. Loại ý kiến thứ hai tin rằng rất khó để dự đoán trước những gì sẽ xảy ra trong phạm vi các hành động quân sự nếu họ đi xa hơn một cuộc xung đột khu vực. Và do đó sự mở rộng chiến tranh là không thể.[97]


William Shirer, sử gia người Mỹ, phóng viên tại Đức năm 1939


Pháp, cùng với Đức và Anh nhất trí để loại trừ Nga khỏi việc tham gia Hội nghị Munich năm 1938. Một vài tháng sau đó, các nền dân chủ phương Tây đã phải trả giá về việc đó. Ngày 3 tháng 10, bốn ngày sau Hội nghị Munich, Werner von Tippelskirch, tham tán Đại sứ quán Đức ở Moskva đã báo cáo về Berlin rằng Hội nghị Munich đã có những tác động tiêu cực đến chính sách của Liên Xô.


Ở London và Paris, người ta chỉ còn biết chua xót khóc than cho cuộc chơi tay đôi với Stalin. Trong nhiều năm những người Xô Viết ra sức hô hào hãy cảnh giác trước "con thú phát xít", kêu gọi tất cả các quốc gia yêu chuộc hòa bình hãy đoàn kết để ngăn chặn sự xâm lăng Đức quốc xã. Bây giờ ông ta đã trở thành đồng minh của nó. Kremlin có thể lập luận rằng, trên thực tế: Liên bang Xô viết đã, đang thực hiện những gì mà chính nước Anh và nước Pháp đã làm một năm trước đây ở Munich. Các nước nhỏ phải trả giá cho chúng ta một thời gian nghỉ ngơi, yên bình, tái vũ trang để đối đầu với Đức. Nếu Chamberlain hành động một cách công bằng và danh dự để xoa dịu Hitler mà không dâng Tiệp Khắc cho Hitler trong năm 1938 thì làm sao trách được Stalin đã không thể cư xử một cách được coi là không lương thiện khi một năm sau, Hitler phá hoại hòa bình bằng cách xâm lược Ba Lan mà phương Tây vẫn từ chối sự trợ giúp của của Liên Xô?


Sự hoài nghi về thỏa thuận bí mật giữa Stalin và Hitler (vành đai Đông Âu) chỉ được xác nhận tại Berlin và Moskva. Tuy nhiên, thế giới sẽ sớm học được tất cả các bài học qua các bước đi mà người Nga đã đưa ra, và thậm chí sau đó chủ nghĩa phát xít đã tấn công trên toàn thế giới.


Lịch sử sự công bố Hiệp ước


Những thông tin đầu tiên về sự tồn tại của nghị định thư bí mật


Hiệp ước đã được công bố ngay sau khi ký kết, và các thông tin về nghị định thư bổ sung đã được giữ bí mật. Tuy nhiên, nội dung của nó đã bị giới ngoại giao tiết lộ gần như ngay lập tức. Sáng ngày 24 tháng 8, nhà ngoại giao Đức Hans von Hervart thông báo cho đồng nghiệp người Mỹ của ông là Charles Bohlen đầy đủ nội dung của nghị định thư bí mật.[98] Những điều khoản thỏa thuận giữa Liên Xô và Đức còn xuất hiện trong một thứ được gọi là "Bài phát biểu của tại một cuộc họp Bộ Chính trị ngày 19 tháng 8 năm 1939". Tài liệu này được cơ quan thông tấn Havas của Pháp đưa tin vào tháng 11 năm đó. Một số nhà nghiên cứu xem nó như một tài liệu chính gốc,[99] trong khi nhiều người khác không thừa nhận nó.[100][101] Tuy nhiên, cho đến cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, những tài liệu này vẫn được lợi dụng, mặc dù nó đã được xác nhận rõ ràng và đầy đủ hơn nữa.


Ở phương Tây


Năm 1945, các văn bản gốc bằng tiếng Đức của nghị định thư bổ sung đã được Quân đội Liên Xô thu giữ và chuyển về Moskva, nhưng bản chụp của nó trên microfilm vẫn được bảo quản trong kho lưu trữ tài liệu của Bộ ngoại giao của Đức. Tháng 5 năm 1945, thư ký Bộ Ngoại giao Đức Karl von Loesch đã đưa bản sao này cho viên trung tá người Anh R. S. Thompson. Trong bài phát biểu công khai về nghị định thư bí mật lần đầu tiên được nêu ra tại Tòa án Nürnberg, bị cáo Karl von Loesch đã thừa nhận đã thực hiện sao chép một thoả thuận bí mật về quốc phòng. Ông này cũng cho biết Ribbentrop, và sau đó là Hess đã nhận một bản sao của bản sao và cố gắng để đọc nó. Nhưng ông ta đã từ chối cho biết nguồn gốc của tài liệu tại tòa án. Sau này trong hồi ký của mình, ông này lại nói rằng mình đã nhận được văn bản từ tình báo Mỹ. Một vài tháng sau đó, ông ta định công bố nó trên tờ tạp chí Mỹ "St Louis Post công báo", nhưng tạp chí không chấp nhận điều này. Những cũng chính từ tạp chí đó mà thông tin này gây được tiếng vang rộng rãi vào năm 1948 khi nó được xuất bản trong một bộ sưu tập của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ: "Quan hệ Đức Quốc xã-Liên Xô, 1939-1941".[102][103] Ngoài ra, trong bộ sưu tập còn có các thứ ngoại giao giữa Đức với Liên Xô bằng tiếng Đức, trong đó có các nội dung liên quan trực tiếp đến sự thỏa thuận bí mật.[104] Trên thực tế, các tài liệu này đã giúp cho một số nhà nghiên cứu có cơ sở để so sánh các chính sách của Liên Xô với các chính sách của Đức Quốc xã với đánh giá Liên Xô đã đồng lõa cùng Đế chế thứ ba trong sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai. Về vấn đề này, câu hỏi về nghị định thư bí mật giữa Đức Quốc xã và Liên Xô (cũng như Hiệp ước không xâm lược và Hiệp ước biên giới hữu nghị và biên giới) rất có ý nghĩa chính trị.[105]


Tại Liên Xô


Ở Liên Xô, sự tồn tại của nghị định thư bí mật đã bị bác bỏ thẳng thừng. Sau khi chiến tranh nổ ra, Moskva đã được sơ tán, trong đó có bản sao thứ hai của nguyên bản tiếng Đức. Chúng được lưu giữ trong tủ cá nhân an toàn của Stalin và sau đó là trong kho lưu trữ của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô.[106].


Năm 1948, để phản ứng với việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ xuất bản của cuốn sách được gọi là "Quan hệ Đức Quốc xã - Liên Xô", Cục Thông tin Liên Xô đã xuất bản cuốn sách "Sự xuyên tạc lịch sử", trong đó có các phản biện và những cáo buộc Anh, Mỹ và cộng đồng các nước phương Tây có liên quan đến vấn đề cung cấp tài chính của Đức vào năm 1930. Sau đó, vấn đề mối quan hệ tài chính của Đức Quốc xã với các tập đoàn tư bản Mỹ được che giấu triệt để đã được nhà kinh tế học người Anh nổi tiếng Anthony Sutton làm rõ trong cuốn sách Phố Wall và sự nổi lên của Hitler của ông.[107] Trái ngược với những ấn phẩm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ là một bộ sưu tập các tài liệu lưu trữ, các phiên bản được Liên Xô công bố dưới dạng những đoạn trích chứ không phải là toàn bộ tài liệu với cấu trúc thống nhất.[108] Sự tồn tại của nghị định thư bí mật đã bị Molotov bác bỏ từ trước khi ông chết. Ông cũng đã nhiều lần bày tỏ điều này trong các cuộc phỏng vấn của nhà văn Feliks Ivanovich Chuyev.[109]


Vấn đề Hiệp ước không xâm lược Xô-Đức và đặc biệt là nghị định thư bí mật đã được lật lại ở Liên Xô trong thời cải tổ, chủ yếu do áp lực của Ba Lan thông quan Hiệp hội nghiên cứu lịch sử hai nước Ba Lan-Liên Xô. Để nghiên cứu vấn đề này, một ủy ban đặc biệt đã được thành lập do Bộ trưởng Thông tin tuyên truyền Alexander Yakovlev lãnh đạo. Ngày 24 tháng 12 năm 1989, sau khi nghe báo cáo của Yakovlev về những phát hiện của các nhà nghiên cứu trong Hiệp hội, Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô đã thông qua một nghị quyết lên án nghị định thư bí mật (ghi nhận việc thiếu bản gốc nguyên văn, nhưng công nhận tính xác thực của nó, dựa trên các chữ viết tay, bản ảnh kỹ thuật và xét nghiệm từ vựng trong bản sao cũng như các sự kiện tương ứng tiếp theo của nó).[110] Đồng thời, lần đầu tiên tại Liên Xô, văn bản của nghị định thư bí mật (từ bản microfilm của Đức) đã được xuất bản tại tạp chí "Câu hỏi của Lịch sử" số 6 năm 1989.[111]


Bản đầu của Nghị định thư được lưu giữ trong kho của tổng thống Liên Xô (nay là Lưu trữ của Tổng thống Nga tại một thư mục đặc biệt, số hiệu 34.[112] Nhưng là một trong những người biết về sự tồn tại của nó, Mikhail Gorbachev cũng chỉ được biết từ năm 1987. Theo người trợ lý của ông là V. A. Boldin, đã có lúc Gorbachev đã muốn tiêu huỷ tài liệu này.[106]. Ngày 30 tháng 10 năm 1992, việc giải mật các tài liệu lưu trữ được thực hiện. Sau đó, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị của Quân đội và Hải quân Liên Xô Thượng tướng Dmitry Antonovich Volkogonov đã công bố nội dung của nghị định thư này trên Tạp chí Khoa học Lịch sử đương đại và hiện đại, số 1 năm 1993.[111]


Hệ lụy của Hiệp ước


Hai năm sau, khi quân đội Đức tràn sang tấn công Liên Xô trong sự vi phạm trắng trợn mà thực chất là đã xé bỏ Hiệp ước không xâm lược, Stalin vẫn còn biện minh cho việc thỏa hiệp với Hitler. Trong bài diễn văn truyền thanh gửi đến nhân dân Nga ngày 3 tháng 7 năm 1941, Stalin phát biểu:


    Chúng ta đã tranh thủ được nền hòa bình cho đất nước ta trong một năm rưỡi, cũng như đã tạo cơ hội chuẩn bị cho các lực lượng của ta nhằm chống lại phát xít Đức vi phạm hiệp ước mà tấn công chúng ta. Đây là cái được của đất nước ta và cái mất của phát xít Đức.[93]


Nhưng có đúng thế không? Từ lúc bấy giờ cho đến nay, tranh luận đã nổ ra về điểm này. Sự thực là hiệp ước đã cho Liên Xô một khoảng thời gian để củng cố quốc phòng là điều hiển nhiên. Chỉ trong một thời gian ngắn, hiệp ước đã tạo cho Liên Xô vị thế quân sự vững mạnh chống lại Đức phía bên trong biên giới Liên Xô, kể cả những căn cứ quân sự ở các quốc gia vùng Baltic như Latvia, Estonia và Phần Lan. Và quan trọng nhất, hiệp ước đảm bảo cho Điện Kremlin là nếu sau này Liên Xô bị Đức tấn công thì các cường quốc phương Tây lúc ấy đã tỏ rõ đường lối chống Đức, và Liên Xô sẽ không phải đơn độc chống chọi với Đức như Stalin đã lo sợ suốt mùa hè 1939.


Tất cả điều trên là sự thật. Nhưng có lập luận theo cách khác. Vào lúc Hitler tấn công Liên Xô, các quân đội của Ba Lan và Pháp cùng Lực lượng Viễn chinh Anh trên lục địa Châu Âu đã bị tiêu diệt, và Đức có mọi nguồn lực toàn Châu Âu để huy động mà không bị trói tay vào mặt trận nào của phương Tây. Suốt các năm 1941, 1942 và 1943, Stalin than phiền một cách cay đắng rằng không có mặt trận khác chống lại Đức và rằng Liên Xô phải hứng chịu hầu như toàn bộ sức mạnh của Quân lực Đức. Trong khoảng thời gian 1939-1940, còn có một mặt trận của phương Tây để chia bớt sức mạnh của Đức. Và Ba Lan không thể bị tràn ngập trong nửa tháng nếu Liên Xô hỗ trợ cho họ thay vì đưa quân vào các vùng đất trong biên giới cũ của nước Nga Sa hoàng.


Hơn nữa, có lẽ không có chiến tranh nếu Hitler biết sẽ phải đương đầu với cả Liên Xô, Ba Lan, Anh và Pháp. Xét qua lời khai của các tướng lĩnh Đức trước Tòa án Nürnberg, ngay cả họ tuy hiền hòa về chính trị nhưng vẫn có thể ngăn chặn cuộc chiến chống lại một liên minh hùng mạnh như thế. Theo báo cáo của đại sứ Pháp tại Đức, cả Keitel và Brauchitsch đều cảnh báo với Hitler rằng Đức ít có cơ may chiến thắng nếu Liên Xô đứng về phe kẻ thù của Đức. Tuy nhiên, cũng phải nói lại rằng chính nước Anh cũng chơi trò "bắt cá hai tay", vừa đàm phán với Liên Xô, vừa đàm phán để ký kết với Đức một Hiệp ước tương tự với ý muốn đẩy Đế chế thứ ba mở rộng sang phía Đông. Việc không ký kết được hiệp ước này nằm ngoài ý muốn của họ[52]. Trước đó, Hiệp định Munich 1938 đã thực sự khuyến khích Hitler thôn tinh Tiệp Khắc.[113] Việc Pháp hủy bỏ Hiệp ước tương trợ với Liên Xô để ký Hiệp ước Munich cũng đã trở thành một hành động làm cho người Nga không tin tưởng ở họ.[9]


Không có chính khách nào, ngay cả các nhà độc tài, có thể tiên đoán chiều hướng của chiến tranh trong lâu dài. Có thể biện luận giống như Churchill rằng động thái của Stalin "vào lúc ấy có tính thực tế cao". Giống như bất kỳ nguyên thủ quốc gia nào khác, mối ưu tiên hàng đầu của Stalin là nền an ninh cho đất nước của ông. Sau này ông thổ lộ với Churchill rằng, vào mùa hè 1939, ông tin chắc rằng Hitler đang khởi động chiến tranh. Ông đã quyết định không để cho Liên Xô bị lâm vào vị thế tệ hại là đơn độc đối phó với Đức. Khi không thể tạo mối liên minh vững chắc với phương Tây, thế thì tại sao lại không quay sang Hitler lúc ấy đang bất ngờ gõ cửa Liên Xô?[56]


Vào cuối tháng 7 năm 1939, hiển nhiên Stalin đã bắt đầu tin chắc rằng Anh- Pháp không muốn đi đến mối liên minh có tính ràng buộc, và rằng mục đích của Anh còn là dẫn dụ cho Hitler khởi động chiến tranh ở Đông Âu. Dường như Stalin đã rất ngờ vực Anh, và mọi hành động của phương Tây trong hai năm vừa qua càng khiến cho ông thêm ngờ vực: sau khi Đức thôn tính Áo và Tiệp Khắc, Chamberlain từ chối đề nghị của Liên Xô nhằm đặt ra kế hoạch ngăn chặn bước tiến kế tiếp của Quốc xã; Chamberlain trì hoãn và lưỡng lự trong việc đàm phán cho liên minh phòng thủ chống lại Hitler.


Một điều mà hầu như ai cũng biết chắc – ngoại trừ Chamberlain – là chính sách ngoại giao Anh-Pháp, vốn đã chập chờn mỗi khi Hitler có một động thái, giờ đã phá sản. Hai cường quốc phương Tây, Anh và Pháp, từng bước đã đi thụt lùi: khi Hitler thách thức họ mà ra lệnh tổng động viên, khi ông xâm chiếm lãnh thổ Rhineland năm 1936, rồi thôn tính Áo năm 1938 và cùng năm này chiếm Sudetenland; và họ vẫn bình chân như vại khi Hitler thôn tính Tiệp Khắc tháng 3 năm 1939. Khi Liên Xô ở về phe mình, họ vẫn còn có thể khiến cho nhà độc tài Đức nản lòng mà không dám khởi động chiến tranh hoặc, nếu không được, thì đã có thể nhanh chóng đánh bại Đức trong cuộc xung đột vũ trang. Nhưng họ đã để cho cơ hội cuối cùng vuột khỏi tầm tay, dù đã có nhiều cảnh báo rằng Hitler sẽ gây hấn nếu không phải chiến đấu chống Nga.


Cả Anh và Pháp đều lớn tiếng kết tội Stalin. Họ cho rằng trong nhiều năm Stalin đã cảnh báo về “những con thú phát xít” và đề nghị mọi quốc gia yêu chuộng hòa bình kết hợp lại nhằm ngăn chặn Quốc xã gây hấn, nhưng bây giờ lại về phe với Quốc xã. Điện Kremlin biện luận rằng họ làm giống như Anh-Pháp đã làm năm trước ở đối với Tiệp Khắc: nhằm duy trì hòa bình và có thêm thời gian tái vũ trang chống lại Đức tuy phải hy sinh một nước nhỏ. Nếu Chamberlain tỏ ra là đúng đắn và có danh dự khi xoa dịu Hitler mà hy sinh Tiệp Khắc, không lẽ Stalin lại là sai trái và mất danh dự khi xoa dịu Hitler mà hy sinh Ba Lan?


Sự thỏa hiệp bí mật của Stalin với Đức nhằm phân chia Ba Lan và được toàn quyền hành động thôn tính Latvia, Estonia, Phần Lan và Bessarabia chẳng bao lâu được thể hiện qua những động thái của Liên Xô, và khiến cho hầu hết thế giới bị sốc ngay cả cho đến giờ. Người Nga nói rằng họ chỉ thu hồi những lãnh thổ đã bị bới ra khỏi tay họ sau Chiến tranh thế giời thứ nhất. Nhưng những dân tộc sinh sống trên lãnh thổ này không phải là người Nga và không phải tất cả đều muốn quay về với Liên Xô.


Từ khi gia nhập Hội Quốc Liên, Liên Xô đã gây dựng một sức mạnh tinh thần cổ súy cho hòa bình và đứng đầu việc chống lại phát xít gây hấn. Bây giờ, trung tâm tinh thần ấy đã hoàn toàn vỡ vụn. Trên tất cả, qua việc thỏa hiệp một cách lôi thôi với Hitler, Stalin đã phát pháo lệnh bắt đầu một cuộc chiến chắc chắn rồi sẽ mở rộng thành cuộc xung đột thế giới. Ông hiểu rõ điều này. Nhiều năm trước, Hitler đã dự trù trong quyển Mein Kampf: "Việc ký kết mối liên minh với Nga chỉ là kế hoạch cho cuộc chiến kế tiếp". Nhờ Hiệp ước này, Đức được rảnh tay với Nga để chú tâm thôn tính Ba Lan mà không còn e ngại mối liên minh Anh-Pháp-Liên Xô vốn hợp lực lại mạnh hơn Đức rất nhiều. Sau khi đã hạ tiếp Anh-Pháp, Hitler xé bỏ Hiệp ước mà xâm lăng Liên Xô.


Theo William L. Shirer: "Lịch sử cho thấy Hiệp ước Đức Quốc xã-Liên Xô là sai lầm chính trị lớn nhất trong cuộc đời của Stalin".


Tham khảo


    ^ Пакт Молотова-Риббентропа


    ^ Kevill Feilingt. Cuộc đời của Neville Chamberlain. London. 1963. trang 403.


    ^ Hans Dirkshel. Moskva, Tokyo, London - Hai mươi năm chính sách đối ngoại của Đức. London. 1951. trang 238.


    ^ Grigori Doberin. Những bí mật của chiến tranh thế giới thứ hai. NXB Sụ Thật. Hà Nội. 1986. trang 33.


    ^ Paul Reinaut. Hồi ký. Paris. 1963. trang 162.


    ^ Bộ ngoại giao Liên Xô. Tư liệu văn kiện thời kỳ trước Chiến tranh thế giới thứ hai. NXB Ngoại văn. Moskva. 1948. trang 92.


    ^ Hạ nghị viện Anh. Tư liệu những cuộc tranh luận tại nghị viện ngày 22 tháng 2. London. 1938. trang 227, 332.


    ^ Grigori Doberin. Những bí mật của Chiến tranh thế giới thứ hai. NXB Sự Thật. Hà Nội. 1986. trang 42.


    ^ a b Henry Payner. Churchill, Roosevelt, Stalin - Cuộc chiến tranh mà họ tiến hành và nền hòa bình mà họ tìm kiếm. London. 1957. trang 4.


    ^ Michael Freuner. Lịch sử nước Đức. Guthlaut. Bon. 1960. trang 623.


    ^ Lê văn Quang, Lịch sử quan hệ quốc tế từ 1917 đến 1945, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003, trang 157


    ^ G.Deborin, Chiến tranh thế giới thứ hai (tiếng Pháp). Nhà xuất bản Ngoại văn (1966), trang 12


    ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. NXB Tiến Bộ. Moskva. 1984. trang 22-23.


    ^ I. L. Maisky. Ai tiếp tay cho Hitler. NXB Tiến bộ. Moskva. 1965. trang 202.


    ^ С. З. Случ. Сталин и Гитлер, 1933—1941. Расчёты и просчёты Кремля, Отечественная История, 2005,№ 1 стр. 100—101.


    ^ БСЭ 'Вторая мировая война'


    ^ Энтони Саттон. Wall Street and the rise of Hitler., New Rochelle, New York: Arlington House, 1975.


    ^ Friedrich von der Schulenburg. Quan hệ ngoại giao giữa Đức và Liên Xô 1939-1941. Thüringen 1949. trang 389.


    ^ Торчинов В. А., Леонтюк А. М. Вокруг Сталина. Историко-биографический справочник. Санкт-Петербург, изд-во философского факультета СПБГУ, 2000, стр. 243


    ^ В. А. Торчинов và А. М. Леонтюк. Sứ mệnh của Давид Владимирович Канделаки


    ^ Гладков Т. Король нелегалов. М., 2000. С. 104


    ^ D. G Nazhafov. Hiệp ước không xâm lược Đức Quốc xã - Liên Xô năm 1939 và ý nghĩa lịch sử của nó. Tạp chí Những vấn đề lịch sử. số 12. 2006 (Д. Г. Наджафов. Советско-германский пакт 1939 года и его исторические последствия.// Вопросы истории, № 12, 2006, стр.7)


    ^ Вальтер Кривицкий. Я был агентом Сталина


    ^ Безыменский Л. А. Гитлер и Сталин перед схваткой. Глава четвёрая — Миссия Канделаки — М.: Вече, 2000.


    ^ a b c Речь Сталина на XVIII съезд ВКП (б)


    ^ Вячеслав Дашичев. «Между Молотовым и Риббентропом. Советско-германский пакт 1939 года утвердил не границы государств, а линии фронтов», 5 мая 2005


    ^ a b c William Shirer Взлет и падение Третьего рейха. На очереди — Польша


    ^ Văn kiện chính sách đối ngoại của Liên Xô. Tập 22. quyển 1, trang 293


    ^ S. Z. Slutch. Сталин и Гитлер, 1933—1941. Расчёты и просчёты Кремля, trang. 110


    ^ С. З. Случ. Сталин и Гитлер, 1933—1941. Расчёты и просчёты Кремля, trang. 110


    ^ a b c William Shirer. Взлет и падение Третьего рейха. На очереди — Польша


    ^ Александр Тихомиров. Германия и СССР в 1918—1939 годах: мотивы и последствия внешнеполитических решений, М: Изд-во «Гея», 1995


    ^ Лев Безыменский. Гитлер и Сталин перед схваткой. Глава 15: Когда придумали секретный протокол


    ^ M. I. Meltiukhov Khủng hoảng chính trị - Những cơ hội bị bỏ lỡ của Stalin. 1939..


    ^ Kimm Einart. Sự thiệt hại đối với nền độc lập của các nước Ban Tích, nhìn từ quan điểm chính trị toàn cầu đối với châu Âu . Balti riikide iseseisvuse kaotus Euroopa globaalpoliitika vaatevinklist // Akadeemia (1991) nr. 10, lk. 2167—2187; nr. 11, lk. 2384—2403


    ^ Liên Xô trong cuộc đấu tranh cho hòa bình vào đêm trước của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ hai. Tư liệu do NXB Chính trị công bố. Мoskva. 1971 trang. 486—487


    ^ Lịch sử của Thế chiến thứ hai. NXB Quân sự. Moskva. 1973. trang 74


    ^ Chiến tranh thế giới thứ hai.


    ^ Văn bản chính sách đối ngoại. Tập 22. quyển 1. Đoạn từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 8 năm 1939.


    ^ Tài liệu giải mật: Quan hệ Xô-Đức 1939–1941 (Tài liệu và tư liệu). Yu. Felshtinsky tập hợp và biên soạn.


    ^ Yuri Georgyevich Felshtinsky. Vyacheslav Dashichev Tài liệu giải mật: Quan hệ Xô-Đức 1939–1941 (Tài liệu và tư liệu). Moskva. 1991 (Cuốn sách này chứa các tài liệu quan trọng nhất trong các tài liệu của Bộ Ngoại giao Đức liên quan đến quan hệ Đức-Liên Xô trong tháng 4 năm 1939 - tháng 6 năm 1941)


    ^ S. E. Sluch. Stalin và Hitler, 1933—1941, Những tính toán sai làm của điện Kremly. trang 110


    ^ I. L. Maisky. Ai tiếp tay cho Hitler. NXB Tiến bộ. Moskva. 1965. trang 203.


    ^ Feiling К. The Life of Neville Chamberlain. L., 1963. P. 403 K. Feiling Cuộc đời của Neville Chamberlain. London. 1963. trang 403.


    ^ [1]


    ^ Feiling К. The Life of Neville Chamberlain. L., 1963. P. 403 Kevill Feiling. Cuộc đời của Neville Chamberlain. London. 1963. trang 403.


    ^ William L. Shirer, Sự hưng thịnh và suy tàn của đế chế thứ ba: Lịch sử của nước Đức Quốc xã. Simon and Schuster. 1980. trang. 504


    ^ Mac Kleos. Neville Chamberlain. London. 1961. trang 273.


    ^ Các cuộc đàm phán về quân sự của Liên Xô, Anh và Pháp tại Moskva năm 1939 (Переговоры военных миссий СССР, Англии и Франции в Москве в августе 1939 г). Tạp chí quan hệ quốc tế. Số 2 năm 1959. trang 145.(Международная жизнь, 1959, № 2, стр. 145.)


    ^ Các cuộc đàm phán quân sự nhiệm vụ của Liên Xô, Anh và Pháp tại Moskva năm 1939 (Переговоры военных миссий СССР, Англии и Франции в Москве в августе 1939 г). Tạp chí quan hệ quốc tế. Số 2 năm 1959. trang 145.(Международная жизнь, 1959, № 2, стр. 145.)


    ^ [2]


    ^ a b M. I. Meltyukhov. Những cơ hội bị bỏ lỡ của Stalin - Liên Xô và cuộc đấu tranh cho châu Âu 1939-1945. Moskva. 2000. (М. И. Мельтюхов Упущенный шанс Сталина. Советский Союз и борьба за Европу: 1939—1941. М. Вечер, 2000)


    ^ Yu. A. Nikiforov. Molotov-Ribbentrop, một số khía cạnh của lịch sử hiện đại (Ю. А. Никифоров Пакт Молотова-Риббентропа - Некоторые аспекты новейшей историографии)


    ^ Đàm phán ở Moskva


    ^ a b Lịch sử chiến tranh thế giới thứ hai. NXB Quân sự. Moskva 1973-1974 (История второй мировой войны. Воениздат, 1973-74)


    ^ a b Wilston Churchill. Chiến tranh thế giới thứ hai (У. Черчилль. Вторая мировая война.)


    ^ O. Rzheshevsky. Nhà khoa học, Giám đốc của Trung tâm nghiên cứu chiến tranh và địa chính trị của Viện Lịch sử Thế giới (RAN). Chủ tịch Hiệp hội các nhà sử học của chiến tranh thế giới thứ hai.Đêm trước cuộc chiến (Những tính toán sai lầm của Liên Xô trong chiến tranh thế giới thứ hai 1939-1941)


    ^ William Shirer. Sự hưng thịnh và suy tàn của Đế chế thứ ba.


    ^ Các cuộc đàm phán tại London


    ^ "Các cuộc đàm phán ở Moskva" ('Московские переговоры')


    ^ a b Lịch sử chiến tranh thế giới thứ hai. NXB Quân sự. Moskva. 1973-1974 (История второй мировой войны. Воениздат, 1973-74)


    ^ William Shirer. Sự hưng thịnh và suy tàn của đế chế thứ ba.


    ^ Magnus Ilmjarv. Sự im lặng phục tùng: Tổng thể chính sách đối ngoại của Estonia, Latvia và Lithuania - Giai đoạn từ giữa năm 1920 đến khi sát nhập vào năm 1940 - Tổng thể Chính sách đối ngoại... từ năm 1920 đến 1940. NXB Baltica Stockholmiensia. Stockholm. 2004; Bản dịch của một bản tóm tắt của cuốn sách (bằng tiếng Nga), Chương VIII


    ^ Aivars Stranga. Quan hệ đối ngoại của Latvia và Estonia 1918—1940


    ^ Bản dịch tiếng Nga các bức điện số 204 ngày 23 tháng 8 năm 1939, cùng bản sao của nguyên bản tiếng Đức (tài liệu số 31)


    ^ IMT XXII P.374. Dẫn theoYu. N. Zorya, N. S. Lebedeva. Tài liệu về năm 1939. Tốc ký tại Nuremberg. Tập 137.


    ^ Valentin Berezhkov Làm thế nào để trở thành người phiên dịch của Stalin. Chương Một. Trang chính Mosskva. DEM, 1993-400 tr. ISBN 5-85207-044-0.


    ^ Mikhail Ivanovich Semiryaga. Sự thỏa thuận giữa Liên Xô và Đức từ năm 1939 đến tháng 6 năm 1941 - Từ nhãn quan của các nhà sử học. Tạp chí Nhà nước và pháp luật Liên Xô. số 9. 1989. trang 93


    ^ R. A. Mullerson. Sự thỏa thuận giữa Liên Xô và Đức từ các khía cạnh của luật pháp quốc tế. (Tạp chí nói trên). trang 106


    ^ A. A. Pronin. Những sai lầm và hệ lụy của thỏa thuận giữa Liên Xô và Đức năm 1939. Tạp chí Nhà nước và pháp luật Liên Xô. số 9. 1989. trang 126


    ^ A. A. Pronin. Những sai lầm và hệ lụy của thỏa thuận giữa Liên Xô và Đức năm 1939. Tạp chí Nhà nước và pháp luật Liên Xô. số 9. 1989. trang 127.


    ^ [3]


    ^ [hrono.info/biograf/bio_h/hiranuma.html Hiranuma Toyoda]


    ^ ["Báo Sự Thật(Правда)" ngày 28 tháng 8 năm 1939; Báo Sự thật thanh niên Komsomol (Комсомольская правда) ngày 2 tháng 9 năm 1989]


    ^ "Đàm phán ở London (Лондонские переговоры')


    ^ a b Chiến tranh thế giới thứ hai (Вторая мировая война)


    ^ "Đàm phán ở Moskva" (Московские переговоры), "Đàm phán ở London (Лондонские переговоры'), Chiến tranh thế giới thứ hai (Вторая мировая война)


    ^ a b D. G Nazhafov. Hiệp ước không xâm lược Đức Quốc xã - Liên Xô năm 1939 và ý nghĩa lịch sử của nó. Tạp chí Những vấn đề lịch sử. số 12. 2006. trang 7 (Д. Г. Наджафов. Советско-германский пакт 1939 года и его исторические последствия.// Вопросы истории, № 12, 2006, стр.7)


    ^ S. Z. Slutch. Stalin và Hitler, 1933-1941. Những tính toán sai lầm của điện Kremlin. trang 110 (С. З. Случ. Сталин и Гитлер, 1933—1941. Расчёты и просчёты Кремля, стр. 110)


    ^ J. Roberts. Khu vực ảnh hưởng và chính sách đối ngoại của Liên Xô năm 1939-1945. Hệ tư tưởng, nhữung tính toán và sự ngẫu hứng. (Дж. Робертс. Сферы влияния и советская внешняя политика в 1939—1945 гг. идеология, расчет и импровизация)


    ^ Hiệp ước Molotov-Ribbentrop


    ^ Lịch sử Đảng Cộng sản toàn Nga (Bolshevik). Bản rút gọn. Moskva. 1938. trang 318. (История Всесоюзной Коммунистической партии (большевиков). Краткий курс. М., 1938, С. 318)


    ^ a b M. I. Meltiukhov. Khủng hoảng chính trị - Những cơ hội bị bỏ lỡ của Stalin. 1939..


    ^ S. E. Sluch. Stalin và Hitler, 1933—1941, Những tính toán sai lầm của điện Kremly.


    ^ S. E. Sluch. Stalin và Hitler, 1933—1941, Những tính toán sai lầm của điện Kremly. trang 101.


    ^ Thomas Titura. Chiến thắng của Suvorov đã phá vỡ tảng băng như thế nào - Trong một cuộc thảo luận về lịch sử. (Томас Титура. Виктор Суворов как «Ледокол». К одной исторической дискуссии.)


    ^ Kỷ niệm Hiệp ước Đức Quốc xã-Liên Xô. Pravda. 23 tháng 8 năm 1940 (Годовщина советско-германского пакта//«Правда», 23.08.1940)


    ^ MIZH. Quỹ Xã hội (Dự án Soros). Nga. G. M. Dimitrov và các nhà lãnh đạo Kremlin. 1934-1948. (Nhật ký của G. M. Dimitrov) (МИЖ. «Открытое общество» (Фонд Сороса). Россия. Г. Димитров и Кремлевские вожди. 1934—1948 гг. (Свидетельства дневника Г. М. Димитрова))


    ^ Trích dẫn từ W. Churchill Cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Moskva. NXB Quân sự. 1991. Tập 1. Phần 1. Chương 21. (Цитируется по Черчилль У. Вторая мировая война. — М.: Воениздат, 1991, т. 1, часть 1, глава 21.)


    ^ Các tài liệu về các mối quan hệ Liên Xô-Đức


    ^ William Shirer. Sự hưng thịnh và suy tàn của Đế chế thứ ba


    ^ Nhật ký của G. Dimitrov, ghi ngày 9 tháng 7 năm 1939. Trích dẫn từ: A. L. Bezymensky. Hitler và Stalin trước cuộc chiến


    ^ a b I. V. Stalin. Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô. Phát biểu trên Đài phát thanh Moskva ngày 3 tháng 7 năm 1941


    ^ Văn bản các tài liệu về các mối quan hệ Liên Xô-Đức


    ^ Chủ đề: Quan hệ Xô - Đức 1939—1941 (Các tài liệu và dẫn chứng)


    ^ Trích phát biểu của V. M. Molotov tại Xô viết tối cao Liên Xô về việc phê chuẩn Hiệp ước không xâm lược Đức-Xô. Dẫn theo M. I. Meltyuhov Những cơ hội bị bỏ lỡ của Stalin. Liên Xô và các đấu tranh cho Châu Âu. 1939-1941. Moskva. 2000


    ^ Kurt von Tippelskirch. Lịch sử Chiến tranh thế giới thứ hai


    ^ Charles E. Bohlen. Làm nhân chứng cho Lịch sử: 1929-1969. Norton. 1973. ISBN 0-393-07476-5


    ^ V. L. Doroshenko, I. V. Pavlova, R. C. Raak. Không có chuyện hoang đường - Bài nói của Stalin ngày 19 tháng 8 năm 1939. Tạp chí Câu hỏi của lịch sử. số 8. 2005.


    ^ S. Z. Sluch. Không thể có cái gọi là bài nói của Stalin. Tạp chí Lịch sử Quốc gia. Số 1. 2004 (С. З. Случ. Речь Сталина, которой не было // Отечественная история. — 2004. — № 1)


    ^ S. Lozunko С.Лозунько. Bái nói của Stalin ngày 18 tháng 8 năm 1939, sự ngụy tạo lịch sử. Tạp chí "Hàng tuần". ra ngày 18 tháng 8 năm 2006 (Историческая фальшивка: «речь Сталина 19 августа 1939 года» — Еженедельник «2000», 18 августа 2006 года)


    ^ B. Z. Rogodin. Cách mạng thế giới và Chiến tranh Thế giới II. Chương XXXIV. Nghị định thư bí mật. Moskva. 1998. trang 415. ISBN 5-85272-028-3 (Вадим Захарович Роговин. Мировая революция и мировая война: Глава XXXIV — Секретный протокол)


    ^ Quan hệ Đức Quốc xã - Liên Xô 1939—1941. Washington. 1948)


    ^ William Shirer. Sự hưng thịnh và sụp đổ của đế chế thứ ba. Sự sụp đổ của Ba Lan. (У. Ширер. Взлет и падение Третьего рейха. Падение Польши.)


    ^ Guido Knopp. 100 năm, sự đếm ngược (Guido Knopp. 100 Jahre — Der Countdown).


    ^ a b Valery Boldin. Valery Boldin. Giải mật các tài liệu tối mật. Số 03. Tháng 3 năm 1999 Валерий Болдин. Над пропастью во лжи «Совершенно секретно». № 03, март 1999 г..


    ^ Anthony Sutton. Wall Street and the rise of Hitler. New Rochelle. New York. Arlington House. 1975


    ^ Cục Thông yin Liên Xô. Sự xuyên tạc lịch sử. Moskva. OGIZ. 1948. trang 79. Советское информационное бюро. Фальсификаторы истории М.: ОГИЗ, 1948. — 79 с.


    ^ F. I. Chuyev. Nhật ký của F. Chuev - Một trăm bốn mươi cuộc hội thoại với Molotov. Moskva. Terra, 1991. trang 623 (Ф. И. Чуев Сто сорок бесед с Молотовым: Из дневника Ф. Чуева М.: ТЕРРА, 1991. — 623 с.)


    ^ Bản tin của Đại hội Đại biểu nhân dân Liên Xô và Xô Viết tối cao Liên Xô. 1989. Số 29. trang 579. (Ведомости Съезда народных депутатов СССР и Верховного Совета СССР. 1989. № 29. Ст. 579.


    ^ a b I. V Pavlova. Tìm kiếm sự thật vào đêm trước của Chiến tranh thế giới thứ hai. (И. В. Павлова. Поиски правды о кануне Второй мировой войны).


    ^ L. A. Bezymensky Hitler và Stalin trước khi chiến đấu. Lời bạt của tác giả. NXB Mùa Đông. Moskva. 2000. trang 512. (Л. А. Безыменский Гитлер и Сталин перед схваткой. Предисловие автора — М.: Вече, 2000. — 512 с.]


    ^ Michael Freuner. Lịch sử nước Đức. Guthlaut. Bon. 1960. trang 626.


wikipedia


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
30/01/1933: Adolf Hitler trở thành Thủ tướng Đức, nhiều cuộc mưu sát không thành, ngày 30-4-1945, hắn tự sát - Tư liệu sưu tầm 29.05.2017
Chân dung Tập Cận Bình - Evan Osnos 29.05.2017
2 bài nên đọc về H. Kissinger - Nhiều tác giả 28.05.2017
Từ Hồ Biểu Chánh đến Khái Hưng - Thụy Khuê 26.05.2017
Việt Nam vay lớn từ 3 chủ nợ chính - Tư liệu 25.05.2017
Trung Quốc mộng thực sự của ông Tập: Một Trung Quốc đế quốc? - Trương Phong (Feng Zhang) 25.05.2017
Trung Quốc và thách thức từ các “Con đường tơ lụa” - Xue Li (Lý Tuyết) 25.05.2017
Mổ xẻ siêu quyền lực của Tập Cận Bình - RODERICK Macfarquhar 25.05.2017
Nhân tố Dalai Lama trong quan hệ Trung – Ấn - Tư liệu 25.05.2017
Nam man tây nam liệt truyện - Trương Thái Du 24.05.2017
xem thêm »