tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20017823
Tiểu thuyết
27.08.2014
Anh Đức
Một chuyện chép ở bệnh viện

Chương 1


Người đàn bà ấy đến bệnh viện trước tôi mươi hôm. Chị ta là người tôi lưu ý đầu tiên khi tôi đặt chân tới đây. Không phải chị là người miền Nam mà tôi ngợ đã gặp lần nào, hoặc đã nghe ai kể chuyện về chị. Song dáng vẻ của chị mấy ngày gần đây đã để lại trong tôi một cảm tưởng hơi đặc biệt. Dạo đó mùa đông đã đến. Xung quanh bệnh viện, những thân cây to cứ mỗi chiều tới hình như lại thu mình đứng im sừng sững. Vòm lá xanh sẫm của cây cao những chiều này vẫn chưa hóng lấy được một tia nắng mặt trời. Chị ngồi đấy, trên chiếc băng đá cạnh đường sỏi. Lúc chị tựa lưng vào thành ghế, tôi thấy vóc người chị dong dải, cặp mắt hiền dịu. Đôi mắt nhìn vật gì cũng như muốn tươi đón, hỏi han. Thoạt trông, tôi đoán chừng tuổi chị độ hăm bảy, hăm tám. Làn tóc chị hãy còn đen nhánh, vài sợi xòa nhẹ xuống mép trán. Cằm chị thon thon và đôi gò má hãy còn hây hây ửng đỏ như gò má một cô con gái. Toàn thể gương mặt chị lộ vẻ hiền hậu và nỗi buồn thầm kín.


Tôi đinh ninh chị là một bệnh nhân thường, bệnh trạng chưa đến nỗi nào. Một buổi chiều nọ sau khi ăn cơm xong, tôi cầm quyển sách định ra ghế đá ngồi đọc thì đã gặp chị lặng lẽ ngồi ở đấy. Không muốn làm động đến sự yên tĩnh của chị, tôi vội rời gót đi. Thấy tôi đi, chị vội vàng thu người lại:


- Chết, có một mình tôi mà choán cả ghế. Anh ngồi đi, anh! - Chị nói và nhường chỗ cho tôi. Không lẽ bỏ đi, tôi liền ngồi xuống. Nhìn cái khăn rằn xanh cũ choàng trên cổ chị, tôi mỉm cười nói:


- Thấy chị tôi biết là Nam bộ rồi!


- Vậy sao?


Cái tiếng "vậy sao" nửa như hỏi, nửa như đùa, nghe rất đỗi quen thuộc. Tôi hỏi chị trước ở tỉnh nào. Chị đáp:


- Tôi ở Long Châu anh à. Còn anh?


- Tôi tỉnh nào cũng có ở. Tình quê tôi trước thì cũng ở Long Châu.


- Thiệt sao? ở miệt vườn hay tại chợ?


- Tôi ở vườn hồi bé, sau thì lên tỉnh. Thế còn chị?


- Tôi ở biển.


Giữa lúc đang nói chuyện, trời chuyển mưa to. Gió thổi mạnh đập vào các cửa kính bệnh viện. Vài ánh chớp xanh loé lên giữa bầu trời đang tối sầm lại.


Người đàn bà đồng hương với tôi che trán nhìn trời, lẩm bẩm bảo:


- Có lẽ sắp mưa. Trồi nổi giông thế này ở biển là sắp động. Mùa này ở chỗ tôi, biển không lúc nào chịu yên, cứ động luôn thôi.


Tôi nói:


- Được ở biển thật là thú quá. Từ thuở nhỏ, tôi hằng ao ước được đi biển một chuyến lâu, nhưng không có dịp, thường là chỉ đi ngang qua thôi.


- Anh nói phải, sống ở biển thích lắm. Nhưng gian khổ, kể cũng gian khổ lắm.


Nói dứt câu, vẻ mặt người chị đồng hương mà tôi vừa quen đó trở nên xa vắng. Tầm mắt chị không nhìn thẳng một cái gì hết. Chừng như chị đang hình dung lại vùng biển của chị. Có lẽ chị đang nhớ lại tháng ngày cũ, khi tôi với chị nhắc tới quê hương. Cái quê hương mà trong thực tại này lắm lúc gợi cho tôi và những người đồng hương tôi bao nhớ nhung day dứt. Nhưng ở ngoài vẻ mặt, thực tình lâu nay tôi chưa hề thấy người nào biểu lộ cách xúc cảm rõ rệt như thế.


Tôi bắt đầu quen chị, biết được chị thứ tư, tên Hậu. Chị vừa mới ở nhà máy dệt lên đây. Nghe đâu chị là người thợ dệt đứng bốn máy loại giỏi. Và tôi mới rõ ra chị không phải là một bệnh nhân thường. Trong bệnh viện cái bệnh như chị kể ra hiếm lắm. Những hạch trong cổ chị bị nhiễm trùng lao sưng to lên. Theo lời ông bác sĩ ở bệnh viện thì hạch lao ấy là kết quả của những chịu đựng, những gian khổ tích lũy trong nhiều năm. Hồi cuối tháng, cơn bệnh bạo phát. Giữa một đêm chị đang đứng máy bỗng thấy người xây xẩm khó chịu. Cố làm xong kíp, khoảng ba giờ sáng chị về đến khu nhà tập thể liền bị sốt nặng.


Sau đó, mấy lần chị bị ngất đi. Xí nghiệp liền đưa chị đến bệnh viện thành phố. Nhưng ở đấy, sau khi xem xét bệnh tình, người ta đề nghị đưa chị về Hà Nội. Từ hôm về đây, bệnh chị giảm xuống. Nghe nói là chị đòi về xí nghiệp ngay. Nhưng bác sĩ không chấp thuận, bảo là bệnh chị giảm bớt như thế không có nghĩa là hết hẳn, cần ở lại để điều trị.


Buổi chiều tôi ngồi bên chị, chốc chốc lại thấy chị ho lên những hồi dài mệt nhọc. Như những bệnh nhân khác thì có lẽ cơn bệnh đã làm họ bực dọc, cau có. Nhưng chị thì không thế. Cơn bệnh chưa áp chế nổi tâm tính chị. Chị vẫn tỉnh táo. Lúc nào cũng như lúc nào, đôi mắt chị vẫn hiền dịu.


Nơi chị có nhiều cái khiến tôi phải chú ý, ngạc nhiên. Lắm lúc tôi muốn hỏi về đời chị, nhưng vì chưa thật quen, hỏi thấy không tiện. Lại thấy chị ít nói quá, hoặc có nói thì mỗi lời nói ra đều vừa vặn, dè dặt. Cách mấy hôm sau, có một việc nhỏ làm tôi nhớ mãi. Cũng vào một buổi chiều, lúc tôi và chị ngồi nói chuyện thì ngoài cổng có một người bộ đội dắt hai con gái nhỏ vào thăm vợ. ở bệnh viện, vợ chồng vào thăm nhau là sự thường. Nhưng đang nói chuyện với tôi, bỗng nhiên chị Hậu dừng lại. Đôi mắt chị sáng rực lên. Thật tôi chưa từng thấy ánh mắt nào sáng lạ lùng như thế. Chị Hậu nhìn đau đáu hai đứa bé đi bên cha chúng. Chị nhìn cách tha thiết, chăm chú, và lúc đó chị coi như không có tôi bên cạnh chị nữa. Tôi lấy làm lạ quá. Chị quen với người ấy chắc. Nhưng không, đồng chí bộ đội đâu có tỏ ra điều gì quen thuộc với chị. Mãi cho tới khi đồng chí bộ đội và mấy đứa bé gái vào phòng bệnh nhân, chị Hậu cũng chưa quay lại tiếp lời với tôi. Rồi khi bệnh nhân là một người mẹ ra hành lang gặp chồng con, ôm con mình hôn hít từ đứa bé chí đứa lớn, tôi thấy chị Hậu nhìn cảnh ấy không rời. Hồi sau, tôi bắt gặp từ khóe mắt chị, nước mắt chảy đọng quanh mi...


Tôi cứ tưởng là cơn đau lại xông lên đầu chị. Mãi về sau này, tôi mới biết rằng chiều hôm đó chị đã khóc. Đâu độ nửa tháng sau, lúc đã quen thân hơn, mấy lần tôi gợi để chị kể cho tôi nghe về đời chị, nhưng chị vẫn thoái thác. Câu chị thường trả lời tôi là:


- Tôi nói cho anh nghe cái gì bây giờ. Anh bảo tôi kể đời tôi. Anh à, đời tôi có gì đặc biệt đâu kia chớ. à, thôi tôi biết rồi. Anh làm nghề văn nghệ, chắc anh muốn viết tiểu thuyết chớ gì.


Nói vậy, rồi chị ta ngó tôi mà cười. Cười xong, chị bơi bơi nhẹ hai bàn tay:


- Thôi đi anh, đừng... đừng, không nên đâu.


Mãi cho đến sau đó nữa, chừng như cũng không lâu lắm, khi giữa tôi với chị thân thiết hơn, một buổi chiều trên chiếc ghế đá trước bệnh viện, chị nhìn tận mắt tôi giây lâu, rồi bắt đầu nói về đời chị:


- Tôi trước là một đứa con gái mồ côi. Mẹ tôi mất trong lúc sinh nở vì đã quá lao lực và lúc sinh, không có được một bà mụ thành thạo chăm sóc. Cả đứa em tôi cũng chết theo. Nhưng theo lời kể của bà tôi, lúc tôi lên chín, thì tôi cứ hình dung ra được mẹ tôi. Một người đàn bà nghèo khó, hàng ngày gánh thuê đội mướn ở bến tàu. Trong trí tưởng tượng của tôi, mẹ tôi có lẽ giống bà tôi, cũng có khuôn mặt khoan hậu nhưng lúc nào cũng lặng lẽ và nhẫn nhục như bà tôi. Tôi không hề thấy mặt mẹ tôi, và cho đến nay tôi cũng chưa từng biết về sự vỗ về trìu mến của tình mẹ là gì. Còn về cha tôi thì tôi biết được, nhưng cũng không rõ lắm. Cha tôi là một người có sức khỏe, làm nghề khuân vác ở bến tàu. Người đã nhiều lần ôm tôi trên cánh tay gân guốc của người đi lang thang suốt buổi trên bến, những ngày tàu không vào, phu cảng thiếu việc. Cái hình ảnh cuối cùng mà tôi còn nhớ nhất về cha tôi là lúc người chết. Trong lúc khuân hàng, một thùng át-xít vỡ ra đã giết cha tôi cùng ba người cu-ly khác. Người ta khiêng cha tôi từ cảng về đặt trước sân nhà lầy lội của xóm cu-ly. Cha tôi nằm trên một chiếc cáng làm bằng mảnh bao tải. Khắp thân thể cha tôi bị phồng lên, da nơi gối chân, khuỷu tay đều tuột ra cả. Vẫn nói là tôi hãy còn bé, tuy chưa biết được nhiều, nhưng hình ảnh đau đớn đó đã khắc sâu vào trí óc non nớt của tôi... Cha tôi mất đi, người ta trả cho bà tôi một món tiền bảo hiểm. Nhưng món tiền đó chỉ vừa vặn đủ chôn cất cho cha tôi. Và còn lại bao nhiêu thì người chủ hiệu chạp-phô ở phố cảng giật lấy trên tay bà tôi để trừ các khoản nợ mà cha tôi đã vay trước... Bà ngoại tôi làm mướn cho một nhà bảo sanh nuôi tôi cũng không được bao lâu. Cũng may là khi bà tôi chết, tôi đã thay được bà tôi trong công việc giặt gia quét tước trong nhà bảo sanh ấy. Từ đó tôi sống một mình không còn ai thân thích, làm mướn để chỉ được ăn cơm. Suốt ngày giặt giũ những mảnh tã trẻ con, những tấm quần của bọn đàn bà vợ ông thông thầy ký. Có thể nói là trọn thời con gái, tôi đã sống lại cái cuộc đời đầu tắt mặt tối mà mẹ tôi đã sống qua thuở trẻ. Dạo ấy, lúc nào tôi cũng cảm thấy đời toàn chỉ có buổi choạng vạng, ít khi tôi có được cảm giác nhận ra một ngày sáng. Nhưng vậy mà có người còn để ý tới tôi. Tôi nghĩ mãi không ra. Khi tình cảnh khốn khổ như vậy mà còn có một người con trai tỏ ý muốn lấy tôi làm vợ. Và tôi đã cảm động, đã đi đến yêu thương. Tôi xây dựng gia đình trong cái thời kỳ đó. Chồng tôi là một người mạch-lô lưu lạc. Anh ấy làm tàu "Phước Lợi" chạy Sài Gòn - Hải Nam. Anh ấy gặp tôi cũng tình cờ thôi, nhân cùng đi với một người mạch-lô bạn vào thăm chị vợ đẻ. Cái mối tình của chúng tôi giờ nói ra thì dài dòng quá. Đại để là hồi chưa cưới, chúng tôi rất mực thương nhau. Mỗi chuyến tàu đi, tôi xuống tận bến đưa ảnh. ở Hải-Nam về lần nào ảnh cũng mua cho tôi một món quà.


Làm trong nhà bảo sanh cực quá mấy phen tôi đòi trốn theo ảnh. Anh không chịu, bảo tôi rằng: "Ráng thêm ít tháng qua đi mấy chuyến nữa dành dụm tiền rồi qua rước em ra". Ngờ đâu cuối năm bốn tư, trong một cuộc đình công không chịu trở lính sang Pháp thì ảnh bị bắt. Trước khi vào nhà tù, ảnh có về biển nhắn hẹn ảnh lên rước tôi về biển. Năm bốn lăm, ảnh ra tù, có về biển một lần, kế đó lại đi. Tôi có thai và sinh một cháu gái...


Chương 2


Đám người dắt díu nhau chạy đổ xuống bãi biển đông như một đàn kiến. - Chị Tư Hậu khởi đầu câu chuyện với tôi như thế. - Tôi còn nhớ rất rõ cái mùa nắng ráo đó. Trên bãi Sao và những làng đồng dâu chúng tôi thực là oi bức. Trời tháng năm chưa đứng bóng mà bãi cát khô bỏng, chói chan.


Tôi ôm con nhỏ đứng nép bên cha chồng. Cũng như mọi người, tôi mở to mắt ngoái nhìn trở lại. Những ruộng dâu bị khói và lửa táp tới, màu xanh trở nên úa sẫm. Rồi những bựng khói bốc lên, cuốn theo tiếng nổ lốp bốp, cuốn theo tàn đen bay tơi tả. Cơn nắng tháng năm hừng hực, giúp cho các đám cháy càng cháy thỏa sức, điên cuồng. Một lát sau, tàu bay đầy trời đầy đất. Cho đến những ngọn sóng nhào lượn trên bờ bãi cũng tỏa khói và nuối lấy tàn đen đưa tới. Tôi áp sát con tôi vào ngực, kéo chăn phủ kín mặt nó. Ngoài bãi, bà con ì ạch đẩy ghe. Phần lớn là đàn ông. Họ không định chạy trốn ra khơi, mà là sợ chúng nó tràn tới phá ghe của họ. Đám đàn bà con nít như chúng tôi đứng đầy trên bãi cát. Những người mẹ vẻ mặt đầy lo âu, giữ chặt lấy con mình. Trẻ nhỏ nhiều đứa vùng khóc ré, có đứa lại cứ cười, chạy tung tăng. Tôi cảm thấy cái cảnh đau thương đã đến rồi, bắt đầu từ buổi này. Nhưng đau thương sẽ còn đi đến đâu nữa thì tôi chưa lường được. Nhìn những ngọn lửa rần rật bốc lên quá đọt sao, nhìn đứa con thiêm thiếp ngủ trên tay, tôi phân vân nghĩ bụng: "- Từ giờ phút này trở đi nó sẽ ra sao đây".


Súng nổ từng chập, nổ dồn xuống tận bãi. Một chốc sau trên gò cát, lũ giặc lố nhố hiện ra. Chúng tôi nhốn nháo, từng tốp bồng bế dắt díu nhau rùng rùng kéo chạy. Trên bãi diễn ra cảnh hỗn loạn.


- Đưa con nhỏ đây cho ba, chạy đi con!


Cha chồng tôi vừa đón lấy cháu vừa thét. Tôi trao con cho cha tôi, vừa chạy vừa kéo khăn che mặt con cho nắng không rọi vào. Con bé tôi không chịu, ngúc ngắc đầu vị ngột, nhưng cũng không khóc. Nó chỉ mới vừa được ba tháng. Mới hôm qua tôi bàn soạn với cha tôi định mua đậu, ngâm nếp làm bánh để ăn tuổi tôi cho nó. Tôi định làm mấy món ngọt thôi, đợi anh ấy về mới làm đàng hoàng. Thế mà bây giờ tôi đã phải ôm con chạy giặc, bữa ăn tuổi tôi cho con không thành rồi. Tôi chạy, mồ hôi ướt đẫm cả mặt. Cha tôi bế cháu chạy đằng trước. Bãi cát thì rộng mênh mông, súng nổ như là xé gió, lan đi rền trên đầu ngọn sóng. Bọn giặc không bắn vào tốp người đang chạy. Chúng bắn xả về phía những ghe lưới sửa soạn trốn ra khơi. Nhiều ghe ra được một quãng thì bị bắn chìm. Số người đang đẩy ghe liền bỏ chạy. Bọn giặc ùa tới những ghe còn trên cạn, châm lửa đốt. Đám cháy của những ghe lưới làm cho mọi người không chịu nổi. Đang chạy, họ đứng dừng lại. Đó là những bà con bãi Sao, có cả cha tôi. Cha tôi ôm cháu đến đứng bên chiếc ghe lưới của mình. Những tên lính ngụy, Tây trắng đi nghễu nghện khắp bãi. Trừ những đứa lo đốt ghe, cả bọn ngồi trên bãi cát hút thuốc. Tên Pháp chỉ huy đeo súng lục và máy ảnh bên hông, đi rảo từng bước một, nhìn sát vào mặt từng người. Đó là tên quan hai Tô-ma, đồn trưởng Hiệp Hưng. Người ta đồn đại rằng thằng quan hai này là một đứa có học thức. Khi nó mới đổi về đây, người ở Hiệp Hưng thấy hắn tải theo về không biết bao nhiêu là sách mà quyển nào cũng dày cộp cả. Ngoài ra có đem theo tới đồn mới một chiếc đàn gió nữa. ở đồn hắn rất siêng đọc, lính ai muốn học tiếng Tây hắn cũng chịu để công dạy. Và chiều chiều, sau buổi cơm, hắn kéo đàn một cách say mê. Thằng Tô-ma đi ngang qua chỗ tôi đứng, nhìn tôi chăm chắm. Sau đó hắn quay về thì thào nói gì với một tên ngụy đóng cai. Tôi biến sắc, có cảm giác là nó đang nói gì về tôi. Chốc sau, chợt hắn tháo máy ảnh, bước tới mấy bước, giơ lên ngắm thẳng vào tôi. Tôi day mặt đi. Ba tôi trông thấy thế liền quay sang bảo tôi:


- Tư, con đi đi...


Tôi vội vàng lùi lại, đi như chạy về phía những trại lưới trên gò cát. Tôi đi không dám ngoái lại, và cảm thấy như có người đuổi theo tôi. Đi và chạy một quãng xa, lên tới gò rồi, tôi ngó lui không thấy có ai cả. Tôi mới bình tĩnh lại, đứng nhìn đám ghe cháy. Tôi có dè đâu là trong lúc đó chúng nó đã cho người theo tôi. Tôi nhìn thấy rõ ràng bóng hai tên ngụy thấp thoáng ở phía bên trái gò. Tôi liền chạy đi. Hai tên ngụy không rời tôi một bước, càng ngày càng theo gần đến sau lưng tôi. Tôi nghĩ không còn cách nào tốt hơn hết là trốn vào một cái chòi chứa cá khô. ở trên gò có nhiều chòi như thế, mới ngó qua giống như những chòi bỏ hoang.


Tôi chạy vào một cái chòi nhỏ, kín đáo nhất, và thu người nấp kín sau một đống khô cá gộc lớn. Tim tôi đập mạnh. Lâu lắm vẫn không thấy động tĩnh gì. Càng không thấy động tĩnh gì tôi càng lo. Gò cát im vắng, bà con coi chòi đều đã bỏ chạy. Tôi cứ nằm như vậy rất lâu. Chốc sau khó chịu quá, định chỗi dậy, bất ngờ nghe tiếng chân chạy lên. Hai tên ngụy xông vào chòi. Tôi nằm yên chịu trận. Thoạt tiên bọn nó không trông thấy tôi. Một đứa đã định bỏ đi. Nhưng đứa kia bước qua đống khô. Chúng nó bắt gặp tôi nằm đấy. Tôi liệu không trốn tránh được nữa, liền đứng dậy. Tên cai ngụy hỏi:


- Phải chị tên Hậu không?


Tôi bảo là không. Tên cai cười nói:


- Ông Hai có lệnh đòi chị ra bót.


Tôi nghe nó nói thì lùi lại. Tên cai bước tới, và tôi cứ lùi. Mãi đến lúc chân tôi phải một đống khô gộc sau lưng, loạn choạng khuỵu xuống! Tôi vội đứng dậy ngay được. Lúc đó tôi biết rõ là tôi đang đứng trước nỗi nguy đe dọa ghê gớm. Tôi không biết tại sao từ chỗ hết sức hoảng hốt, tôi trở nên gan góc. Tôi đứng thẳng người lên, hất mớ tóc lòa xòa trước trán và nói như thét:


- Muốn làm gì tôi, dang ra!


Tên cai nhìn thẳng vào mặt tôi, nói lớn:


- Đi theo tôi, mau!


- Tôi bảo là tôi không đi đâu hết. Y thét:


- Thiệt dữ hả? Muốn bỏ mạng hả?


Vừa thét y vừa đưa mắt ra hiệu cho tên ngụy xông tới. Tôi vớ ngay lấy một con khô gộc to tướng cầm tay. Khi tên ngụy xông vào, tôi vung con khô quất mạnh vào người nó. Nó gạt qua. Tôi quật tiếp một con khô thứ hai. Nó cướp lấy vất sang một bên rồi ôm quàng lấy người tôi. Tôi vật lộn với nó. Nhưng anh nghĩ, tôi mới sinh ba tháng, còn nó, nó là một thằng giặc có sức lực cường tráng. Nó đè tôi xuống đống khô mấy lần, tôi đều cố ngoi dậy được. Nhưng lần sau, cái tên cai lại phụ sức với nó ghì chặt tôi xuống. Tôi vùng vẫy la hét. Chúng nó bảo:


- Cứ la lớn nữa đi, la chừng nào đã thì thôi.Với lại không có ai ở đây để nghe mày la đâu.


- Đồ chó!


- Phải, cứ chửi đi. Muốn êm thấm không chịu. Chốc nữa ai là chó cho biết.


Tôi lừa miếng, nghiến răng cắn mạnh vào tay tên ngụy. Nó thét lên đau đớn, dang tay vả vào mặt tôi rồi kêu:


- Nó cắn tôi... làm sao kiếm dây trói nó lại.


Tên cai buông tôi ra chạy đi tìm dây, nhưng trở vào nói là không có dây. Vừa lúc đó bên ngoài có tiếng giày dẫm cát thình thịch. Tên cai nói:


- Ông Hai lên tới.


Tôi nghe nói tối tăm mặt mày. Tên quan hai Pháp Tô-ma xông vào. Hắn thở hồng hộc. Bây giờ tôi mới nhìn kỹ được mặt hắn. Cái tên xếp đồn mà tôi nghe mọi người bảo là có học thức ấy, giờ đứng trước mặt tôi, vóc người nhỏ thó chớ không to lớn, đôi mắt kính nhốp của hắn nhìn tôi như một con chim đêm nhìn mồi. Tôi không hiểu là lúc hắn đọc sách thì đôi mắt của hắn ra sao, chứ lúc hắn nhìn tôi, cặp mắt của hắn đúng là một cặp mắt của con vật rừng đang đói. Thấy tên ngụy đang ngồi xổm ghì chặt tôi, hắn thét tên ấy buông tôi ra. Tên ngụy liền bỏ tôi ra, đứng dậy. Tên cai ngụy bảo tên ngụy ra ngoài rồi hỏi tôi:


- Có nhớ ra tôi không?


Tôi làm thinh, lấy tay kéo chỗ vai áo vừa bị rách lại. Tên cai nghiêm giọng:


- Chắc cô quên rồi. Thằng chồng của cô thì biết tôi. ở thị trấn mọi người đều biết tôi, bây giờ thì cô ở trong tay tụi tôi, tôi bảo gì phải nghe, hiểu chưa? à, nghe nói cô có con rồi phải không, khá quá. Sao? Dạo này thằng chồng cô có về thường không?


Tôi lặng yên. Tên cai tiếp lời:


- Nếu nó về, nói có tôi là Tư Bửu ở đồn Hiệp Hưng, bây giờ tôi làm phó đồn trưởng, có lời mời nó ra nhậu chơi một bữa. Bảo với nó đừng sợ, cứ ra chơi, không sao đâu, không hề gì hết.


Tôi nói: - Đừng động tới chồng tôi!


- à... thôi, tôi xin lỗi. Làm vợ quý chồng như cô thiệt đáng khen. Tôi không dám động tới thằng Tư Khoa, nhưng tôi chỉ cần để thằng xếp nó động tới cô thôi...


Dứt lời tên cai lùi ra. Tôi thét lên một tiếng khủng khiếp. Tên Tô-ma đứng bên đã lột tính hung bạo của hắn ra một cách bất ngờ. Đôi bàn tay hắn đưa tới trước bíu vào người tôi. Tôi tát một cái đốp vào má hắn. Song hắn hình như không thấy đau, lại còn cười. Tiếng cười thật là ghê rợn. Tôi đánh hắn liên tiếp hai cái, rồi dựa lưng sát vào vách chòi. Hắn kéo tôi ra. Tôi cưỡng lại. Cứ thế mà tôi giằng co, chống cự, cấu xé, gào thét. Tôi thở hổn hển, lòng bàn tay đẫm ướt mồ hôi. Tên giặc ghì được tôi. Cuối cùng người tôi rã rời và mọi vật chung quanh đều quay lộn trước mắt.


Cơn dục vọng sôi lên trong đôi mắt, trong cánh tay run bây bẩy của tên giặc. Khi hắn sắp xô đổ lên người tôi, thì ngoài cửa tên lính ngụy thò đầu vào:


- Ông Tư, có thằng cha già nó lên!


Tư Bửu thét: Giữ nó lại!


Tôi gào lên: - Buông tôi ra. Trời ơi! Ba ơi... ba...


Tôi lấy hết sức mà gào. Sau đó, tôi nghe thấy tiếng kêu cứu của cha tôi. Cuối cùng, có tiếng con tôi khóc thét.


Tôi ngồi gục đầu trên đống cá khô khóc nức. Sau khi mọi việc đã xảy ra một cách nhanh chóng và tàn nhẫn trong túp chòi chứa khô nhỏ hẹp này. Bọn giặc đã bỏ đi. Cha tôi bước vào chòi. Hai tay cha tôi nâng cháu đứng lặng nhìn tôi. Biết cha tôi đã đứng trước mặt, nhưng tôi vẫn gục đầu khóc. Hình như cha tôi muốn mở miệng với tôi một câu, nhưng lại thôi. Chừng con tôi khóc rúc trong lòng, cha tôi mới bước lại gần. Bước chân dè dặt của người cha chồng già nua ấy như không muốn gây ra một cái gì kinh động cho tôi trong lúc này.


- Thôi, đừng khóc nữa... Con của con nó cũng khóc đây. Hai mẹ con cùng khóc, giờ ba biết dỗ ai. Con nhỏ hồi sáng tới giờ mới bú có một lần. Nó khát sữa rồi. Con cho nó bú đi.


Bây giờ tôi mới sực nhở. ở hai đầu vú tôi, sữa căng chảy rịn ra. Nhưng đồng thời lúc ấy tôi cũng chợt nhận thấy khắp người tôi rất bẩn, áo quần bị rách toạc. Xung quanh tôi, những thứa khô cá gộc, văng bừa bãi. Cá khô nồng lên mùi hôi hám và vị tanh của cá biển. Mọi vật quanh tôi còn ghi rõ sự thể khủng khiếp ban nãy. Bỗng chốc nó gợi lại làm tôi xót xa tủi nhục. Như một đứa trẻ bị đòn đau, sau khi bớt khóc, cha chồng an ủi một câu, tôi lại tủi thân mà vùng khóc, thấm thía. Rồi vùng nhỏm dậy, tôi thu người chạy lao ra cửa. Tôi chạy trên bãi cát mênh mông. Nơi bóng chiều đã ngả, mặt trời đang thu về những tia nắng cuối cùng. ánh nắng mang sự oi nồng cho trọn một ngày, giờ trước khi tắt hẳn đang đọng lại trên biển đỏ sẫm như máu.


Cha chồng tôi cất tiếng gọi tôi trong khi tôi lảo đảo chạy. Một chốc sau cha tôi đã theo kịp tôi. Bấy giờ tôi không chạy nữa. Rồi như một cây sao con bị bão gió đánh bật gốc, tôi chấp chới ngã nằm sóng soài trên bãi cát. Cha tôi lần này kéo vai tôi giật lia lịa:


- Con Tư, bộ con khùng rồi sao. Dẫu gì thì cũng đã lỡ rồi. Không phải lỗi ở con. Có chăng là lỗi ở ba đây. Ba dại quá, ngần tuổi này như ba mà dại quá...


Cha tôi nói xong, cặp mắt mờ ướt. Chòm râu của người bị gió chiều thổi bay tơi tả mà người cứ để yên không màng vuốt lại. Cố giữ không cho tôi thấy rằng mình đã khóc, cha tôi tiếp lời:


- Tao sẽ nói với thằng Khoa, nó sẽ không buồn oán gì con đâu... Còn bây giờ thì con Tư ngồi dậy đi, ngồi dậy mà bồng lấy con nhỏ. Có chồng có con rồi, đừng làm liều. Làm liều chỉ tội cho chồng cho con. Đây, bồng nó... Nó muốn khóc nữa rồi đây nè, phải cho nó bú liền đi. Tội nghiệp, con nhỏ khát sữa quá chừng.


Những lời nói của cha chồng làm cho tôi phải ứa nước mắt. Mỗi giọt nước mắt trong lúc đó làm thấm dịu nỗi khổ cực trong lòng tôi. Nhất là mấy lời sau, cha tôi nói về chồng tôi, về đứa con gái bé bỏng của tôi khiến tôi bàng hoàng. Tôi nấc lên mấy tiếng khóc nhỏ rồi ngẩng dậy đỡ lấy con. Con tôi sau một lúc khóc vì quá cữ bú, giờ đã ngủ thiếp. Tôi cúi nhìn con, trào nước mắt. Đứa con mới ba tháng của tôi từ ngày sinh ra cho đến nay thật ngoan và dễ dãi. Thường ở nhà cho nó bú xong, tôi đi hái dâu, hoặc có khi đi giúp đỡ để về, nó đã thức dậy và nằm cười với ông. Giờ đây trước khi đánh thức nó dậy cho bú, tôi lặng lẽ nhìn nó và thầm nghĩ: "Má khốn khổ mà má muốn cho con gái cưng của má khốn khổ nữa sao. Thôi, thôi, con ơi, đừng giận má nghe con...".


Dưới ánh chiều tà, đôi gò má của con tôi mũm mĩm ửng hồng. Cặp mắt nó vẫn nhắm cách ngoan ngoãn. Tất cả châu thân của con tôi lừng lên mùi sữa thơm dịu. Chiều đã xuống thấp. Súng không còn nổ nữa. Nhưng những làn khói trong mạn đồng dâu và các vạn lưới vẫn âm ỉ bốc lên. Tiếng bìm bịp kêu từng hồi dài. Không lâu sau đã thấy nước biển dâng lên từ từ. Và những làn sóng tới tấp vượt qua mực nước ròng ban trưa, chồm lên phủ mất những đống than ghe còn nhuốm đỏ. Nghe tiếng bìm bịp kêu, cha tôi đứng xổng lưng lên. Bìm bịp kêu nước lớn cho ghe lưới ra khơi, nhưng hôm nay khi những tiếng kêu ấy đã im dần, thì trên mặt biển không còn thấy một cánh buồm nào động đậy nữa. Tôi biết cha tôi đau đớn. Là vì lần đầu tiên trong đời một người chài lưới già như cha tôi mới chịu tai họa đến nhanh mà tàn nhẫn như thế.


Mắt tôi xốn lên, dõi nhìn tốp lính giặc đang rút đi trên đầu bãi. Sau khi đốt phá hãm hiếp, chúng cướp cá tươi của bà con đánh được ban sáng rồi bắt bò đóng cộ vất cá lên. Cảnh bãi biển tối mờ, nhưng tôi vẫn còn nhìn thấy bóng những cộ xe bò đó chạy lướt trên gò cát xa. Cha tôi với tay kéo tôi đứng dậy:


- Thôi, đi con!


Tôi bế con đi sau cha tôi. Đứa con tôi sau khi bú nó đã ngủ lại. Tiếng ngáy của nó nghe rất êm và khẽ. Mặt trời đã tắt hẳn. ánh nắng của mặt trời cũng chìm dưới mặt biển. ở mạn đồng dâu vẳng lên tiếng khóc, tiếng gọi nhau ơi ới. Lại có cả tiếng của những con bò sút chuồng ban sáng, giờ mò về, rống lên những hồi dài lạc lõng...


 


 


 


Đám người dắt díu nhau chạy đổ xuống bãi biển đông như một đàn kiến. - Chị Tư Hậu khởi đầu câu chuyện với tôi như thế. - Tôi còn nhớ rất rõ cái mùa nắng ráo đó. Trên bãi Sao và những làng đồng dâu chúng tôi thực là oi bức. Trời tháng năm chưa đứng bóng mà bãi cát khô bỏng, chói chan.


 


Tôi ôm con nhỏ đứng nép bên cha chồng. Cũng như mọi người, tôi mở to mắt ngoái nhìn trở lại. Những ruộng dâu bị khói và lửa táp tới, màu xanh trở nên úa sẫm. Rồi những bựng khói bốc lên, cuốn theo tiếng nổ lốp bốp, cuốn theo tàn đen bay tơi tả. Cơn nắng tháng năm hừng hực, giúp cho các đám cháy càng cháy thỏa sức, điên cuồng. Một lát sau, tàu bay đầy trời đầy đất. Cho đến những ngọn sóng nhào lượn trên bờ bãi cũng tỏa khói và nuối lấy tàn đen đưa tới. Tôi áp sát con tôi vào ngực, kéo chăn phủ kín mặt nó. Ngoài bãi, bà con ì ạch đẩy ghe. Phần lớn là đàn ông. Họ không định chạy trốn ra khơi, mà là sợ chúng nó tràn tới phá ghe của họ. Đám đàn bà con nít như chúng tôi đứng đầy trên bãi cát. Những người mẹ vẻ mặt đầy lo âu, giữ chặt lấy con mình. Trẻ nhỏ nhiều đứa vùng khóc ré, có đứa lại cứ cười, chạy tung tăng. Tôi cảm thấy cái cảnh đau thương đã đến rồi, bắt đầu từ buổi này. Nhưng đau thương sẽ còn đi đến đâu nữa thì tôi chưa lường được. Nhìn những ngọn lửa rần rật bốc lên quá đọt sao, nhìn đứa con thiêm thiếp ngủ trên tay, tôi phân vân nghĩ bụng: "- Từ giờ phút này trở đi nó sẽ ra sao đây".


Súng nổ từng chập, nổ dồn xuống tận bãi. Một chốc sau trên gò cát, lũ giặc lố nhố hiện ra. Chúng tôi nhốn nháo, từng tốp bồng bế dắt díu nhau rùng rùng kéo chạy. Trên bãi diễn ra cảnh hỗn loạn.


 


- Đưa con nhỏ đây cho ba, chạy đi con!


 


Cha chồng tôi vừa đón lấy cháu vừa thét. Tôi trao con cho cha tôi, vừa chạy vừa kéo khăn che mặt con cho nắng không rọi vào. Con bé tôi không chịu, ngúc ngắc đầu vị ngột, nhưng cũng không khóc. Nó chỉ mới vừa được ba tháng. Mới hôm qua tôi bàn soạn với cha tôi định mua đậu, ngâm nếp làm bánh để ăn tuổi tôi cho nó. Tôi định làm mấy món ngọt thôi, đợi anh ấy về mới làm đàng hoàng. Thế mà bây giờ tôi đã phải ôm con chạy giặc, bữa ăn tuổi tôi cho con không thành rồi. Tôi chạy, mồ hôi ướt đẫm cả mặt. Cha tôi bế cháu chạy đằng trước. Bãi cát thì rộng mênh mông, súng nổ như là xé gió, lan đi rền trên đầu ngọn sóng. Bọn giặc không bắn vào tốp người đang chạy. Chúng bắn xả về phía những ghe lưới sửa soạn trốn ra khơi. Nhiều ghe ra được một quãng thì bị bắn chìm. Số người đang đẩy ghe liền bỏ chạy. Bọn giặc ùa tới những ghe còn trên cạn, châm lửa đốt. Đám cháy của những ghe lưới làm cho mọi người không chịu nổi. Đang chạy, họ đứng dừng lại. Đó là những bà con bãi Sao, có cả cha tôi. Cha tôi ôm cháu đến đứng bên chiếc ghe lưới của mình. Những tên lính ngụy, Tây trắng đi nghễu nghện khắp bãi. Trừ những đứa lo đốt ghe, cả bọn ngồi trên bãi cát hút thuốc. Tên Pháp chỉ huy đeo súng lục và máy ảnh bên hông, đi rảo từng bước một, nhìn sát vào mặt từng người. Đó là tên quan hai Tô-ma, đồn trưởng Hiệp Hưng. Người ta đồn đại rằng thằng quan hai này là một đứa có học thức. Khi nó mới đổi về đây, người ở Hiệp Hưng thấy hắn tải theo về không biết bao nhiêu là sách mà quyển nào cũng dày cộp cả. Ngoài ra có đem theo tới đồn mới một chiếc đàn gió nữa. ở đồn hắn rất siêng đọc, lính ai muốn học tiếng Tây hắn cũng chịu để công dạy. Và chiều chiều, sau buổi cơm, hắn kéo đàn một cách say mê. Thằng Tô-ma đi ngang qua chỗ tôi đứng, nhìn tôi chăm chắm. Sau đó hắn quay về thì thào nói gì với một tên ngụy đóng cai. Tôi biến sắc, có cảm giác là nó đang nói gì về tôi. Chốc sau, chợt hắn tháo máy ảnh, bước tới mấy bước, giơ lên ngắm thẳng vào tôi. Tôi day mặt đi. Ba tôi trông thấy thế liền quay sang bảo tôi:


 


- Tư, con đi đi...


 


Tôi vội vàng lùi lại, đi như chạy về phía những trại lưới trên gò cát. Tôi đi không dám ngoái lại, và cảm thấy như có người đuổi theo tôi. Đi và chạy một quãng xa, lên tới gò rồi, tôi ngó lui không thấy có ai cả. Tôi mới bình tĩnh lại, đứng nhìn đám ghe cháy. Tôi có dè đâu là trong lúc đó chúng nó đã cho người theo tôi. Tôi nhìn thấy rõ ràng bóng hai tên ngụy thấp thoáng ở phía bên trái gò. Tôi liền chạy đi. Hai tên ngụy không rời tôi một bước, càng ngày càng theo gần đến sau lưng tôi. Tôi nghĩ không còn cách nào tốt hơn hết là trốn vào một cái chòi chứa cá khô. ở trên gò có nhiều chòi như thế, mới ngó qua giống như những chòi bỏ hoang.


 


Tôi chạy vào một cái chòi nhỏ, kín đáo nhất, và thu người nấp kín sau một đống khô cá gộc lớn. Tim tôi đập mạnh. Lâu lắm vẫn không thấy động tĩnh gì. Càng không thấy động tĩnh gì tôi càng lo. Gò cát im vắng, bà con coi chòi đều đã bỏ chạy. Tôi cứ nằm như vậy rất lâu. Chốc sau khó chịu quá, định chỗi dậy, bất ngờ nghe tiếng chân chạy lên. Hai tên ngụy xông vào chòi. Tôi nằm yên chịu trận. Thoạt tiên bọn nó không trông thấy tôi. Một đứa đã định bỏ đi. Nhưng đứa kia bước qua đống khô. Chúng nó bắt gặp tôi nằm đấy. Tôi liệu không trốn tránh được nữa, liền đứng dậy. Tên cai ngụy hỏi:


 


- Phải chị tên Hậu không?


 


Tôi bảo là không. Tên cai cười nói:


 


- Ông Hai có lệnh đòi chị ra bót.


 


Tôi nghe nó nói thì lùi lại. Tên cai bước tới, và tôi cứ lùi. Mãi đến lúc chân tôi phải một đống khô gộc sau lưng, loạn choạng khuỵu xuống! Tôi vội đứng dậy ngay được. Lúc đó tôi biết rõ là tôi đang đứng trước nỗi nguy đe dọa ghê gớm. Tôi không biết tại sao từ chỗ hết sức hoảng hốt, tôi trở nên gan góc. Tôi đứng thẳng người lên, hất mớ tóc lòa xòa trước trán và nói như thét:


 


- Muốn làm gì tôi, dang ra!


 


Tên cai nhìn thẳng vào mặt tôi, nói lớn:


 


- Đi theo tôi, mau!


 


- Tôi bảo là tôi không đi đâu hết. Y thét:


 


- Thiệt dữ hả? Muốn bỏ mạng hả?


 


Vừa thét y vừa đưa mắt ra hiệu cho tên ngụy xông tới. Tôi vớ ngay lấy một con khô gộc to tướng cầm tay. Khi tên ngụy xông vào, tôi vung con khô quất mạnh vào người nó. Nó gạt qua. Tôi quật tiếp một con khô thứ hai. Nó cướp lấy vất sang một bên rồi ôm quàng lấy người tôi. Tôi vật lộn với nó. Nhưng anh nghĩ, tôi mới sinh ba tháng, còn nó, nó là một thằng giặc có sức lực cường tráng. Nó đè tôi xuống đống khô mấy lần, tôi đều cố ngoi dậy được. Nhưng lần sau, cái tên cai lại phụ sức với nó ghì chặt tôi xuống. Tôi vùng vẫy la hét. Chúng nó bảo:


 


- Cứ la lớn nữa đi, la chừng nào đã thì thôi.Với lại không có ai ở đây để nghe mày la đâu.


 


- Đồ chó!


 


- Phải, cứ chửi đi. Muốn êm thấm không chịu. Chốc nữa ai là chó cho biết.


 


Tôi lừa miếng, nghiến răng cắn mạnh vào tay tên ngụy. Nó thét lên đau đớn, dang tay vả vào mặt tôi rồi kêu:


 


- Nó cắn tôi... làm sao kiếm dây trói nó lại.


 


Tên cai buông tôi ra chạy đi tìm dây, nhưng trở vào nói là không có dây. Vừa lúc đó bên ngoài có tiếng giày dẫm cát thình thịch. Tên cai nói:


 


- Ông Hai lên tới.


 


Tôi nghe nói tối tăm mặt mày. Tên quan hai Pháp Tô-ma xông vào. Hắn thở hồng hộc. Bây giờ tôi mới nhìn kỹ được mặt hắn. Cái tên xếp đồn mà tôi nghe mọi người bảo là có học thức ấy, giờ đứng trước mặt tôi, vóc người nhỏ thó chớ không to lớn, đôi mắt kính nhốp của hắn nhìn tôi như một con chim đêm nhìn mồi. Tôi không hiểu là lúc hắn đọc sách thì đôi mắt của hắn ra sao, chứ lúc hắn nhìn tôi, cặp mắt của hắn đúng là một cặp mắt của con vật rừng đang đói. Thấy tên ngụy đang ngồi xổm ghì chặt tôi, hắn thét tên ấy buông tôi ra. Tên ngụy liền bỏ tôi ra, đứng dậy. Tên cai ngụy bảo tên ngụy ra ngoài rồi hỏi tôi:


 


- Có nhớ ra tôi không?


 


Tôi làm thinh, lấy tay kéo chỗ vai áo vừa bị rách lại. Tên cai nghiêm giọng:


 


- Chắc cô quên rồi. Thằng chồng của cô thì biết tôi. ở thị trấn mọi người đều biết tôi, bây giờ thì cô ở trong tay tụi tôi, tôi bảo gì phải nghe, hiểu chưa? à, nghe nói cô có con rồi phải không, khá quá. Sao? Dạo này thằng chồng cô có về thường không?


 


Tôi lặng yên. Tên cai tiếp lời:


 


- Nếu nó về, nói có tôi là Tư Bửu ở đồn Hiệp Hưng, bây giờ tôi làm phó đồn trưởng, có lời mời nó ra nhậu chơi một bữa. Bảo với nó đừng sợ, cứ ra chơi, không sao đâu, không hề gì hết.


 


Tôi nói: - Đừng động tới chồng tôi!


 


- à... thôi, tôi xin lỗi. Làm vợ quý chồng như cô thiệt đáng khen. Tôi không dám động tới thằng Tư Khoa, nhưng tôi chỉ cần để thằng xếp nó động tới cô thôi...


 


Dứt lời tên cai lùi ra. Tôi thét lên một tiếng khủng khiếp. Tên Tô-ma đứng bên đã lột tính hung bạo của hắn ra một cách bất ngờ. Đôi bàn tay hắn đưa tới trước bíu vào người tôi. Tôi tát một cái đốp vào má hắn. Song hắn hình như không thấy đau, lại còn cười. Tiếng cười thật là ghê rợn. Tôi đánh hắn liên tiếp hai cái, rồi dựa lưng sát vào vách chòi. Hắn kéo tôi ra. Tôi cưỡng lại. Cứ thế mà tôi giằng co, chống cự, cấu xé, gào thét. Tôi thở hổn hển, lòng bàn tay đẫm ướt mồ hôi. Tên giặc ghì được tôi. Cuối cùng người tôi rã rời và mọi vật chung quanh đều quay lộn trước mắt.


 


Cơn dục vọng sôi lên trong đôi mắt, trong cánh tay run bây bẩy của tên giặc. Khi hắn sắp xô đổ lên người tôi, thì ngoài cửa tên lính ngụy thò đầu vào:


 


- Ông Tư, có thằng cha già nó lên!


 


Tư Bửu thét: Giữ nó lại!


 


Tôi gào lên: - Buông tôi ra. Trời ơi! Ba ơi... ba...


 


Tôi lấy hết sức mà gào. Sau đó, tôi nghe thấy tiếng kêu cứu của cha tôi. Cuối cùng, có tiếng con tôi khóc thét.


 


Tôi ngồi gục đầu trên đống cá khô khóc nức. Sau khi mọi việc đã xảy ra một cách nhanh chóng và tàn nhẫn trong túp chòi chứa khô nhỏ hẹp này. Bọn giặc đã bỏ đi. Cha tôi bước vào chòi. Hai tay cha tôi nâng cháu đứng lặng nhìn tôi. Biết cha tôi đã đứng trước mặt, nhưng tôi vẫn gục đầu khóc. Hình như cha tôi muốn mở miệng với tôi một câu, nhưng lại thôi. Chừng con tôi khóc rúc trong lòng, cha tôi mới bước lại gần. Bước chân dè dặt của người cha chồng già nua ấy như không muốn gây ra một cái gì kinh động cho tôi trong lúc này.


 


- Thôi, đừng khóc nữa... Con của con nó cũng khóc đây. Hai mẹ con cùng khóc, giờ ba biết dỗ ai. Con nhỏ hồi sáng tới giờ mới bú có một lần. Nó khát sữa rồi. Con cho nó bú đi.


 


Bây giờ tôi mới sực nhở. ở hai đầu vú tôi, sữa căng chảy rịn ra. Nhưng đồng thời lúc ấy tôi cũng chợt nhận thấy khắp người tôi rất bẩn, áo quần bị rách toạc. Xung quanh tôi, những thứa khô cá gộc, văng bừa bãi. Cá khô nồng lên mùi hôi hám và vị tanh của cá biển. Mọi vật quanh tôi còn ghi rõ sự thể khủng khiếp ban nãy. Bỗng chốc nó gợi lại làm tôi xót xa tủi nhục. Như một đứa trẻ bị đòn đau, sau khi bớt khóc, cha chồng an ủi một câu, tôi lại tủi thân mà vùng khóc, thấm thía. Rồi vùng nhỏm dậy, tôi thu người chạy lao ra cửa. Tôi chạy trên bãi cát mênh mông. Nơi bóng chiều đã ngả, mặt trời đang thu về những tia nắng cuối cùng. ánh nắng mang sự oi nồng cho trọn một ngày, giờ trước khi tắt hẳn đang đọng lại trên biển đỏ sẫm như máu.


 


Cha chồng tôi cất tiếng gọi tôi trong khi tôi lảo đảo chạy. Một chốc sau cha tôi đã theo kịp tôi. Bấy giờ tôi không chạy nữa. Rồi như một cây sao con bị bão gió đánh bật gốc, tôi chấp chới ngã nằm sóng soài trên bãi cát. Cha tôi lần này kéo vai tôi giật lia lịa:


 


- Con Tư, bộ con khùng rồi sao. Dẫu gì thì cũng đã lỡ rồi. Không phải lỗi ở con. Có chăng là lỗi ở ba đây. Ba dại quá, ngần tuổi này như ba mà dại quá...


 


Cha tôi nói xong, cặp mắt mờ ướt. Chòm râu của người bị gió chiều thổi bay tơi tả mà người cứ để yên không màng vuốt lại. Cố giữ không cho tôi thấy rằng mình đã khóc, cha tôi tiếp lời:


 


- Tao sẽ nói với thằng Khoa, nó sẽ không buồn oán gì con đâu... Còn bây giờ thì con Tư ngồi dậy đi, ngồi dậy mà bồng lấy con nhỏ. Có chồng có con rồi, đừng làm liều. Làm liều chỉ tội cho chồng cho con. Đây, bồng nó... Nó muốn khóc nữa rồi đây nè, phải cho nó bú liền đi. Tội nghiệp, con nhỏ khát sữa quá chừng.


Những lời nói của cha chồng làm cho tôi phải ứa nước mắt. Mỗi giọt nước mắt trong lúc đó làm thấm dịu nỗi khổ cực trong lòng tôi. Nhất là mấy lời sau, cha tôi nói về chồng tôi, về đứa con gái bé bỏng của tôi khiến tôi bàng hoàng. Tôi nấc lên mấy tiếng khóc nhỏ rồi ngẩng dậy đỡ lấy con. Con tôi sau một lúc khóc vì quá cữ bú, giờ đã ngủ thiếp. Tôi cúi nhìn con, trào nước mắt. Đứa con mới ba tháng của tôi từ ngày sinh ra cho đến nay thật ngoan và dễ dãi. Thường ở nhà cho nó bú xong, tôi đi hái dâu, hoặc có khi đi giúp đỡ để về, nó đã thức dậy và nằm cười với ông. Giờ đây trước khi đánh thức nó dậy cho bú, tôi lặng lẽ nhìn nó và thầm nghĩ: "Má khốn khổ mà má muốn cho con gái cưng của má khốn khổ nữa sao. Thôi, thôi, con ơi, đừng giận má nghe con...".


 


Dưới ánh chiều tà, đôi gò má của con tôi mũm mĩm ửng hồng. Cặp mắt nó vẫn nhắm cách ngoan ngoãn. Tất cả châu thân của con tôi lừng lên mùi sữa thơm dịu. Chiều đã xuống thấp. Súng không còn nổ nữa. Nhưng những làn khói trong mạn đồng dâu và các vạn lưới vẫn âm ỉ bốc lên. Tiếng bìm bịp kêu từng hồi dài. Không lâu sau đã thấy nước biển dâng lên từ từ. Và những làn sóng tới tấp vượt qua mực nước ròng ban trưa, chồm lên phủ mất những đống than ghe còn nhuốm đỏ. Nghe tiếng bìm bịp kêu, cha tôi đứng xổng lưng lên. Bìm bịp kêu nước lớn cho ghe lưới ra khơi, nhưng hôm nay khi những tiếng kêu ấy đã im dần, thì trên mặt biển không còn thấy một cánh buồm nào động đậy nữa. Tôi biết cha tôi đau đớn. Là vì lần đầu tiên trong đời một người chài lưới già như cha tôi mới chịu tai họa đến nhanh mà tàn nhẫn như thế.


 


Mắt tôi xốn lên, dõi nhìn tốp lính giặc đang rút đi trên đầu bãi. Sau khi đốt phá hãm hiếp, chúng cướp cá tươi của bà con đánh được ban sáng rồi bắt bò đóng cộ vất cá lên. Cảnh bãi biển tối mờ, nhưng tôi vẫn còn nhìn thấy bóng những cộ xe bò đó chạy lướt trên gò cát xa. Cha tôi với tay kéo tôi đứng dậy:


 


- Thôi, đi con!


 


Tôi bế con đi sau cha tôi. Đứa con tôi sau khi bú nó đã ngủ lại. Tiếng ngáy của nó nghe rất êm và khẽ. Mặt trời đã tắt hẳn. ánh nắng của mặt trời cũng chìm dưới mặt biển. ở mạn đồng dâu vẳng lên tiếng khóc, tiếng gọi nhau ơi ới. Lại có cả tiếng của những con bò sút chuồng ban sáng, giờ mò về, rống lên những hồi dài lạc lõng...


(còn tiếp)


Nguồn: Một chuyện chép ở bệnh viện. Truyện dài của Anh Đức. NXB Văn học, 1958, tá bản nhiều lần. Chuyển thành phim Chị Tư Hậu, 1962. Bản điện tử của kinhdotruyen

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
xem thêm »