tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18965004
31.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế Cuộc đời và sự nghiệp (19)

HỌA THƠ VUA NƠI KINH DIÊN (ngay sau khi giảng bài)


Trường học chẳng là chỗ nói suông


Trị bình cốt mở rộng lòng nhân


Ưu tư ý chúa mưu bền vững


Gắng sức lòng tôi việc chẳng nhàn


Quy hối bàn sâu tìm Lã, Phạm(1)


Hình danh đâu thể học Thân, Hàn


Đề từ châu bản ngầm tu chỉnh


Trân trọng lời vua dặn các quan


VỊNH SỬ ỨNG CHẾ


VỊNH GIA CÁT LƯỢNG


Cày bừa sống lẫn với nông dân


Cá nước sum vầy thỏa tấm thân(1)


Tam Quốc trời bày chân vạc thế


Ngũ Nguyên sao báo khí người phân(2)


Tào quân đành chịu di cân nhục (3)


Lương Phụ ngâm hoài mối bận tâm


Để lại Xuất sư Tiền, Hậu biểu(4)


Ngàn sau thương tiếc bậc lương thần


VỊNH TRƯƠNG TUẦN(1)


Dẫu rằng không thể giữ Thư Dương


Tiết liệt hy sinh thật đáng thương


Khôi phục cả hai kinh Tràng, Lạc(2)


Đảm đương luôn một dải Hoài, Giang,


Nam, Lôi tuẫn nạn cô thành vỡ


Quách, Lý thành công khắp chiến trường (3)


Thiên đạo, nhân luân gồm đủ cả


Vua tôi đại nghĩa ấy cương thường.


 


VU KHIÊM(1)


Trận thua Thổ Mộc, nước đâu còn(2)


Ra sức phục hồi quả đại công


Bãi chuyện về nam, an xã tắc


Bàn mưu phạt bắc, diệt hồ nhung


Tòng quyền phải lập tân quận vị


Theo giặc ai phò cựu chúa công


Nhiệt huyết một bầu không tỏa được


Thương thay! công lớn lại hàm oan.


 


BỔ DI DĨ HẠ


KHÓC ANH


Vừa khóc em đây, lại khóc anh


Buồn đau cùng lúc ập vô mình


Cháu con côi cút cần răn dạy


Quan chức làn nhàng kiếp nhân sinh


Tai họa vốn không chia nỗi khổ


Ông xanh sao lại quá vô tình


Về quê chỉ gặp đôi mồ lạnh


Chỉ biết kêu lên nỗi bất bình.


 


ĐI DẠO NGOẠI THÀNH


Đi dạo một mình, mạch với thiên(1)


Thả hồn bay bổng giữa thiên nhiên


Đường đời như thuận mà không thuận


Cảnh sắc như liền lại chẳng liền


Leo núi nên tìm cho được lối


Qua sông đừng để cảnh không thuyền


Đào nguyên khách mộng ai mà biết


Vô số hoa đào rắc động tiên.


 


HỌA NGUYÊN VẬN BÀI “VĂN OANH” (khi cùng ngồi với Thái tử ở Chỉ Thiện đường)


Sắc liễu xanh rờn tháng trọng xuân


Chòm cao oanh cất tiếng trong ngần


Dường như tâm lý lo cô độc


Bay nhảy buông lời ghẹo kết thân


Mặt nước ru người hồn sảng khoái


Khúc đàn nhớ bạn giọng bâng khuâng


Tiếc thay đời ít tri âm quá


Vẫn chỉ đông quân nghĩa cũ càng


 


NHỚ NGƯỜI XA


Nhớ khi chia biệt dặn bao lời


Đằng đẵng vô tình năm tháng trôi


Biên tái thiết tha từng bữa một


Hoàng cung thao thức mấy thu rồi


Năm canh mơ mộng lần theo gió


Sáng sớm u sầu biếng điểm ngôi


Dự tính đầu thu về thật gấp


Mà trăng vẫn cứ lạnh lùng thôi


ĐƯA TIỄN PHƯƠNG BÁ HOÀNG KIỆN TRAI ĐI NHẬM CHỨC Ở GIA ĐỊNH


Ba chục năm nay bạn cố tri


Tính ông cương trực thảy tôn suy


Vào Nam phó nhậm hơi xa thật


Đông Phố chờ quan lại đúng khi


Đất cát phì nhiêu canh tác khỏe


Nhân dân từng trải sống tùy nghi


Tôi từng ở đó lo công việc


Tiên cảnh đào nguyên chẳng đáng gì.




 


 


 


CHƠI NÚI NGỰ BÌNH NGÀY TRÙNG CỬU (mùng 9 tháng 9- cùng các quan theo hầu các hoàng tử)


Trùng cửu lên chơi núi Ngự Bình


Vin cây, vịn đá nắm tay nhanh


Mang theo thuốc uống say không sợ(1)


Chúc thọ hoàng gia hướng đế kinh


Ngắm biển, vầng dương dần ló dạng


Nhìn quanh, đồi núi nhấp nhô xinh


Ở đây, hoàng tử tài thơ cả


Cảnh đẹp ngày vui chẳng dám tranh


TỤC BỔ DI


Lời dẫn:


Nhìn cảnh quý khách ân cần tỏ lòng thành kính trước bàn thờ tổ thủy đình thật là cảm động, bối rối chưa nói được lời cảm tạ sâu sắc, cũng như chưa trao đổi đôi lời thanh nhã. Sau khi quý khách ra về, nhớ lại lúc ngồi trên thuyền đưa tiễn, tưởng tượng quang cảnh ấy, làm bài thơ thô mộc nầy, gọi là chút dư cảm.


Một khúc ly ca vọng thủy đình


Đâu ngờ tiên nữ giáng nhân sinh


Tả Phần tài học gia phong hậu


Tô Huệ văn hay trí bẩm sinh


Phóng bút lạm bình kho cựu mộng


Đàn cầm réo rắc suối tân thanh


Có vầng trăng sáng cùng đưa tiễn


Nhớ lúc chia tay vô hạn tình


 


THẤT TỊCH HỮU HOÀI(1) (Gởi Thương Sơn công)


Thủy đình chia biệt nghĩ đâu đâu


Tháng bảy mưa rơi lại thấy rầu


Cầu nối hai sao cho quãng ngắn


Thư nhờ chú chép chuyển thì lâu


Nam mai thủy liễu viền xinh thật


Bích Hán Ngân Hà ánh sắc thu


Thi xã Tùng Vân sao chẳng rõ(2)


Nào ai tranh giải vịnh mùa ngâu


HỌA NGUYÊN VẬN HAI BÀI “KIẾN HOÀI” CỦA THƯƠNG SƠN CÔNG (Đồng gởi Triệu Phong công)


*Bài 1


Trăng sáng thu về đêm vắng tanh


Chập chờn nhớ lại thuở làm quan


Lan Đình thắng hội say còn nhớ(1)


Bạch Xã danh thi lão vẫn mong


Nhà mát thơ nhàn theo họ Tạ(2)


Ruộng nhiều lúa tốt học nơi Phàn


Nhìn lên sắp sáng, xa kinh quá


Chỉ thấy lau già sương vẫn trong


*Bài 2


Về hưu nhà cũ mặc xuề xòa


Lá rụng thu sang chạnh tuổi già


Đã hết quan to bàn chiến lược


Nên gần dân giả kết thông gia


Ruộng bên vui thấy sân đầy lúa


Biển sát buồn nghe sóng dữ qua


Tựa bóng dừa trông về hướng bắc


Mịt mù kinh khuyết khói mây xa


 


THU CẢM


Từ khi về ở Khúc Giang đông


Mọi thứ phồn hoa chuyện sắc không


Thấm thoắt đã vào thu tháng tám


Lững lờ sáng tỏ một vầng trong


Gió xao cây quế hương thơm nhẹ


Sương thấm rừng phong lá rực hồng


Xong khúc Nghê Thường trăng cũng vắng


Quảng Hàn giá lạnh có buồn không


TRƯƠNG QUẢNG KHÊ TIÊN SINH THI TẬP


Quyển 4


Biên tập: MIÊN THẨM (THẬN MINH)


THỂ NGŨ NGÔN TUYỆT


ĐỀ CHIẾC QUẠT TRE MÀU TRẮNG


Linh lung chất quân tử


Nhã đạm cùng mỹ nhân


Thay cho luồng gió mát


Sớm tối kề bên thân


THIẾU NỮ


Thôn kia có cô bé


Thâm khuê chửa biết gì


Người ta bảo thu đến


Cũng chẳng thấy buồn chi


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. Nhóm biên soạn: NGUYỄN VĂN CHỪNG, DƯƠNG MINH CHÍNH, LÊ VĂN CÔNG, LÊ SƠN - NGUYỄN VĂN THANH. NXB Văn học. 1-2009.







(1) Lã, Phạm: Lã Tổ Khiêm và Phạm Trọng Yêm cùng thời Tống. Chủ trương thuyết “Quy Hối”, nghiên cứu cặn kẽ Kinh Sử, theo đó mà làm, không theo Tính mệnh.


Thân, Hàn: Thân Bất Hại và Hàn Phi Tử thời Chiến Quốc chủ trương thuyết “Hình danh”, lấy danh buộc vào trách nhiệm, dùng hình phạt nặng để cai trị, như luật pháp ngày nay, nhưng thời bấy giờ rất khắc nghiệt, vì nhằm củng cố nền quân chủ trong thời loạn.




(1) Cá nước: Lưu Bị ba lần đến nhà tranh của Khổng Minh mới mời đượcKhổng Minh đang ở ẩn ra giúp mình.Lưu Bị bảo: Ta có Khổng Minh như cá có nước vậy.




(2) Ngũ Nguyên: tên một chòm sao.




(3) Di cân nhục: Khổng Minh đánh Ngụy, tướng Ngụy là Tư Mã Ý đem quân chận giữ không đánh. Khổng Minh khiêu chiến muốn Tư Mã Ý tức khí ra đánh để rơi vào chiến thuật của mình, nhưng Tư Mã Ý vẫn không chịu ra, Khổng Minh khiêu khích bằng cách gởi tặng Tư Mã Ý chiếc khăn phụ nữ, ý chê nhát như đàn bà. Tư Mã Ý nuốt nhục nhận khăn, vẫn cố thủ để khỏi bị rơi vào kế của Khổng Minh.




(4) Xuất sư Tiền Hậu biểu: Khổng Minh sáu lần đem binh diệt nước Ngụy, đều thất bại. Khi Lưu Bị qua đời, con là Lưu Thiện nối ngôi ham chơi. Khổng Minh đem quân đi đánh Ngụy, hai lần viết biểu khuyên Lưu Thiện, lời lẽ thống thiết như cha khuyên con. Hai bài, Tiền Xuất sư biểu và Hậu Xuất sư biểu là hai áng văn chương đỉnh cao của nền văn học Trung Quốc.




(1) Trương Tuần: người thời Đường, học rộng, đậu Tiến sĩ, làm quan lệnh Thanh Hà. Khi An Lộc Sơn dấy loạn, Đường Minh Hoàng lần lượt bỏ kinh đô Tràng An, rồi Lạc Dương, Trương Tuần khởi binh đánh giặc. Ban đầu đánh đuổi quân giặc khỏi vùng Giang, Hoài (tức Nam Trung Hoa), chiếm lại thành Thư Dương cố thủ. Địch phản công, chiếm lại Thư Dương, Trương Tuần bị sát hại




(2) Tràng, Lạc: tức Tràng An và Lạc Dương, hai kinh đô thời Đường Minh Hoàng




(3) Giang, Hoài: tức sông Trường Giang (Dương Tử) và sông Hoài Hà


Nam, Lôi: Hai tướng của Trương Tuần cùng hy sinh trong trận thất thủThư Dương.


Quách, Lý: tức Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật hai tướng khởi nghĩa đánh bại An Lộc Sơn




(1) Vu Khiêm: đỗ Tiến sĩ thời nhà Minh, làm đến chức Tả Thị lang bộ Binh, rồi Thượng Thư bộ Binh, Mông Cổ đánh vào trường thành, vua Minh Anh Tông thân chinh bị địch bắt làm tù binh. Triều đình bàn lui về nam, Vu Khiệm bác bỏ, lập em vua lên làm vua tức Cảnh Đế, cầm quân đánh đuổi được quân giặc, cứu Anh Tông. Anh Tông lại lên ngôi, nghe lời dèm, phế Cảnh Đế, giết Vu Khiêm. Đến thời Minh Hiếu Tông Vu Khiêm mới được giải oan.




(2) Thổ Mộc: Đồn binh phía tây tỉnh Sáp Cáp Nhĩ, nơi vua Anh Tông nhà Minh thân chinh trấn giữ, bị thua trận rồi bị bắt làm tù binh.




(1) Mạch với thiên: là bờ ruộng. Bờ theo hướng đông tây gọi là mạch, bờ theo hướng nam bắc gọi là thiên




(1) Thuốc uống: Cây thù dùng làm thuốc viên ngâm vào rượu uống không say.




(1) Thất tịch: Đêm mùng 7 tháng 7 âm lịch hàng năm, hai sao Ngưu lang Chức nữ nhờ quạ bắt cầu sang sông Ngân Hà, cũng là sông Thiên Hán hoặc Bích Hán (cầu Ô Thước) để gặp nhau, trời đổ mưa ngâu để tỏ nỗi cảm thông tan hợp.




(2) Tùng Vân thi xã: là hội thơ của hoàng tộc và quan lại trong triều nhà Nguyễn




(1) Lan Đình hội: tích Vương Hy Chi thời nhà Tấn, người viết thiếp Lan Đình trứ danh. Người ta tổ chức Lan Đình hội ở Sơn Âm,


Bạch Xã thi: là hội thơ (thi xã) mang tên của nhà thơ Bạch Cư Dị nổi tiếng thời nhà Đường.




(2) Tạ: tức Tạ An, làm chức Thái phó, nên thường gọi là Tạ Thái phó, hay Tạ phó.


Phàn: tức Phàn Tu, tự Tử Trì, học trò Đức Khổng Tử, nhà giàu nhờ làm ruộng giỏi.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
Những đám khói - Võ Phiến 23.03.2017
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
xem thêm »