tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21087616
Tiểu thuyết
18.11.2017
Mario Gianluigi Puzo
Bố già (The Godfather)

Chương 29


Maicơn Côrleône tiến hành việc chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng, tất cả đã được tính toán đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất, mọi biện pháp phòng bị đã được trù liệu. Anh dự định sẽ bắt đầu hành động sau một năm nữa, hy vọng thời gian đó đủ để hoàn tất toàn bộ công việc chuẩn bị. Nhưng thực tế anh đã không được sử dụng cả một năm dự tính đó. Số phận chơi anh một vố bất ngờ: không phải ai khác, mà chính Bố Già, chính ông Trùm hùng mạnh, đã phá vỡ kế hoạch của Maicơn.


 


Vào một buổi sáng chủ nhật trời nắng đẹp, khi đám đàn bà trong gia đình đã đến nhà thờ xem lễ, don Vitô Côrleône khoác vội lên người bộ quần áo làm vườn thường ngày -  Chiếc quần dài xám đã sờn gối, áo sơ mi xanh bạc phếch, chiếc mũ nĩ cũ nhàu với một dãi băng lụa cáu bẩn. Mấy năm gần đây ông béo mập ra, tăng cân nhiều. Ông bảo với mọi người rằng phải tích cực làm vườn, trồng cà chua để giữ gìn sức khoẻ. Nhưng ai cũng đều biết rằng không phải như vậy.


 


Sự thật là ông rất thích làm vườn, vui sướng mỗi buổi sáng sớm được ngắm những luống cà chua, rau quả tự tay mình trồng. Chúng nhắc ông nhớ lại quê hương Xixili, nhớ lại tuổi thơ chưa bị những nỗi kinh hoàng, đau khổ và cái chết của người cha làm cho vẫn đục nặng nề. Giờ đây những luống đậu đã trổ hoa trắng ngọn, những luống hành đã mọc lá xanh rờn. Cuối vườn, sừng sững một thùng phân chuồng lớn đã ủ thật ải -  thứ phân bón tốt nhất cho các loại rau cỏ. Cũng ở phía đó còn có các giàn gỗ do tự tay ông Trùm làm, những ngọn cà chua mơn mởn bám vào giàn leo dần lên cao được buộc chắc chắn bằng những nút dây đay.


 


Ông Trùm đang vội. Cần phải tưới xong vườn trước khi mặt trời lên cao -  lúc đó mỗi một giọt nước sẽ biến thành một chiếc kính hội tụ ánh nắng đốt thủng lá non như một tờ giấy mỏng. Nước và nắng đều cần, tuy vậy hai thứ ấy mà kết hợp với nhau một cách khinh suất thì tai hại không biết đâu mà lường.


 


Cũng may là vừa kịp. Khi ông tưới xong thì nắng sớm đã bắt đầu chói chang. Ông Trùm thầm nhắc mình: "Thôi, đủ rồi, hôm nay thế là đủ rồi ". Chỉ còn phải cắm vài cây cọc đỡ cho mấy mầm cà chua non. Ông lại cúi xuống luống rau. Đi hết hàng này nữa là vào nhà.


 


Mặt trời bỗng đột ngột hạ xuống thấp, treo ngay sát mặt ông. Hàng ngàn đom đóm lửa bay tán loạn trước mặt. Thằng cháu nội, đứa con đầu của Maicơn, từ đâu hiện ra, chạy dọc luống rau đến nơi ông Trùm đang quỳ trên mặt đất.-  và đột nhiên đứa bé bị che khuất trong một ngọn lửa vàng chói mắt. Thế này là không ổn rồi, ông Trùm biết ngay là trái tim lại trở chứng. Phía sau ngọn lửa vàng kia là thần chết đang rình sẵn sàng nhảy ra vồ bắt ông đi. Bố Gìa xua tay đuổi đứa cháu đi chỗ khác, chỉ một giây nữa là chậm mất, không nên để thằng bé nhìn thấy cảnh này. Liền đó, ông nghe như bị một cú búa tạ nện vào ngực, họng tắc lại, nghẹt thở, don Côrleône đổ chúi người xuống phía trước.


 


Khi Maicơn cùng mấy gã vệ sĩ chạy tới, ông Trùm nằm úp mặt lên luống rau, hai tai duỗi ra bám chặt xuống đất. Họ đỡ ông dậy, khiêng vào chỗ râm sát tường nhà. Maicơn quỳ xuống cạnh bố, nắm chặt lấy tay ông, mấy người khác chạy bổ đi gọi bác sĩ và xe cấp cứu.


 


Ông Trùm gắng hết sức mở mắt ra nhìn đứa con trai lần cuối. Cơn nhồi máu cơ tim nặng đã làm cho khuôn mặt hồng hào rám nắng của ông tím tái. Bắt đầu những phút tuyệt vọng cuối cùng. Ông cố hít sâu vào ngực mùi hương mát của các luống rau. Ngọn lửa vàng lại bùng lên trong mắt ông. Bố Gìa thì thào: " Ôi, cuộc đời đẹp quá!"


 


Số phận đã giúp ông Trùm ra đi khỏi phải chứng kiến những giọt nước mắt đàn bà – ông chết trước khi vợ và các con dâu, con gái của ông từ nhà thờ trở về, trước khi bác sĩ và xe cấp cứu kịp đến. Ông qua đời giữa những người đàn ông đứng xung quanh, tay vẫn nắm chặt tay đứa con út ông yêu nhất nhà.


 


Đám tang của Bố Già được tổ chức thật trọng thể. Tất cả các ông trùm và các 'lãnh tụ' (caporegime) của Ngũ Đại Gia đều có mặt. Gia đình Texxiô và Clemenxa dĩ nhiên là đông đủ. Bất chấp lời khuyên ngăn của Maicơn, đại tài tử điện ảnh Giônni Phôntêin cũng về dự tang Bố Gìa, và tin này đã được các tờ báo lá cải không bỏ qua dịp làm rùm beng lên khắp nước. Thậm chí, trong một bài trả lời phỏng vấn, Giônni còn xác nhận don Côrleône là cha đỡ đầu của mình, và trong đời chưa hề gặp một người nào tốt bụng, quân tử như ông. Được về dự lễ tang ông Trùm là một hân hạnh lớn, còn mọi người muốn nghĩ sao thì hắn nhổ bọt.


 


Lễ viếng, theo lục lệ Xixili, được tổ chức trong nhà người quá cố. Amêrigô Bônaxêra đảm trách việc khâm liệm, tống táng. Lão tự tay tắm rửa, săn sóc thi hài Bố Gìa thật chu đáo, kỹ càng. Một bà mẹ trang điểm cho đứa con gái cưng về nhà chồng cũng chỉ đến thế là cùng. Và ai đến nhìn mặt Bố Già đều nhận thấy là chết rồi mà ông Trùm Lớn vẫn không mất đi vẻ uy nghi, oai vệ như khi còn sống. Amêrigô Bônexêra đắc ý được phồng mũi -  chỉ một mình lão biết được cái chết đã để lại những dấu vết khủng khiếp như thế nào trên bộ mặt ông Trùm.


 


Tất cả bạn bè cũ, tất cả những người thân cận, đã từng chịu ơn Bố Già đều đến viếng. Ông bà chủ lò bánh từng chịu ơn Bố Già đều đến viếng. Ông bà chủ lò bánh Nadôrin cùng vợ chồng đứa con gái và đám cháu ngoại. Từ Las Vegas có Luxi Manchini và Phrêđô, Tôm Haghen cùng gia đình. Các ông trùm của bốn vùng Xan Phrenxixcô, Los Angeles, Boxton và Clivlơnđ. Khiêng linh cữu cùng hai con trai của người quá cố là những người thân thiết bậc nhất: hai bạn già Texxiô và Clemenxa, hai thủ hạ mới Rôccô Lampône và Anbert Nêri. Những vòng hoa tươi từ khắp nơi gửi đến chất khắp nơi trong cư xá.


 


Ngoài cổng lớn, các nhà báo, nhiếp ảnh chen chúc nhau. Xa hơn một chút, các cá chìm cá nổi của FBI đứng trên nóc một chiếc xe hơi với máy quay phim trên tay đang vội vàng ghi lại diễn biến của sự kiện lịch sử này. Chốc chốc một tay nhà báo nào đó lại cố tìm cách vượt qua hàng rào, nhưng ngay tức khắc như từ dưới đất mọc lên một gã trong đội bảo vệ đòi xuất trình giấy tờ và thiếp mời. Tuy bọn gác cửa cư xử cực kỳ lịch thiệp nhưng có năn nỉ đến rả họng vẫn không ai được phép lọt vào trong. Một số khác thử hỏi tin qua những người từ trong cổng đi ra, nhưng họ chỉ vấp phải những bộ mặt lạnh lùng như tiền và những cái miệng câm lặng tuyệt đới.


 


Maicơn Côrleône gần như ở lì suốt trong văn phòng ở cuối nhà cùng với Tôm Haghen và Phrêđô. Những người đến chia buồn được lần lượt mời vào. Maicơn tiếp từng người với một vẻ lịch sự không thay đổi, kể cả những người xu nịnh đã bắt đầu gọi anh là "Bố Già" hay "Ông Trùm Maicơn". Chỉ riêng Kêi nhận thấy mỗi lần như thế cặp môi anh khẽ mím lại khó chịu.


 


Một lát sau Clemenxa và Texxiô đến ; Maicơn tự tay rót rượu mời từng người. Nhân câu chuyện nói về việc làm ăn, Maicơn thông báo rằng khu cư xá của họ cùng toàn bộ công trình nhà cửa ở đây sẽ được bán cho một công ty xây cất. Giá hết sức hời. Mọi người đều hiểu rằng sau cái chết của Bố Gìa, việc di chuyển toàn bộ đế quốc Côrleône sang miền Tây sẽ được thúc đẩy nhanh hơn. Gia đình Côrleône sẽ rút hết lực lượng ra khỏi Niu York.


 


Đã đến lúc đi ra nghĩa trang, trả di hài ông Trùm Lớn về cho đất mẹ, Maicơn nắm tay Kêi bước xuống vườn. Ở đó đã đông đủ những ai tới đưa tiễn ông Trùm đến nơi yên nghỉ cuối cùng -  bạn bè, thuộc hạ, những con người nhỏ bé đã được Bố Già che chở lúc sinh thời. Đây đó thấp thoáng các khuôn mặt của cả những người vốn là kẻ thù của ông -  giờ đây họ cũng đến để từ biệt ông lần chót.


 


Maicơn nhìn cảnh đó với một nụ cười nửa miệng lịch sự và lạnh lùng. Anh không chú ý đến chung quanh. Anh đang mải nghĩ về việc khác. Giá mình khi chết, -  anh nghĩ, -  cũng nói được những lời "Ôi, cuộc đời đẹp quá!", thì tất cả những cái khác đều hoá thành vô nghĩa. Có được một lòng tin như vậy vào bản thân mình, thì mọi chuyện trên đời đều trở nên không quan trọng. Anh sẽ noi theo gương bố. Anh sẽ gắng chăm lo cho con cái, gia đình mình – cho cái thế giới mà anh được sinh ra để sống. Nhưng các con của anh sẽ lớn lên không phải trong cái thế giới này. Anh sẽ gắng sức để các con anh được hoà nhập vào một cộng đồng có trật tự và quy mô khác -  cộng đồng xã hội loài người. Chúng có thể sẽ là bác sĩ, nghệ sĩ, kỹ sư, nhà khoa học. Là Thống đốc, Tổng thống, là bất kỳ một ai chúng muốn. Và anh, một người cha khôn ngoan và đầy uy lực, đến lúc đó vẫn theo dõi sát sao cái đại gia đình ấy.


 


Vào buổi sáng ngày hôm sau lễ tang, toàn bộ những người có chức sắc trong gia đình Côrleône tập trung tại nhà của ông Trùm. Họ được Maicơn Côrleône mời đến lúc gần trưa.


 


Mọi người lần lượt bước vào căn phòng làm việc ở cuối nhà: hai lão 'lãnh đạo' (caporegime) Clemenxa và Texxiô, Rôccô Lampône trầm tĩnh và tháo vát, Carlô Ritdi rất khiêm tốn, biết thân biết phận mình... Tôm Haghen, do hoàn cảnh đột xuất nen buộc phải tạm thời rời bỏ các công việc mang tính chất pháp lý thuần tuý. Và Anbert Nêri bám theo Maicơn khắp nơi như một cái bóng, khi thì châm thuốc, khi thì rót rượu cho Maicơn, như cố ý trưng bày sự trung thành không gì lay chuyển nổi của mình.


 


Bố Già mất đi là cả một tai hoạ đối với cánh Côrleône. Theo những nhận định tỉnh táo và sáng suốt, cái chết của ông Trùm đã mang đi quá nửa lực lượng của gia đình, làm mất hẳn tư thế của họ trong những cuộc thương thuyết với liên minh Barđini-  Tataglia hợp nhất với nhau. Những người có mặt trong phòng đều biết điều đó và đợi xem Maicơn sẽ nói gì. Đối với họ, Maicơn không phải là ông Trùm mới – anh chưa đủ tư cách đó trong thực tế lẫn trên nguyên tắc. Giá như don Côrleône sống lâu hơn ít nữa, chắc ông sẽ đào tạo được anh thành người kế vị xứng đáng. Còn bây giờ thì vấn đề đó còn cần phải xem xét.


 


Đợi đến khi Nêri rót rượu mời hết lượt mọi người, Maicơn mới cất tiếng nói khẻ:


-  Tôi chỉ muốn nói rằng tôi rất hiểu tình cảm của mọi người. Tôi biết các chú và các anh em kính trọng bố tôi như thế nào, nhưng bây giờ ai cũng đang lo lắng cho hoàn cảnh, cho số phận của chính mình và những người thân của mình. Tôi nghĩ rằng nhiều vị muốn hỏi: biến cố này có ảnh hưởng đến tương lai của chúng ta, đến những lời tôi đã hứa với mọi người không? Tôi xin trả lời: Không. Tất cả sẽ vẫn không có gì thay đổi.


 


Clemenxa lắc mái đầu rối bù lớn tướng. Tóc lão xám màu thép và bộ mặt nung núc thịt hằn sâu vẻ bất bình. Lão nói:


-  Maicơn, bọn Barđini và Tataglia bây giờ sẽ nhào vô nuốt sống chúng ta. Cần phải hoặc lo tổ chức lực lượng phòng thủ, hoặc là đầu hàng ngay cho xong.


Mọi người có mặt trong phòng đều nhận thấy rằng chẳng những Clemenxa không xưng Maicơn là don, mà thậm chí lão không gọi cả họ tên đầy đủ của anh, mà chỉ cụt lủn " Maicơn".


-  Ta sẽ chờ xem, -  Maicơn đáp, -  Cứ để cho bọn chúng vi phạm hoà ước trước.


Texxiô chêm vào bằng giọng cố tỏ ra ngọt xớt:


-  Thì chúng đã vi phạm rồi đó thôi, Maicơn. Từ sáng chúng đã cho mở hai điểm bao đề ở Bruklin. Tin của chính lão đại uý đi lập danh sách những người không bị cảnh sát khu vực đụng đến cho hay đấy. Chỉ khoảng tháng nữa là mình chẳng còn mảnh đất nào ở Bruklin để cấm nhà nữa đâu.


Maicơn đưa mắt nhìn lão chầm chầm:


-  Thế chú đã phản ứng gì chưa?


Texxiô lắc mái đầu nhỏ thó chải rất cẩn thận:


-  Chưa. Tôi không muốn làm anh thêm khó xử.


-  Thế là tốt, -  Maicơn nói, -  Cần phải như vậy, hiện thời cứ ngồi im đã. Và xin mọi người khác cũng thế, tạm ngồi im cho. Không được phản ứng trước bất cứ một vụ khiêu khích nào. Cho tôi vài tuần lễ để thăm dò, thu xếp một vài việc, định hướng nên hành động thế nào để có lợi nhiều nhất cho tất cả và mỗi người chúng ta. Đến lúc đó ta sẽ họp lại lần nữa và quyết định dứt khoát lần cuối.


 


Làm ngơ trước vẻ nghi ngờ hiện ra trên mặt mọi người, anh ra hiệu cho Nêri lịch thiệp mời tất cả ra cửa. Nhưng khi Tôm Haghen vừa dợm bước thì Maicơn gọi giật lại.


 


-  Tôm, anh nán lại một chút.


Tôm Haghen bước đến bên cửa sổ mở hướng ra sân, nhìn xuống dưới, thấy Nêri lần lượt đưa các 'lãnh tụ' (caporegime) và Rôccô Lampône qua bọn lính gác ra ngoài cổng lớn của cư xá. Y quay lại phía Maicơn:


-  Anh đã nắm hết các đầu mối chính trị chưa?


Maicơn lắc đầu với vẻ tiếc rẻ:


-  Chưa hết đâu. Giá có được thêm bốn tháng nữa..... Chính ông cụ đang làm chuyện này với tôi. Tuy nhiên, toàn bộ toà án đã nằm trong tay tôi – chúng tôi bắt đầu từ bọn này mà. Và mấy tay nghị sĩ nữa. Toàn cỡ có thế lực nhất, và dĩ nhiên là các lãnh tụ đảng phái đoàn thể ở Niu York -  với họ thì đơn giản thôi, mình đã nắm được từ lâu rồi. Gia đình Côrleône hùng mạnh hơn nhiều so với người ta tưởng. Nhưng tôi còn muốn biến nó thành bất khả xâm phạm. – Anh mỉm cười nói với Haghen, -  Thế nào, chắc anh đã tính được hết rồi chứ?


 


Haghen gật đầu:


-  Chuyện đó chẳng có gì phức tạp. Tôi đã tính ra hết ngay từ đầu. Trừ một điểm, -  tại sao anh lại gạt tôi ra rìa. Nhưng khi tôi, nói một cách hình ảnh, -  đã đội lên đầu cái mũ Xixili, thì cuối cùng cũng đã tính ra cả cái đó nữa.


 


Maicơn cười ha hả:


-  Thì ông già cũng đã nói với tôi như vậy. Nhưng tôi không thể cho phép mình lãng phí như vậy nữa. Tôi cần có anh ở đây. Ít ra là trong mấy tuần sắp tới. Anh hãy gọi điện về Las Vegas báo cho bà xã biết. Nói là chỉ ở lại vài tuần thôi.


Haghen trầm ngâm im lặng:


-  Theo anh, bọn chúng sẽ bắt đầu từ hướng nào?


Maicơn thở dài:


-  Ông già đã dặn dò rất rõ rồi. Chúng sẽ hành động thông qua một người nào đó trong đám gần gũi nhất. Barđini sẽ hạ tôi bằng tay của một kẻ thân cận nhất, nằm ngoài mọi nghi ngờ.


Haghen cười khẩy:


-  Kiểu như tôi phải không?


Maicơn cũng đáp lại bằng một cái cười khẩy:


-  Anh là người Irlend, chúng sẽ không tin anh.


-  Kể đúng ra một nửa là người Đức. Còn nói chung đã là người Mỹ rồi.


-  Đối với chúng như vậy nghĩa là người Irlend – Maicơn nói, -  Chúng sẽ không dùng anh. Và chúng cũng không dùng Anbert Nêri, vì Nêri trước đây đã từng là cảnh sát. Hơn nữa, hai người lại quá thân cận, bọn chúng sẽ không muốn mạo hiểm. Vụ này chỉ xuống tay một lần, đâu làm lại được. Còn Rôccô Lampône thì chưa đủ thân cận. Không, kẻ đó sẽ hoặc là Clemenxa, hoặc là Texxiô, hoặc là Carlô Ritdi.


Haghen nói rất khẻ:


-  Theo ý tôi, Carlô.


-  Chúng ta sẽ xem, -  Maicơn nói, -  Chẳng còn lâu nữa đâu, điều đó sẽ được làm sáng tỏ.


Điều đó đã được làm sáng tỏ vào ngay buổi sớm hôm sau, khi Haghen và Maicơn đang ăn sáng. Chuông điện thoại réo trong phòng làm việc. Maicơn vội chạy vào nghe, khi quay ra bếp, anh nói:


-  Đấy, thế là xong. Đúng một tuần nữa tôi sẽ gặp Barđini. Để thảo luận với hắn về những điều kiện về một hoà ước mới cần phải ký sau khi ông Trùm không còn nữa. -  Nói rồi anh cười nhạt.


Haghen hỏi:


-  Ai gọi điện đến? Ai được họ chọn làm người môi giới?


Cả hai đều biết rằng: ai trong số thành viên của gia đình Côrleône thực hiện mối liên lạc giữa hai bên, người đó là kẻ phản bội. Maicơn nhìn Haghen với một nụ cười buồn: "Texxiô".


 


Họ ăn tiếp bữa sáng không nói thêm một lời. Uống nốt tách cà phê, Haghen lắc đầu:


 


-  Tôi đã sẵn sàng đánh cuộc rằng kẻ đó phải là Carlô. Hoặc cùng lắm – Clemenxa. Không thể nào nghĩ lại là Texxiô. Lão là người thông minh nhất trong bọn.


 


-  Ông ta khôn ngoan nhất, -  Maicơn nói, -  Và ông ta đã làm cái mà theo ông ta là khôn ngoan nhất: thí tôi cho Barđini để nhận quyền thừa kế gia đình Côrleône. Còn nếu như đi cùng tôi thì ông ta sẽ bị giẫm nát. Bởi vì theo ông ta, tôi đâu thể đương đầu với bọn kia.


 


Im lặng một lát, với vẻ ngập ngừng rõ rệt, Haghen hỏi:


 


-  Thế tính toán của ông ta đúng được mấy phần?


 


Maicơn nhún vai:


 


-  Ở ngoài mà nhìn thì ai cũng sẽ nói là tôi sắp ăn cám rồi. Nhưng không phải ai cũng hiểu được rằng các mối quan hệ và ảnh hưởng trong giới cảnh sát đáng giá bằng hàng chục các 'chế độ' (regime). Chỉ mình ông già hiểu điều đó. Tôi nghĩ rằng hiện nay tôi đã nắm chắc cái lực lượng này, mặc dù ngoài tôi ra không một ai biết điều đó. -  Anh mỉm cười thân mật với Haghen, -  Không sao, họ sẽ còn phải gọi tôi là don... Nhưng vụ lão Texxiô này làm tôi thật đau lòng.


 


-  Anh đã đồng ý gặp Barđini? – Haghen hỏi.


 


-  Còn sao nữa. Sau một tuần. Ở Bruklin, trên lãnh thổ của Texxiô, nới một con ruồi cũng không dám đậu lên người tôi! -  Anh lại cười nhạt.


 


Haghen nói:


 


-  Từ nay đến đó anh phải hết sức cẩn thận đấy.


 


Lần đầu tiên Maicơn lạnh lùng nhìn y:


 


-  Tôi không cần 'cố vấn' (consigliori) để nói những lời khuyên như vậy, -  anh nói.


 


Trong tuần lễ trước ngày gặp Barđini để thoả thuận hoà ước mới. Maicơn đã tỏ ra cho Haghen biết thế nào là thận trọng. Anh không hề bước chân ra khỏi cổng cư xá, không tiếp một ai mà không có vệ sĩ Anbert Nêri đứng kèm. Và mọi việc chắc đã êm đẹp trôi đi nếu không gặp phải một chuyện rắc rối đáng phiền.


 


Đứa con trai đầu của Cônni và Carlô sắp phải làm lễ xức dầu theo nghi thức nhà thờ công giáo. Cả hai vợ chồng muốn Maicơn nhận làm cha đỡ đầu đứa nhỏ, nhưng không dám nói trực tiếp, phải nhờ Kêi nói hộ. Maicơn từ chối.


 


-  Anh Maicơn, em rất ít khi xin anh việc gì, -  Kêi nài nỉ, -  Anh hãy làm việc này vì em, Cônni rất muốn được như vậy. Cả Carlô nữa. Đối với cô, chú ấy, việc này rất quan trọng. Em xin anh, Maicơn.


 


Cô thấy chồng có vẻ không bằng lòng trước những lời nài nỉ của cô, nghĩ rằng anh sẽ gạt phắt đi. Nhưng Kêi ngạc nhiên thấy anh gật đầu:


 


-  Thôi được. Em bảo vợ chồng nó mời linh mục về làm lễ tại đây. Anh chịu hết mọi phí tổn. Nếu gặp khó khăn gì về phía chức sắc nhà thờ, em bảo Haghen thu xếp giùm.


 


Vậy là vào ngày hôm trước buổi hẹn gặp với Bardini, Maicơn Côrleône đến dự lễ xức dầu cho con trai đầu của Cônni và Carlô với tư cách là cha đỡ đầu -  Bố Gìa -  của đứa bé. Anh tặng thằng nhỏ một chiếc đồng hồ đeo tay đắt tiền với sợi dây bằng vàng. Nhân sự kiện này vợ chồng Carlô tổ chức một bữa tiệc tại nhà riêng, mời các 'lãnh tụ' (caporegimes) Texxiô và Clemenxa, Haghen, Lampône và tất cả mọi người ở trong khu cư xá, dĩ nhiên là cả bà trùm Côrleône cùng đến mừng cháu ngoại. Nhưng người sướng nhất là Cônni, suốt cả buổi tối cô ta cứ tìm cách ôm hôn anh trai Maicơn với chị dâu Kêi. Cả Carlô Ritdi cũng cảm động đến phát khóc, rối rít lắc tay Maicơn và hễ gặp dịp thuận tiện là lại theo tục lệ cũ, gọi anh là Bố Gìa. Cả Maicơn cũng chưa bao giờ vui vẻ hào hứng như thế. Cônni sung sướng ghé tai Kêi thầm thì:


 


-  Chị xem kìa.....em nghĩ anh Maicơn và Carlô bây giờ đã thân nhau thật sự rồi. Những dịp như thế này bao giờ cũng làm người ta gần nhau hơn.


 


Kêi nắm lấy khuỷu tay em chồng bóp nhẹ:


 


-  Được thế thì thật là tuyệt!


Chương 30


 


Trong căn nhà của mình bên Bronkx, Anbert Nêri loay hoay chải thật kỹ bộ sắc phục cảnh sát bằng da xanh đã cũ. Phù hiệu gã đã tháo ra cọ thật bóng. Dây lưng và bao súng treo lủng lẳng trên lưng ghế. Cái bận rộn quen thuộc đã đem lại cho Nêri một cảm giác thích thú là lạ, mà suốt hai năm nay -  kể từ ngày vợ gã bỏ đi – ít khi gã được hưởng.


 


Lúc lấy vợ Anbert mới gia nhập lực lượng cảnh sát chưa được bao lâu, cô vợ Rita bấy giờ còn là một nữ sinh non choẹt, con nhà làm ăn tử tế gốc Ý, vốn rất giữ gia phong nên cô bé rụt rè nhút nhát tợn, chưa lần nào đi chơi khuya quá mười giờ. Rita ngây thơ, duyên dáng, mái tóc đen huyền kiều diễm, mà lại ngoan ngoãn hiền lành, chẳng trách Anbert Nêri say như điếu đổ.


 


Hồi mới lấy nhau, Rita nhìn chồng bằng ánh mắt đắm đuối. Gã khoẻ như voi và cô thấy người ta sợ gã không chỉ bởi sức mạnh thể chất, mà còn bởi lòng trung thành không thể lay chuyển đối với những khái niệm tốt xấu của gã. Gã không quen cái kiểu lịch sự tế nhị. Nếu không đồng ý với ai cái gì thì gã hoặc ngậm tăm hoặc hung hăng cãi ngay. Tính gã thẳng ruột ngựa, không bao giờ đồng ý với ai chỉ để lấy lòng. Thêm vào đó, gã có tính cách Xixili chính cống khiến dân tình xung quanh lắm phen khiếp vía.


 


Trong năm năm trời phục vụ trong ngành cảnh sát Niu York, Nêri đã nổi danh là một trong những người bảo vệ pháp luật mặt sắt nhất thành phố. Đồng thời còn là người liêm khiết vào loại nhất nhì. Có điều gã bảo vệ pháp luật theo cách riêng của mình. Bọn tội phạm lớn bé bị gã căm ghét như kẻ thù của chính mình, và hễ trông thấy đám du côn dở trò mất dạy với người qua đường trong góc tối nào đó là gã ra tay ngay, ra tay quyết liệt, thần tốc. Nhờ có sức mạnh phim phàm nên gã ưa dùng những biện pháp chân tay.


 


Một đêm đang ngồi xe tuần tiễu trong khu vực Tây Công Viên Trung Tâm, gã bắt gặp một đám sáu gã trai hoi đang quấy phá. Nêri vọt ra ngay -  thằng đồng sự biết tính gã nên cứ ngồi nguyên trên xe, không muốn giây vào. Chỉ trong nháy mắt, gã đã gom đủ sáu chú ranh con chưa quá hai mươi, chú nào cũng diện áo vét đen ra dáng tay chơi lắm. Bọn này chẳng phải tội phạm tội phiếc gì hết, chẳng qua rảnh việc rỗi hơi, túm tụm nhau đi rông, gặp đàn ông thì kéo cổ xin thuốc, xin lửa, còn đàn bà con gái thì chúng chọc ghẹo, giở trò mất dạy, nhưng tuyệt nhiên không động chạm gì đến thân thể họ.


 


Nêri bắt sáu chú đứng sát vào tường, đứng nghiêm không được động đậy mà nghe gã hùng hổ quát tháo, cây đèn pin tổ bố cứ vung loang loáng. Tuy đi tuần tra bao giờ Anbert cũng đeo súng, nhưng chẳng bao giờ gã dùng đến. Lúc gã bực lên, nguyên bộ mặt hung thần với bộ đồ cảnh sát là đủ để bọn du côn mất mật rồi. Lần này cũng thế. Sau khi bắt sáu chú xếp hàng xong, gã mới tra từng chú một. Thằng thứ nhất có vẻ Irlơnđ. Gã quát: "Cút! Tao mà còn thấy mày thò mặt ra đường lần nữa thì cứ giờ hồn!" Chú chàng biến vội. Hai thằng sau cũng thế. Nhưng thằng thứ tư thì rõ là dân Ý – nghĩa là đồng hương với thầy cảnh sát. Cu cậu tưởng bở, ngẩng lên ngỏn nguẻn. Nghe Nêri hỏi: "Mày người Ý hả?" -  cu cậu còn gật đầu cười nịnh. Thế là Anbert Nêri vung tay táng cho cu cậu một phát đèn pin vào giữa trán, máu me túa ra ghê lắm, may mà chưa vỡ gáo. Thằng kia quỵ xuống. Gã nắm cổ thằng ranh nhấc lên, quát: "Mày làm nhơ danh người Ý. Người Ý đâu có thứ như mày? Đứng lên!" Thằng kia lom khom không dám đứng thẳng thì bị gã tống cho một đầu gối vào bụng, cảnh cáo: "Biến! Lần sau tao mà còn nhìn thấy mày mặc thứ áo quái gỡ này láng cháng ngoài đường thì bỏ mẹ với tao. Phúc tổ bảy mươi đời là mày không phải con tao đấy!" Hai thằng còn lại dĩ nhiên là sợ vãi đái, không cần phải nói nhiều, chỉ bị đá đít đuổi về, cấm không được phất phơ ngoài phố.


 


Những màn lập lại trật tự kiểu này gã làm vừa nhanh vừa gọn, không ai kịp can thiệp nói ra nói vào gì, không kịp để bà con xúm lại nữa. Gã làm việc rất chớp nhoáng, nhảy lên xe đóng cửa là thàng đồng sự rồ máy phóng đi luôn. Tất nhiên thỉnh thoảng cũng đụng phải đứa lì định giở võ hay thậm chí còn rút dao. Những lúc như thế thì thật cám cảnh thay cho thằng kia. Nêri loáng một cái đã tẩn cu cậu một trận máu me tàn nhẫn rồi quẳng lên xe tuần tiểu. Sau đó cu cậu còn bị giam và bị buộc tội hành hung nhân viên công lực. Nhưng thông thường phải đợi chán chê, đến lúc can phạm xuất viện mới xử gì thì xử.


 


Ít lâu sau Nêri đã bị đổi sang khu vực có trụ sở Liên Hiệp Quốc. Các quan chức Liên Hiệp Quốc cậy quyền bất khả xâm phạm ngoại giao cứ đỗ xe bừa bãi ở các phố lân cận, bất chấp quy định của cảnh sát. Nêri báo cáo lên cấp trên thì người ta bảo gã chịu khó làm ngơ để khỏi phiền phức. Một tối nọ vì xe các bố để lung tung quá, làm cả một đoạn đường bị nghẽn. Chờ đến quá nửa đêm, Nêri mới lôi cây đèn tổ bổ của mình trong xe tuần cảnh ra, xách đi dọc phố, cứ xe nào đỗ sai chỗ là gã đập vỡ kính bằng hết. Đi gắn lại kính ít nhất phải mất vài ngày, dù có là nhà ngoại giao cao cấp nhất cũng thế. Đơn thưa báo tới tấp bay đến bót cảnh sát yêu cầu ngăn chặn ngay hành động côn đồ kia. Thêm một tuần nữa kính xe liên tiếp bị đập rồi mọi người mới biết đó là thành tích của Nêri. Gã bị đổi sang Harlem.


 


Sau đó ít lâu, một sáng chủ nhật Nêri đưa vợ sang Bruklin thăm bà chị. Bà chị goá chồng nên, theo đúng truyền thống Xixili, cậu em Anbert có nghĩa vụ thay thế bổn phận người quá cố -  tức là lâu lâu xuống xem có gì cần lo lắng giải quyết không. Chuyện đáng lo thì có đấy. Thằng cháu mồ côi cha năm nay xuýt xoát hai mươi đã bắt đầu lêu lỗng mà bà mẹ không bảo được. Có lần ông quý tử đua đòi cũng theo người ta đi đánh quả. Không có cậu Anbert nhờ anh em đồng nghiệp tha cho nó một lần thì quả này ông cháu ngồi tù là cái chắc. Thực tình Nêri sốt tiết lắm, nhưng chỉ bấm bụng cảnh cáo: "Nghe đây, lần này tao bỏ qua, nhưng mày còn làm khổ mẹ mày lần nữa là biết mặt tao!" Ở nhà người ta thì đó là ông cậu dạy dỗ bảo ban thằng cháu, nhưng nếu ông cậu là Anbert Nêri thì phải hiểu đây là lời răn đe thực sự, nên thằng cháu Tômax rét quá, tuy cũng là loại đầu bò đầu bướu trong đám chọi con Bruklin chứ chẳng phải mèng.


 


Tối hôm trước, tối thứ bảy, Tômax đàm đúm đi chơi, mãi gần sáng mới mò về nên đã đứng bóng rồi mà cu cậu vẫn chưa dậy. Mẹ nó vào đánh thức nó dậy, bảo rửa mặt rửa mũi, mặc quần áo xuống ăn cơm với cậu mợ Anbert luôn thể. Thằng ranh lầu bầu:


 


-  Để người ta ngủ. Cậu với chả mợ, rách việc!


 


Cửa buồng chỉ khép hờ nên Anbert nghe hết, nhưng thấy bà chị đi ra có vẻ sượng sùng nên hắn phải lờ đi để ngồi ăn cho vui vẻ cả nhà.


 


Lúc ngồi nói chuyện, Nêri hỏi bà chị dạo này thằng Tômax có lếu láo nữa không thì bà lắc đầu. Nhưng thật không may cho nó, lúc vợ chồng ông cậu sắp sửa ra về thì nó trong phòng ngật ngưỡng bước ra, hậm hực chào lấy lệ rồi xuống bếp lục cơm. Một lúc sau nó ở dưới bếp hét toáng lên:


 


-  Đói bỏ mẹ mà chẳng còn cái cứt gì ăn đây!


 


Mẹ nó mắng:


 


-  Cơm có bữa, không ăn thì thôi. Ngủ nữa ngày mới dậy không ai công đâu mà chờ!


 


Thằng ranh ăn nói mất dạy chẳng qua chỉ là học đòi kiểu nói đầu đường xó chợ đang thịnh hành chúu chẳng phải để hạch sách bà mẹ bôi bác cả nhà đâu. Nhưng không biết vì còn ngái ngủ hay vì đói bụng đâm ra cáu kỉnh, nó buột miệng văng ra một câu, không nhớ rằng ông cậu Anbert nãy giờ đã sốt ruột lắm rồi.


 


-  Không chờ thì đi ăn hàng chứ báu đ.....gì!


 


Nói vừa dứt lời, chưa kịp hối thì đã bị cánh tay như cái gọng sắt của ông cậu tóm cứng. Ra thằng này láo quá! Nó dám ăn nói với mẹ nó cái kiểu ấy cơ đấy. Có mặt cậu mợ đây mà nó còn thế thì ngày thường ở nhà nó còn bố láo đến đâu? Thằng mất dạy này phải sửa ngay một trận mới được.


 


Chẳng biết gặp ngày sát chủ hay hổ vồ mà hôm đó thằng Tômax được một trận mê tơi lên bờ xuống ruộng. Hai người đàn bà đứng ngoài mặt mũi tái xanh tái tím chẳng dám mở mồm can. Lúc đầu thằng cháu còn gắng gượng đỡ đòn, nhưng qua hai ba hiệp, cu cậu chỉ còn biết lạy như tế sao. Mặt mũi bầm dập, máu me be bét, đầu bị đập vào tường cồm cốp, bụng đau quằn quại sau mỗi cú đấm thôi sơn, sau hết, lúc đã ngã lăn quay ra, cu cậu lại còn bị nắm tóc mà dộng huỳnh huỵch xuống sàn.


 


Đánh một lúc, ông cậu dừng tay, tóm cổ lôi thằng cháu xuống đường, tống vào xe toát cho một trận:


 


-  Nhớ đấy, tao mà còn nghe mày ăn nói mất dạy với mẹ mày lần nữa thì đừng có trách, tao đánh cho hư người ra chứ không phải chỉ sơ sơ thế này thôi đâu, nghe chưa? Gã dừng lại một lát để thằng bé nhập tâm lời dạy bảo ân cần đó, rồi tiếp: Bây giờ mày lên bảo mợ mày tao đang chờ dưới này. Để xem mày đã biết vâng lời chưa nào.


 


Sau bận ấy hai tháng, một đêm đi trực về, Anbert Nêri không thấy vợ đâu. Rita đã gói ghém đồ đạc về nhà bố mẹ rồi.


 


Ông bố vợ cho chàng rễ hay là Rita sợ gã – cô ta không dám sống với một người tính tình hung tợn như vậy. Nêri ngớ cả người -  có bao giờ gã đụng đến vợ đâu, có bao giờ gã nặng lời với cô ta đâu, đối với vợ gã một mực yêu thương âu yếm chứ có gì kia khác đâu. Gã không dám tin rằng cô ta lại bỏ gã, nên định bụng chờ vài hôm cho hết bàng hoàng rồi sẽ đến hỏi cho ra nhẽ.


 


Thật oái oăm sao, ngày hôm sau lại xảy ra chuyện lôi thôi. Trong lúc gã đang tuần tra trong khu vực thì có tin báo trên một đường phố có một vụ hành hung. Theo thói quen, xe vừa đến nơi chưa kịp dừng, Nêri đã nhảy phắt xuống rồi, tay vung vẩy đèn pin. Gã lập tức thấy ngay chỗ nào cần đến: một đám đông đang xúm xít trước lối vào một ngôi nhà. Một người đàn bà da đen bảo gã: " Nó cắt tiết con bé mất thôi, trong kia kìa”.


 


Nêri bước vào cửa lớn. Từ khuôn cửa mở phía cuối hành lang hắt ra ánh đèn và có tiếng rên la. Tay nắm chặt đèn pin, gã xông ngay vào và xuýt nữa đụng phải mấy thân người nằm sóng soài dưới sàn. Một đứa bé gái chưa đến mười hai nằm ngay bên một người đàn bà da đen khoảng hai lăm tuổi, cả hai máu me đầy người vì những nhát rạch sâu hoắm. Hung thủ đứng lù lù ngay trước mặt Nêri trong phòng khách. Tưởng ai, hoá ra người quen: Vekx Bêinx -  một tên ma cô kiêm bán ma tuý khét tiếng, một nghệ sĩ chơi dao bậc thầy. Hắn ngước cặp mắt đờ dại đang lên cơn nghiện nhìn ra, lưỡi dao cạo bê bết máu rung rung trong tay. Mới hai tuần trước Nêri vừa túm cổ thằng kia về bót vì tội hành hung một con điếm bạn hàng ngay giữa đường. Hôm ấy bị bắt, thằng khốn còn nỏ mồm: " Này, không việc gì đến bọn cớm chúng mày đâu nhé!" Tay cùng đi với Nêri cũng nghĩ thế. Bọn đen này cứ để chúng nó lụi nhau chết cha cả nút đi cho xong, dính vào làm quái gì? Nhưng Nêri thì cứ nhất định hốt thằng này về đồn giao cho pháp luật trị tội. Ai dè ngay hôm sau thằng kia đã được luật sư đóng tiền thế chân lôi ra rồi.


 


Xưa nay Nêri đã sẵn ghét bọn đen. Người đâu lại có thứ người chỉ biết đớp hít cho sướng mồm, vợ con có đi làm đĩ cũng mặc xác. Thành thử bây giờ trước cảnh coi thường luật pháp trắng trợn kia, cơn điên của Nêri lại bốc lên ngùn ngụt. Gã định bụng không xúc thằng Bêinx về bót làm gì mất công, phải trị luôn ngay tại đây là hơn.


 


Vừa nghĩ thế thì đã có bao nhiêu là nhân chứng lố nhố sau lưng -  những người hàng xóm sống cùng một chung cư đã kéo đến; cả tay đồng sự cũng bỏ xe chạy vào nữa. Nêri nhìn thằng côn đồ quát lớn:


-  Bỏ dao xuống! Mày đã bị bắt.


Thằng kia cười hềnh hệch:


-  Mày cứ thử bắt bố mày xem, tưởng bở! -  Hắn vung dao lên: -  Mày cứ nhảy vào đây xơi thử một nhát xem nào!


Nêri ra tay nhanh như chớp khiến tay đồng sự không kịp rút súng. Tay trái gã chộp tay cầm dao cạo thằng kia, tay phải vung cây đèn pin đi một đường vòng cung khủng khiếp: cây đèn quất trúng thái dương thằng khốn. Đầu gối thằng đen rủn ra như say rượu, đánh rơi cả lưỡi dao cạo. Chỉ một cú đánh ấy, thằng này đã đủ đo ván rồi. Chính vì thế mà cú thứ hai – sau này đã được các nhân chứng xác nhận trước toà – là hoàn toàn không cần thiết. Kết quả là cây đèn bằng nhôm to tướng như thế mà gẫy rời phần đầu, bóng đèn, mặt kính bay tứ tung, giá không có mấy cục pin bên trong chắc cây đèn cũng gẫy tan rồi. Một cú như vậy thì xương cốt ai chịu cho lại? Tên ma cô da đen vỡ sọ và hai giờ sau chết ở bệnh viện Harlem.


 


Nêri bị ra toà vì tội giết người không chủ tâm. Toà tuyên án gã từ một đến mười năm tù ngồi. Gã nghe bản án với một cảm giác lẫn lộn ngạc nhiên và phẫn nộ. Kể từ giờ phút ấy, gã đâm ra căm thù cái xã hội gã đang sống đến mức chẳng còn thiết gì cả. Chúng nó lại dám coi gã là tên tội phạm! chúng lại dám tống gã vào tù vì gã đã tiêu diệt cái thứ sâu bọ da đen, cái thằng ma cô, cái thằng súc sinh ấy! Còn hai mẹ con phải thương tật suốt đời và đến giờ vẫn còn nằm nhà thương kia thì không làm ai động tâm...


 


Nêri không sợ tù tội. Gã tin hắc rằng ở đây gã sẽ được đối xử tốt -  phần vì gã là cựu cảnh sát, phần vì ở đó người ta sẽ biết vì sao gã phải ngồi tù. Mấy thằng bạn đồng nghiệp đã hứa sẽ nói chuyện với những người có trách nhiệm về trường hợp gã, chỉ có ông bố vợ -  một người Ý lõi đời, chủ vựa cá ở Bronkx và vẫn trung thành với các nề nếp cũ – là hiểu cơ hội sống sót ra khỏi tù sau một năm của một đứa như Anbert Nêri là hết sức nhỏ nhoi. Hoặc đứa nào giết gã, hoặc gã giết ai đó. Cảm thấy có lỗi vì con gái mình đỏng đảnh bỏ một người chồng tử tế, ông bố vợ lợi dụng chỗ quen biết với gia đình Côrleône (ngoài khoản lệ phí bảo vệ, ông ta vẫn thường xuyên biếu cá ngon) đã đến xin nhà này bênh vực cho.


 


Gia đình Côrleône không lạ gì Anbert Nêri. Là người bảo vệ hung hăng của trật tự, gã đã trở thành một nhân vật huyền thoại – có tiếng là một người mà đụng vào là mất mạng như chơi, một người đáng sợ không phải bởi gã mặc sắc phục và đeo súng, mà bởi bản thân gã đáng sợ. Xưa nay cánh Côrleône vốn để ý đến loại người như vậy. Việc gã đã từng phục vụ trong cảnh sát không có ý nghĩa gì lắm. Lúc trẻ thiếu gì người lầm đường, không biết số phận mình là đâu, nhưng thường thường thời gian và dịp may sẽ đưa họ đi đúng lối.


 


'Lãnh tụ' (caporegime) Pitơ Clemenxa liền hăng hái tiến cử Anbert Nêri cho Tôm Haghen – lão béo này cũng biết người biết của lắm. Haghen cũng đã nghe danh Nêri và tin lời lão nhưng vẫn cứ cho điều tra rõ lai lịch của gã. Haghen bỗng có linh cảm gì đó. Y lầm bầm:


-  Thằng này giống hệt Luca Bradi dạo nào.


Lão béo gật lấy gật để:


-  Thì tao cũng nghĩ thế. Để bảo Maicơn thử xem.


Nói ngắn gọn thì trước khi Anbert Nêri bị chuyển từ nhà lao Niu York đến nơi thụ án thì gã được thông báo rằng dựa trên những tin tức mới thu được cũng như căn cứ vào lời chứng của một quan chức cảnh sát cao cấp, toà quyết định xem xét lại vụ án. Bản án trước được thay thế bằng án treo và Nêri được trả tự do, thích đi đâu thì đi.


 


Anbert Nêri không phải là đứa ngây thơ, còn ông bố vợ gã cũng phải loài trinh nữ e ấp. Sau khi biết rõ mọi chuyện, gã liền ký đơn ly dị để đền ơn bố vợ. Sau đó gã nhờ người đánh tiếng xin sang Long Bich để tỏ lòng cảm tạ các ân nhân. Dĩ nhiên gia đình Côrleône đồng ý và Maicơn đã tiếp gã trong văn phòng.


 


Nêri vừa mở mồm nói mấy lời cảm ơn khách sáo thì ngạc nhiên cảm động thấy Maicơn đáp lễ một cách chân thành không chút gượng gạo.


 


-  Quái gì, người Xixili mình mà bị chúng nó đối xử tàn tệ nước ấy tôi đâu thể làm ngơ được – Maicơn nói.


 


-  Không khen thưởng anh thí chớ lại còn trù đập nữa mới quá đáng chứ. Nói để anh rõ, đáng lẽ tôi sẽ chẳng can thiệp đâu nếu như không hỏi kỹ và được biết rằng người ta đã bất công với anh. Người của tôi đã hỏi chuyện bà chị anh. Bà ấy bảo anh chăm sóc bà ta rất chu đáo và chịu khó uốn nắn dạy bảo thằng con bà ấy. Ông bố vợ anh khen anh lắm. Chẳng mấy người được thế đâu, quý hoá quá.


 


Maicơn tế nhị không nhắc đến chuyện Nêri bị vợ bỏ.


 


Câu chuyện mỗi lúc một thêm mặn mà. Từ bé đến giờ Nêri rất ít nói, nhưng Maicơn Côrleône biết gợi để hắn dốc bầu tâm sự. Cũng lạ, Maicơn chỉ hơn hắn có năm tuổi mà chững chạc, già dặn hơn hẳn, đáng mặt đàn anh, thậm chí Nêri còn coi như bố. Sau cùng maicơn bắt sang chuyện làm ăn.


 


-  Cứu anh ra mà bỏ mặc anh cùng quẫn không biết bấu víu vào đâu thì chẳng thà đừng cứu. Tôi có thể giúp anh kiếm việc nữa. Tôi có cổ phần trong các sòng bạc ở Las Vegas, một người có kinh nghiệm như anh mà phụ trách an ninh thì không gì bằng. Còn nếu anh đã nhắm trước một việc gì rồi thì tôi có thể nói giúp anh một câu để nhà băng họ cho anh vay vốn mở mang làm ăn.


 


Vừa cảm kích, vừa bối rối, Nêri khẳng khái từ chối:


 


-  Về chuyện việc làm và vốn liếng thì xin cảm ơn ông. Nhưng tự xét thấy chưa được, nên chưa dám quấy quá. Tôi rất muốn đem thân đền đáp tấm lòng của ông, khốn nỗi tôi đang mang án, dù chỉ là án treo, nhưng dù sao tôi cũng đang phải bị quản thúc. Thật bất tiện...


 


Maicơn gạt đi:


 


-  Chuyện vặt ấy mà, cái đó thu xếp có khó gì đâu. Ở nhà băng người ta sẽ không bắt bẻ khoản tiểu sử của anh đâu mà lo. Tôi sẽ giải quyết chuyện tờ phiếu vàng cho anh.


 


Phiếu vàng là thờ thông báo của cảnh sát cho Uỷ ban chống tội phạm về một cá nhân nào đó. Làm cảnh sát mãi rồi nên Nêri chẳng lạ gì chuyện nhiều tay anh chị nhờ lo lót kiếm được tờ phiếu vàng sạch sẽ mà ra toà được chiếu cố; gã chỉ ngạc nhiên vì Maicơn Côrleône cũng làm nổi trò ấy và không hiểu tại sao anh lại chịu mất công vì gã như thế.


 


-  Vâng, nếu cần gì tôi sẽ đến nhờ-  gã đáp.


 


-  Được thôi, -  Maicơn nói đoạn nhìn đồng hồ. Nêri tưởng anh nhắc khéo bèn đứng dậy để cáo từ. Nhưng Maicơn lại một lần nữa làm gã sửng sốt.


 


-  Đến bữa rồi, -  anh nói, -  Tiện thể anh ở lại dùng cơm với gia đình luôn nhé? Bố tôi bảo cụ muốn làm quen với anh. Mẹ tôi có mấy món tủ quê nhà, ngon lắm. Xin anh đừng chối từ. Ta đi chứ?


 


Anbert Nêri khó mà quên được bữa ăn đầu tiên trong gia đình Côrleône. Lâu lắm rồi, có lẽ phải từ năm mười lăm tuổi, khi mẹ gã qua đời, chưa lần nào gã được ăn một bữa cơm gia đình thân mật như thế. Gã không ngờ don Côrleône lại thân tình, vui vẻ đến thế. Xem ra ông rất khoái nghe Nêri kể lại gốc tích của gã: té ra làng ông Trùm với làng gã cách nhau có mấy bước chân!


 


Cơm ăn vừa miệng, rượu uống đúng gu, chuyện trò cứ thế nổ như ngô rang. Nêri cảm động quá -  đây mới đích thực là gia đình gã. Gã hiểu rằng gã chỉ là khách tình cờ nhưng đồng thời cũng hiểu rằng gã có thể trở thành con cháu trong nhà được.


 


Khi gã về, ông Trùm một bên, Maicơn một bên đưa ra xe. Don Côrleône nắm tay gã mà rằng:


-  Mày khá lắm, cháu! Tao già rồi, chỉ muốn nghỉ ngơi, công việc giao hết cho thằng Maicơn đây. Hôm nọ nó có nói với tao trường hợp của mày, bảo tao lo thu xếp giúp. Đầu tiên tao cũng không muốn ôm rơm rặm bụng nên gạt đi. Nó mới nói rõ tình cảnh bất công của cháu, rốt cuộc cũng phải cố một phen. Gặp mày đây tao mới hiểu là Maicơn nó không lầm, biết nhìn người đấy. Nghĩa là tao vất vả cũng bỏ công. Bây giờ muốn gì, mày cứ nói, tao với Maicơn sẽ cố giúp mày toại nguyện. Cháu hiểu chưa? Đã hiểu nhau là không có tiếc nhau cái gì hết, cháu ạ.


( Nhớ lại những lời ân cần tử tế của ông Trùm hôm ấy, Anbert Nêri cứ thấy bùi ngùi. Giá ông còn sống đến giờ thì ông sẽ thấy rằng chính ông cũng không nhìn lầm người. Hắn sẽ hoàn thành đến nơi đến chốn công việc hôm nay để ông hài lòng ).


Chưa đầy ba ngày, Nêri đã có quyết định dứt khoát. Gã hiểu rằng người ta săn đón lấy lòng gã, nhưng đồng thời gã còn hiểu một điều khác nữa. Gã hiểu rằng nhà Côrleône tán thành các hành động mà vì nó xã hội này đã lên án và trừng phạt gã. Nhà Côrleône hiểu gã, còn xã hội thì không. Gã hiểu rằng trong giang sơn nhà Côrleône gã sẽ được đối đãi tốt hơn ở cái thế giới mà gã đã sống. Và gã còn hiểu rằng trong phạm vi giang sơn mình, nhà Côrleône mạnh hơn hẳn thế giới bên ngoài.


(còn tiếp)


Nguồn: Bố già (The Godfather). Tiểu thuyết của Mario Puzo. Ngọc Thứ Lang dịch. In lần đầu tại Sài Gòn, 1972. Các NXB in nhiều lần.


 


www.trieuxuan.info  

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »