tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19374595
26.08.2014
Nhiều tác giả
Vài nét về tỉnh Hà Giang

Là một tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam, phía đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang. Về phía bắc, Hà Giang giáp châu tự trị dân tộc Choang và Miêu Văn Sơn thuộc tỉnh Vân Nam và địa cấp thị Bách Sắc thuộc tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc.


Hà Giang nằm ở cực Bắc của Việt Nam, tỉnh này có nhiều ngọn núi đá cao và sông suối. Địa hình của tỉnh Hà Giang khá phức tạp, có thể chia làm 3 vùng. Vùng cao núi đá phía bắc nằm sát chí tuyến bắc, có độ dốc khá lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều. Nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm nhưng do địa hình cao nên khí hậu Hà Giang mang nhiều sắc thái ôn đới. Vùng cao núi đất phía tây thuộc khối núi thượng nguồn sông Chảy, sườn núi dốc, đèo cao, thung lũng và lòng suối hẹp.Vùng thấp trong tỉnh gồm vùng đồi núi, thung lũng sông Lô và Thành phố Hà Giang.


Hà Giang có nhiều núi non hùng vĩ, có đỉnh Tây Côn Lĩnh (2419 m) và ngọn Kiều Liêu Ti (2402m) là cao nhất. Về thực vật, Hà Giang có nhiều khu rừng nguyên sinh, nhiều gỗ quý, và có tới 1000 loại cây dược liệu. Động vật có hổ, công, trĩ, tê tê, và nhiều loại chim thú phong phú khác.


Dân số tỉnh Hà Giang theo điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009 là 724.537 người. Trong đó, dân số thành thị là 84.338 người[2]


Các dân tộc: Mông (chiếm 32,0% tổng dân số toàn tỉnh), Tày (23,3 %), Dao (15,1 %), Việt (13,3 %), Nùng (9,9 %)...[2]


Tỉnh Hà Giang bao gồm 1 thành phố và 10 huyện và 196 đơn vị cấp xã bao gồm 5 phường, 13 thị trấn và 178 xã.


Tên Loại hành chính Dân số (2003) Diện tích (km²) thị trấn (đậm) xã


Bắc Mê             (huyện)             40,822[3]           844[3]   Yên Phú, Đường Âm, Đường Hồng, Giáp Trung, Lạc Nông, Minh Ngọc, Minh Sơn, Phiêng Luông, Phú Nam, Thượng Tân, Yên Cường, Yên Định, Yên Phong


Bắc Quang        (huyện)             103,064[3]         1,084[3]            Việt Quang, Vĩnh Tuy, Quang Minh, Tân Thành, Tân Quang, Tân Lập, Việt Vinh, Hùng An, Đồng Yên, Đông Thành,Vĩnh Phúc, Vĩnh Hảo, Tiên Kiều, Việt Hồng, Kim Ngẩu, Thượng Bình, Vô Điếm, Bằng Hành, Hữu Sản, Liên Hiệp, Đức Xuân, Đồng Tâm, Đồng Tiến.


Đồng Văn         (huyện)             57,715[3]           447[3]   Đồng Văn, Phó Bảng, Hố Quáng Phìn, Lũng Cú, Lũng Phìn, Lũng Táo, Lũng Thầu, Má Lé, Phố Cáo, Phố Là, Sà Phìn, Sảng Tủng, Sính Lủng, Sủng Là, Sủng Trái, Tả Lủng, Tả Phìn, Thài Phìn Tủng, Vần Chải


Hoàng Su Phì    (huyện)             53,937[3]           629[3]   Vinh Quang, Bản Luốc,Bản Máy, Bản Nhùng, Bản Péo, Bản Phùng, Chiến Phố, Đản Ván, Hồ Thầu, Nam Sơn, Nàng Đôn, Nậm Dịch, Nậm Khòa, Nậm Ty, Ngàm Đăng Vài, Pố Lồ, Pờ Ly Ngài, Sán Xả Hồ, Tả Sử Choóng, Tân Tiến, Thàng Tín, Thèn Chu Phìn, Thông Nguyên, Tụ Nhân, Túng Sán


Mèo Vạc           (huyện)             58,944[3]           574[3]   Mèo Vạc, Cán Chu Phìn, Giàng Chu Phìn, Khâu Vai, Lũng Chinh, Lũng Pù, Nậm Ban, Niêm Sơn, Pả Vi, Pải Lủng, Sơn Vĩ, Sủng Máng, Sủng Trà, Tả Lủng, Tát Ngà, Thượng Phùng, Xín Cái, Niêm Tòng


Quản Bạ           (huyện)             39,821[3]           550[3]   Tam Sơn, Thái An, Lùng Tám, Đông Hà, ã Quản Bạ, Quyết Tiến, Cán Tỷ, Thanh Vân, Bát Đại Sơn, Nghĩa Thuận, Cao Mã Pờ, Tùng Vài, Tả Ván


Quang Bình       (huyện)             53,160[3]           774[3]   Yên Bình, Xuân Minh, Tiên Nguyên, Tân Nam, Bản Rịa, Yên Thành, Tân Trịnh, Tân Bắc, Bằng Lang, Yên Hà, Hương Sơn, Xuân Giang, Nà Khương, Tiên Yên, Vĩ Thượng


Vị Xuyên           (huyện)             87,164[3]           1,452[3]            Vị Xuyên, Việt Lâm, Bạch Ngọc, Ngọc Minh, Trung Thành, Ngọc Linh, Linh Hồ, Việt Lâm, Đạo Đức, Phú Linh, Quảng Ngần, Thượng Sơn, Cao Bồ, Kim Linh, Kim Thạch, Phương Tiến, Lao Chải, Xín Chải, Thanh Đức, Thanh Thủy, Minh Tân, Phong Quang, Thuận Hòa, Tùng Bá


Xín Mần            (huyện)             50,307[3]           582[3]   Cốc Pài, Nàn Xỉn, Xín Mần, Bản Díu, Chí Cà, Thèn Phàng, Trung Thịnh, Pà Vầy Sủ, Ngán Chiên, Cốc Rế, Tả Nhìu, Thu Tà, Nàn Ma, Bản Ngò, Chế Là, Quảng Nguyên, Nấm Dẩn, Nà Chì, Khuôn Lùng


Yên Minh          (huyện)             67,736[3]           782[3]  


Yên Minh, Thắng Mố, Phú Lũng, Sủng Tráng, Bạch Đích, Na Khê, Sủng Thài, Hữu Vinh, Lao Và Chải, Mậu Duệ, Đông Minh, Mậu Long, Ngam La, Ngọc Long, Đường Thượng, Lũng Hồ, Du Tiến, Du Già


Đến năm 2012, tỉnh Hà Giang có 2.069 thôn, tổ dân phố.[4]


Lịch sử


Cột mốc số 0 tại thành phố Hà Giang


Đất Hà Giang xưa thuộc bộ Tân Hưng, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Về sau, Hà Giang nằm trong phạm vi thế lực của ba Tộc tướng xứ Thái. Trong giai đoạn Minh thuộc đầu thế kỷ 15, được gọi là huyện Bình Nguyên, đổi thành châu Bình Nguyên từ năm 1473, sau lại đổi tên thành châu Vị Xuyên.


Vào cuối thế kỷ 17, tộc trưởng người Thái dâng đất cho Trung Hoa, đến năm 1728, Trung Hoa trả lại cho Đại Việt một phần đất từ vùng mỏ Tụ Long đến sông Lô. Năm 1895, ranh giới Hà Giang được ấn định lại như trên bản đồ ngày nay.


Sau năm 1954, tỉnh Hà Giang có tỉnh lị là thị xã Hà Giang và 4 huyện: Bắc Quang, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Vị Xuyên.


Ngày 15 tháng 12 năm 1962, chia huyện Đồng Văn thành 3 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc và Yên Minh; chia huyện Vị Xuyên thành 2 huyện: Vị Xuyên và Quản Bạ.


Ngày 1 tháng 4 năm 1965, chia huyện Hoàng Su Phì thành 2 huyện: Hoàng Su Phì và Xín Mần.


Trước năm 1975, Hà Giang có các huyện Đồng Văn, Bắc Mê, Vị Xuyên, Xín Mần, Yên Minh, Mèo Vạc, Hoàng Su Phì, Bắc Quang và Quản Bạ.


Sau năm 1975, Hà Giang được hợp nhất với tỉnh Tuyên Quang thành tỉnh Hà Tuyên.


Ngày 18 tháng 11 năm 1983, chia huyện Vị Xuyên thành 2 huyện: Vị Xuyên và Bắc Mê.[5]


Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tái lập tỉnh Hà Giang từ tỉnh Hà Tuyên. Khi tách ra, tỉnh Hà Giang có 10 đơn vị hành chính gồm thị xã Hà Giang (tỉnh lị) và 9 huyện: Bắc Mê, Bắc Quang, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Mèo Vạc, Quản Bạ, Vị Xuyên, Xín Mần, Yên Minh.


Ngày 1 tháng 12 năm 2003, huyện Quang Bình được thành lập trên cơ sở tách 12 xã thuộc huyện Bắc Quang, 2 xã thuộc huyện Hoàng Su Phì và 1 xã thuộc huyện Xín Mần.[6]


Ngày 27 tháng 9 năm 2010, chuyển thị xã Hà Giang thành thành phố Hà Giang.[7]


Thắng cảnh và Di tích


Đèo Mã Pì Lèng


    Cao nguyên đá Đồng Văn nằm trải rộng trên bốn huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc được công nhận là Công viên địa chất Toàn cầu vào năm 2010. Đây là một trong những vùng đá vôi đặc biệt, chứa đựng những dấu ấn tiêu biểu về lịch sử phát triển vỏ Trái Đất, những hiện tượng tự nhiên, cảnh quan đặc sắc về thẩm mỹ, tính đa dạng sinh học cao và truyền thống văn hóa lâu đời của cộng đồng cư dân bản địa như các dân tộc Mông, Lô Lô, Pu Péo, Dao. Cao nguyên đá cũng là nơi có nhiều di tích danh thắng quốc gia đã được công nhận như: Di tích kiến trúc nhà Vương, Cột cờ Lũng Cú, phố cổ Đồng Văn, đèo Mã Pì Lèng, núi Đôi Quản Bạ[8]. v.v… Đồng Văn còn nổi tiếng về các loại hoa quả: đào, mận, lê, táo, hồng... về dược liệu: tam thất, thục địa, hồi, quế...


    Hệ thống các hang động:Hang Phương Thiện: cách thành phố Hà Giang 7 km (4,38 dặm) xuôi về phía nam. Đây là nơi có nhiều phong cảnh, nhiều hang động tự nhiên.Động Tiên và Suối Tiên nằm cách thành phố Hà Giang 2 km (1.25 dặm). Nhân dân quanh vùng vẫn thường đến Động Tiên lấy nước và cầu may mắn vào lúc giao thừa.[9]. Hang Chui: cách thành phố Hà Giang 7 km (4,38 dặm) về phía nam. Hang ăn sâu vào lòng núi khoảng 100 m (300 ft). Cửa hang hẹp phải lách người mới qua được. Vào trong lòng hang mở rộng, vòm hang cao vút, nhiều nhũ đá. Hang có nhiều dơi, có dòng suối dâng cao đổ xuống thành thác.


    Dinh Họ Vương thuộc xã Sà Phìn là một công trình kiến trúc đẹp và độc đáo được xếp hạng cấp quốc gia năm 1993. Đường dẫn vào dinh được lát bằng những phiến đá lớn vuông vức, phẳng lỳ. Dinh được bao bọc bởi hai vòng tường thành xây bằng đá hộc[10].Dinh thự được xây dựng chủ yếu bằng đá xanh, gỗ pơmu, ngói đất nung già, các chi tiết được chạm trổ tỉ mỉ, công phu, đẹp mắt với các hình chủ đạo là rồng, phượng, dơi,… tượng trưng cho quyền quý và hưng thịnh. Dinh thự mang vẻ đẹp bề thế, uy nghi với kiến trúc hình chữ "vương", tọa lạc trên quả đồi hình mai rùa. Đây là một điển hình về sự giao thoa nghệ thuật kiến trúc của người Mông và người Hán ở khu vực biên giới Việt – Trung.


    Chợ tình Khau Vai họp mỗi năm một lần vào ngày 27 tháng 3 âm lịch tại xã Khau Vai, huyện Mèo Vạc. Bắt nguồn từ 1 câu chuyện tình, Khâu Vai trở thành nơi hò hẹn chung cho tất cả những người yêu nhau trong vùng. Chợ Khâu Vai ban đầu họp không có người mua, không có người bán. Khoảng mười năm trở lại đây, do nhu cầu cuộc sống nên ngày chợ họp ngoài việc hò hẹn, gặp gỡ, người ta mang cả hàng hóa đến bán ở chợ. Do vậy đến chợ Khâu Vai, người ta cũng có thể mua, bán, trao đổi những sản vật vùng cao[9].


    Tiểu khu Trọng Con: Cách đường quốc lộ số 2, 20 km về phía đông nam, cách Thành phố Hà Giang khoảng 60 km về phía bắc ở tại Xã Bằng Hành, Huyện Bắc Quang, Tỉnh Hà Giang (đã được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử năm 1996). Đây được xem là cái nôi của phong trào cách mạng ở Hà Giang [11].


    Chùa Sùng Khánh cách Thành phố Hà Giang 9 km về phía nam thuộc thôn Làng Nùng, xã Đạo Đức, Huyện Vị Xuyên,được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử nghệ thuật năm 1993. Chùa được xây dựng thời Triệu Phong (1356), do thời gian, chùa bị hư hại, đến năm 1989 được nhân dân xây dựng trên nền chùa cũ. Ở đây còn lưu giữ hai di vật: Bia đá thời Trần (1367) ghi lại công lao của người sáng lập ra chùa và một quả Chuông cao 0.90 m, đường k ính 0.67 m, được đúc thời Hậu Lê (1705). Nghệ thuật khắc trên đá, trên Chuông đồng và kỹ thuật đúc Chuông là một bằng cứ nói lên bàn tay tinh sảo của các nghệ nhân vùng biên giới phía bắc này, và từ đó biết thêm lịch sử phát triển thời Trần và Lê tới tận vùng biên ải Hà Giang[11].


    Chùa Bình Lâm thuộc địa phận thôn Tông Mường xã Phú Linh, Thành phố Hà Giang. Chùa còn có tên gọi chữ Hán là "Bình Lâm Tự". Nhân dân ở đây còn lưu giữ một quả chuông thời Trần được đúc vào tháng 3 năm Ất Mùi (1295) chuông có chiều cao 103 cm, đường kính miệng 65 cm, quai được cấu tạo bởi hai hình rồng, trên chuông có khắc bài Minh bằng chữ Hán gồm 309 chữ năm Bính Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 4 (1296). Trên quả chuông ta bắt gặp tiêu bản rồng nổi trên chất liệu đồng (thế kỷ 13). Cùng với quả chuông, tại chùa Bình Lâm còn phát hiện được một số di vật như Tháp đất nung, mái ngói có hoạ tiết hoa chanh... là những nét quen thuộc và tiêu biểu của văn hoá thời Trần[11].


Hà Giang là nơi có nhiều sản phẩm văn hóa đặc sắc từ truyền thống lâu đời của hơn 20 dân tộc, một địa danh du lịch đáng nhớ bởi cảnh quan thiên nhiên và con người ở đây. Không giống với bất kỳ một nơi du lịch nào ở Việt Nam, đến Hà Giang, du khách có thể thấy được những sản phẩm kết tinh từ truyền thống văn hóa độc đáo của người miền núi, đó là các loại khăn thêu, túi vải, áo váy với các loại hoa văn rực rỡ. Du khách sẽ tham dự những phiên chợ vùng cao đầy thơ mộng.


Lễ mừng nhà mới dân tộc Lô Lô: Lễ mừng nhà mới kéo dài khoảng 2 ngày 2 đêm ở ngôi nhà mới của người dân tộc Lô Lô. Cả bản kéo tới ăn mừng cho ngôi nhà mới. Thầy cúng đi hát, sau đó cùng ăn uống vui chơi, hòa tấu kèn sáo và hát giao duyên nam nữ.


Lễ hội mùa xuân: Đây là lễ hội vui xuân của dân tộc H'mông và dân tộc Dao, thường được tổ chức vào những ngày sau Tết Nguyên Đán và kéo dài từ 3 đến 7 ngày. Lễ hội mang tính chất tổng hợp mừng công, cầu mưa, cầu con trai. Lễ hội có thi bắn nỏ, hát giao duyên, ném pa páo, uống rượu, mở tiệc đãi khách.


Lễ hội vỗ mông của dân tộc Mông:Ngày mùng 5 Tết Nguyên Đán hằng năm, cái chàng trai,cô gái đổ về Mèo Vạc nhằm tìm cho mình vợ(chồng).Khi tham gia lễ hội, các chàng trai, cô gái tìm đối tượng mà họ cảm thấy phù hợp với mình rồi vỗ mông đối tượng và chờ "đối phương" đáp lại. Đáng buồn,tục lệ tảo hôn vẫn tiếp diễn trong lễ hội này.


Hà Giang là vùng miền núi nên dân số trong tỉnh không đông, người Kinh chiếm đa số, còn lại là các sắc dân gồm Thổ, Mèo, Tày, Dao, Mán, Nùng, Giáy và Lô Lô. Phần đông đều thờ cúng tổ tiên, thần linh; và đều có những sắc thái văn hóa đặc thù.


Cũng vì địa thế toàn rừng núi nên kinh tế Hà Giang tương đối kém phát triển. Lâm sản chính là vài loại gỗ quý như lát hoa, lát da đồng; và các loại gỗ cứng như lim, sến, trai, táu, đinh. Củ nâu, vầu, nứa ở đâu cũng có. Nông sản gồm lúa, ngô, khoai và các loại đậu đỗ. Vùng chân núi Tây Côn Lĩnh trồng nhiều trà. Dân chúng cũng trồng cây ăn trái, mận và lê ở vùng Đồng Văn, Hoàng Su Phì rất nổi tiếng. Nghề nuôi ong lấy mật khá thịnh hành. Rừng Hà Giang có nhiều động vật hoang dã như phượng hoàng, trăn, rắn, công, trĩ...


Khoáng sản có mỏ chì, đồng, thủy ngân và cát trộn vàng. Sông Năng và Bảo Lạc có các kỹ nghệ lọc vàng nhưng vẫn còn thô sơ, ngoài ra chỉ toàn những tiểu công nghệ sản xuất vật dụng hàng ngày. Nền thương mại Hà Giang chỉ giới hạn ở sự trao đổi lâm sản với miền xuôi và với Trung Quốc.


Các vùng núi thấp như Vị Xuyên, Bắc Quang có kinh tế phát triển hơn vùng núi. Dựa vào sông Lô và lượng mưa lớn, các ngành nông nghiệp ở khu vực này rất phát triển, không kém gì vùng núi trung du. Nơi đây có vùng trồng cam sành nổi tiếng, những cánh đồng phì nhiêu...


Rải rác từ Vĩnh Tuy lên đến Vị Xuyên là các nhà máy sản xuất trà, đặc sản của Hà Giang có trà Shan tuyết cổ thụ (xã Cao Bồ)[12]. Đặc điểm trà Shan Tuyết là sạch sẽ, không có thuốc trừ sâu và thuốc kích thích, các nhà máy sản xuất trà hiện nay còn khuyến khích nhân dân trong vùng trồng xen kẽ cây gừng giữa các luống trà. Trà Shan tuyết cổ thụ của Hà Giang thường được xuất khẩu sang thị trường Đài Loan, Nhật Bản và một số nước Tây Âu[13], chưa thịnh hành trong thị trường nội địa như trà Tân Cương - Thái Nguyên.


____


    ^ a ă “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 30 tháng 9 năm 2012.


    ^ a ă â Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Trang 149-150. Hà Nội, 6/2010.


    ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p “s of Vietnam”. Statoids. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2010.


    ^ Quyết định số 2121/QĐ-UBND ngày 11 tháng 10 năm 2012 của UBND tỉnh Hà Giang về chia tách, thành lập thôn, tổ dân phố.


    ^ Quyết định 136-HĐBT năm 1983 thành lập huyện Bắc Mê


    ^ Nghị định 146/2003/NĐ-CP về việc thành lập huyện Quang Bình


    ^ Nghị quyết 35/NQ-CP năm 2010 thành lập thành phố Hà Giang


    ^ http://www.dongvangeopark.com/Pages/NewsDetails.aspx?id=343 Trang web chính thức của Ban quản lý công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn.


    ^ a ă “Điểm tham quan Hà Giang”. Tổng cục Du lịch Việt Nam.


    ^ “Dinh Họ Vương”. Cổng thông tin điện tử Tỉnh Hà Giang.


    ^ a ă â “Di tích lịch sử Hà Giang”. Cổng thông tin điện tử Hà Giang. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013.


    ^ Trồng chè hữu cơ, hướng đi mới ở Cao Bồ


    ^ Chè Shan Hà Giang chinh phục thị trường thế giới


Wikipedia


 Dinh Họ Vương - Tỉnh Hà Giang


Tại huyện Đồng Văn xa xôi, hiện có một điểm du lịch lý thú đó là dinh họ Vương (Vương Chí Sình) thuộc địa phận xã Sà Phìn. Quy mô của dinh không lớn nhưng đây là một công trình kiến trúc đẹp hiếm có và rất độc đáo của vùng cao nguyên này. Đoạn đường dẫn vào dinh chỉ dốc thoai thoải, được lát bằng những phiến đá lớn vuông vức, phẳng lỳ. Dinh được bao bọc bởi hai vòng tường thành xây bằng đá hộc. Vòng thành ngoài là một bức tường dày khoảng 40cm, cao khoảng 2m. Vòng thành trong dày và kiên cố hơn vòng thành ngoài. Cả hai vòng thành đều có lỗ châu mai. Giữa hai vòng thành là một dải đất rộng khoảng 50m, trồng toàn trúc.


Dinh có ba ngôi nhà sàn. Ngôi nhà chính quay mặt ra cổng thành, hai ngôi nhà phụ song song nhau và vuông góc với ngôi nhà chính. Cả ba ngôi nhà được làm bằng gỗ, từ cột, kèo, sàn, vách, mái đều làm bằng gỗ quý. Ngôi nhà chính là nơi ở của "vua" họ Vương, ở đó hiện vẫn còn bức hoành phi với bốn chữ "Biên chinh khả phong" được vua Nguyễn ban cho. Hai ngôi nhà kia dành cho những người phục vụ và lính bảo vệ.


Dinh họ Vương là một điểm dừng chân đáng để bạn quên đi mọi vất vả sau những chặng đường cheo leo hiểm trở; bởi toàn bộ cảnh trí dinh họ Vương toát lên vẻ thâm nghiêm trong khung cảnh tĩnh mịch nơi vùng cao biên giới.


 Ẩm thực cao nguyên đá Đồng Văn


Không phải ngẫu nhiên mà từ nhiều năm nay, vùng núi đá cực bắc của tỉnh cực bắc Hà Giang đã trở thành điểm đến của nhiều tour du lịch khám phá. Vùng đất được mệnh danh là cao nguyên đá này quá ấn tượng đối với du khách bởi phong cảnh thiên nhiên cực kỳ hùng vĩ. Nhưng không chỉ có cảnh quan, món ăn ở đây cũng rất lạ lùng...


Từ thị xã Hà Giang, qua những con đèo cao ngất tới Quản Bạ, rồi Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc. Phong cảnh vừa hùng vĩ vừa trữ tình dần hiện ra ngoài cửa xe như trong một bộ phim du lịch khám phá. Đầu xuân, những vườn mận, vườn đào hoa nở trắng xoá hoặc hồng rực.


Đầu hè, những triền ngô xanh nõn bám trên các sườn núi đá. Trễ hơn chút nữa, mùa lúa duy nhất trong năm bắt đầu, từ trên những sườn núi cao nhìn xuống thung sâu, thấp thoáng các khu ruộng bậc thang loáng nước, ở đó, người Mông đang hối hả cày cấy...


Trong không gian như mơ như thực ấy, không khi nào thiếu những vạt cải hoa vàng rực rỡ. Và thật thú vị, đó chính là món ngon đầu tiên mà người viết bài từng được ăn khi lần đầu tiên đến với vùng cao nguyên đá Hà Giang.


Cải ngồng Hà Giang.


Cải ngồng Hà Giang rất lạ, cọng mũm mĩm như đọt măng tây, điểm những chấm hoa vàng tươi rói cả khi còn tươi lẫn khi đã luộc chín. Ngọt, chắc, bùi là những cảm giác rõ mồn một khi thưởng thức món ngồng cải luộc rất bình dân nhưng cực kỳ khoái khẩu với người miền xuôi vốn thèm rau sạch khi đến Hà Giang!


Khí hậu quanh năm mát mẻ của núi cao, nhất là vùng "lõi của cao nguyên đá" là hai huyện Đồng Văn, Mèo Vạc khiến nơi đây trồng được những loại rau, đậu rất ngon và lạ. Trái "dưa mèo" mũm mĩm như chú chuột bạch cỡ lớn, đậu Hà Lan xanh mượt, giòn và ngọt lạ lùng.


Dẫu không nổi tiếng như ở Định Hoá (Thái Nguyên) hay Mường Thanh (Điện Biên), lúa gạo trồng trong những thung lũng lọt giữa ngút ngàn núi đá ở Đồng Văn, Quản Bạ vẫn làm nên những nồi cơm ngon nhất. Cơm gạo mới ở Đồng Văn, Mèo Vạc luôn nấu bằng nồi nhôm đúc và vùi trong than củi nên thơm dẻo khác hẳn cơm nấu trong nồi điện dưới xuôi.


Thường thì muốn đi hết một vòng bốn huyện miền núi cao, du khách phải nghỉ lại Hà Giang sau khi vượt qua 320km đường xe từ Hà Nội. Sáng hôm sau, lại đi trên những con đường chênh vênh trên sườn núi cao ngất. Đi theo hành trình ấy, thì ăn trưa tại thị trấn Yên Minh là hợp lý. Chặng về cũng vậy, khởi hành từ Đồng Văn hoặc Mèo Vạc vào buổi sáng thì tầm trưa cũng lại đi qua "cửa ải" Yên Minh.


 Thị trấn cửa ngõ của hai huyện Đồng Văn, Mèo Vạc có hai quán ăn nhỏ nằm bên chợ huyện Yên Minh đã sẵn sàng đón khách. Món ăn ở đây khá "độc". Ngồng cải luộc vừa ngọt vừa bùi, bó ngô non nhồi thịt thơm phức, tôm suối xào lá chanh giòn tan.


Gà mèo - đặc sản nổi tiếng vùng cao nguyên đá Hà Giang.


Đặc biệt vào mùa lạnh, món lạp xường và thịt xông khói trở thành đặc sản. Quy trình làm lạp xường nhiều người đã biết, thịt băm nhỏ trộn gia vị nhồi vào ruột heo non và nướng trên than hồng cho chín rồi treo trên gác bếp. Thịt xông khói được làm theo cách khác. Thịt mông, vai, ba chỉ của con lợn cắp nách xẻ thành miếng dài đem ướp muối chừng một tuần rồi đem treo lên gác bếp. Đem làm món, vị mặn của muối quyện với chất béo của mỡ khiến người mới ăn không biết đằng nào mà lần!


Lõi của vùng cao cực Bắc là thị trấn Đồng Văn. Thủ phủ của cao nguyên đá khiến ta nao lòng bởi vẻ đẹp u hoài của khu phố cổ bên ba dãy chợ mà người Pháp khi xâm chiếm Đồng Văn đã xây từ những năm 30 của thế kỷ trước.


Nếu đã một lần đến cao nguyên đá, bạn hãy cố tìm để được ăn món "gà mèo", một giống gà đặc biệt chỉ có ở vùng cao núi đá này và xứng đáng được liệt vào hàng đặc sản. Con gà mèo không khác gì gà thường nhưng chân đen, mặt đen, mào đen, da đen, thịt đen và xương cũng đen nốt. Luộc, rang và nấu canh gừng là cách người vùng cao nguyên đá "ứng xử" với gà mèo.


Thịt gà mèo rất lạ: không béo, không nát, chắc mà không dai, nạc mà không xác. Tóm lại, nếu một lần đã được xơi món thịt gà đen như bánh gai ấy, thì một ngày đẹp trời nào đó, ta sẽ lại khao khát được leo cao nguyên đá lần thứ hai, rồi lần thứ ba!


Nguồn: giadinh.net.vn


Cao nguyên đá mời gọi


Cao nguyên Đồng Văn sừng sững với những dãy núi đá, rừng đá tai mèo được hình thành cách đây hàng triệu năm do biến đổi của vỏ trái đất đang được “đánh thức”.


Cao nguyên đá Đồng Văn nằm ở phía Bắc Hà Giang, bao trùm 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc với diện tích tự nhiên trên 2.300 km2, dân số trên 250 nghìn người. Từ nhiều đời nay, người dân sống trên Cao nguyên Đồng Văn luôn cần mẫn gieo trồng, canh tác trên nền của đá. Nhưng họ chưa bao giờ nghĩ vùng quê đá nơi mình sinh sống lại có ý nghĩa vô cùng lớn, trở thành Công viên Địa chất quốc gia. Năm 2008, một Hội thảo khoa học được tổ chức với chủ đề “Cao nguyên đá Đồng Văn - những giá trị độc đáo, định hướng bảo tồn và phát triển”. Tại Hội thảo này, lần đầu tiên các tư liệu nghiên cứu, phát hiện mới, có giá trị lớn của Cao nguyên đá Đồng Văn được công bố. Những tư liệu đó đã khởi nguồn cho việc Cao nguyên đá Đồng Văn trở thành Công viên Địa chất quốc gia. Điều đó có ý nghĩa rất lớn, tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân sở tại thông qua hoạt động du lịch, tạo công ăn việc làm cho lao động địa phương, gia tăng nhận thức về môi trường địa chất...


Tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học khẳng định: Địa chất cao nguyên Đồng Văn phần lớn là núi đá vôi với các trầm tích cổ sinh địa tầng và cấu trúc địa chất có tuổi từ Cambri đến Trias. Trên Cao nguyên Đồng Văn có khoảng 40 loại đất, đá với thành phần hóa học khác nhau, nhiều loại có niên đại trên 600 triệu năm. Cao nguyên đá còn rất đa dạng về các loại thạch địa tầng, các loại hình khoáng sản và sự đa dạng cổ sinh học với hàng nghìn loại thuộc 120 giống của 17 nhóm sinh vật. Kết quả nghiên cứu, khảo sát của các nhà khoa học cũng phát hiện gần 40 điểm di sản thiên nhiên có giá trị tài nguyên mang ý nghĩa quốc gia, quốc tế. Trong đó, có 7 di sản về tiến hoá trái đất; 3 điểm quan sát toàn cảnh; 7 vườn đá, rừng đá; 6 điểm di sản về vách đá dốc đứng cao từ 200 - 600m; 7 di sản hang động; 5 di sản về các trũng kiến tạo karst; 3 điểm bảo tồn cổ sinh học.


Ngoài những giá trị kiến tạo độc đáo trong quá trình biến đổi của vỏ trái đất, Cao nguyên đá Đồng Văn còn “quyến rũ” bởi những giá trị văn hoá được truyền qua nhiều đời, của nhiều thế hệ con người “Sống trên đá chết nằm trong đá”, như lễ hội Chợ tình Khau Vai (Mèo Vạc), lễ cúng Thần rừng của người Pu Péo (Đồng Văn). Các lễ hội văn hoá đậm bản sắc dân tộc được lưu giữ qua nhiều thế hệ, những phương thức canh tác độc đáo chỉ có ở Cao nguyên đá, cuộc sống người dân trên đá... đã tạo nên sự phong phú, độc đáo, giàu bản sắc và ý nghĩa nhân văn. Cao nguyên đá Đồng Văn còn nổi tiếng với các công trình kiến trúc như Phố cổ Đồng Văn gồm những dãy nhà cổ được xây dựng cách đây hàng trăm năm, cột cờ Lũng Cú, Nhà Vương... Những giá trị đó được tích luỹ, hình thành qua bao thế hệ càng tăng thêm giá trị, toát lên vẻ đẹp của Cao nguyên đá Đồng Văn.


Sau Hội thảo khoa học năm 2008, Cao nguyên đá Đồng Văn thành Công viên Địa chất quốc gia. Nó bao gồm một số điểm di sản địa chất ở mọi quy mô hay một bức khảm về thực thể địa chất có tầm quan trọng khoa học đặc biệt, hiếm có và đẹp. Một Công viên địa chất quốc gia muốn tham gia mạng lưới Công viên Địa chất toàn cầu phải đáp ứng được các yếu tố như kích thước; việc sắp xếp quản lý và sự tham gia của địa phương; phát triển kinh tế, đào tạo, bảo vệ và bảo tồn. Xét trên cơ sở các tiêu chí đó, Cao nguyên đá Đồng Văn đủ điều kiện trở thành Công viên Địa chất quốc gia và hoàn toàn có thể gia nhập hệ thống Công viên Địa chất thế giới. Hiện nay, trên thế giới mới chỉ có 55 công viên ở 17 nước được UNESCO công nhận và tham gia mạng lưới Công viên Địa chất toàn cầu. Trong số đó, 10 công viên có hiện tượng địa chất Karst nhưng Cao nguyên Đồng Văn mang đặc trưng riêng với những kiến tạo tự nhiên gồm các hoang mạc đá, rừng đá phong hoá, rừng đá trẻ... ở Việt Nam, một số địa danh như Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Hồ Ba Bể (Bắc Kạn) cũng có thể trở thành Công viên Địa chất nhưng sự đa dạng và kiến tạo đặc biệt như Cao nguyên Đồng Văn thì chỉ duy nhất. Cao nguyên Đồng Văn là địa danh đầu tiên được lập hồ sơ đề nghị công nhận Công viên Địa chất quốc gia.


Những giá trị của Cao nguyên đá được khơi dậy cách đây mấy năm bằng sự hợp tác của Dự án công viên Việt-Bỉ, Sở VH-TT và du lịch Hà Giang cùng các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực địa chất - khoáng sản, cổ sinh địa tầng, khảo cổ học, dân tộc học. Các nhà khoa học đã nghiên cứu, làm rõ những giá trị nổi bật của Cao nguyên đá Đồng Văn về địa chất, địa mạo, tự nhiên, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, qua đó đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị của nó, phục vụ cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch của địa phương. Mới đây, Cục Di sản văn hóa đã chấp thuận 5 di tích trên Cao nguyên đá Đồng Văn, gồm quần thể danh thắng Lũng Cú, phố cổ Đồng Văn (Đồng Văn); chợ tình Khau Vai; quần thể lịch sử - danh thắng Mã Pì Lèng ở xã Pài Lủng (Đồng Văn); danh thắng Núi Đôi (Quản Bạ) đủ tiêu chí lập hồ sơ trình Bộ VH-TT và DL công nhận di tích quốc gia. Một Hội thảo quốc tế về xây dựng Công viên Địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn do UBND tỉnh Hà Giang phối hợp với Bộ TN-MT, VH-TT và DL, Ngoại giao, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Viện Dân tộc học và các đối tác Bỉ sẽ được tổ chức tại Đồng Văn vào ngày 11.9. Hội thảo quy tụ các nhà quản lý, nhà khoa học và đại biểu quốc tế đến từ Đại sứ Vương quốc Bỉ tại Việt Nam, Văn phòng đại diện UNESCO tại Hà Nội, đại diện ủy ban Châu Âu tại Việt Nam, Bộ VH-TT và DL, TN-MT, KH-CN, Trung tâm Bảo tồn di tích Hội An (Quảng Nam), BQL Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình); các doanh nghiệp lữ hành danh tiếng như: Công ty Du lịch và xúc tiến đầu tư Vistuor, Công ty ACT Trevel, Công ty Cổ phần Cao nguyên đá (Hà Giang)... Hội thảo sẽ công bố một số kết quả nghiên cứu mới về đặc điểm và giá trị địa chất, địa mạo trên Cao nguyên đá Đồng Văn; các bước cần thiết tiếp theo trong việc xây dựng Công viên địa chất, đề xuất quy hoạch định hướng phát triển Công viên Địa chất.


Chợ Tình Khâu Vai - Tỉnh Hà Giang


Chợ chỉ họp mỗi năm một lần vào ngày 27 tháng 3 âm lịch tại xã Khâu Vai, huyện Mèo Vạc.


Truyện kể rằng, ngày xưa có một đôi trai gái thuộc hai bộ lạc yêu nhau. Người con gái rất xinh đẹp, bộ lạc của cô không muốn cô lấy chồng sang bộ lạc khác; còn bộ lạc bên chàng trai lại muốn cô về làm dâu bộ lạc của mình. Chính vì vậy mà hiềm khích giữa hai bộ lạc xảy ra. Mối thù của hai bộ lạc càng nhân lên khi tình yêu của họ càng thắm thiết. Một ngày kia, khi người con trai đang ngồi với người yêu của mình trên núi thì nhìn thấy cảnh tượng hai bộ lạc đang đánh nhau rất quyết liệt ở phía dưới. Họ biết tình yêu của họ là nguyên nhân chính. Để tránh đổ máu giữa hai bộ lạc, hai người đau đớn quyết định chia tay và hẹn sẽ gặp nhau mỗi năm một lần đúng vào ngày ấy. Địa điểm gặp nhau tại nơi họ vẫn thường hò hẹn - Khâu Vai. Dần sau đó, Khâu Vai trở thành nơi hò hẹn chung cho tất cả những người yêu nhau trong vùng.


Chợ Khâu Vai ban đầu họp không có người mua, không có người bán. Họ đến đây chỉ nhằm để nhìn bóng dáng mà lòng mình đã trao thương gửi nhớ. Nếu gặp lại người xưa thì trò chuyện cho thỏa lòng nhớ mong; nếu chưa biết thì làm quen, kết bạn. Bất kể tuổi tác, già hay trẻ. Họ mang đến đây thức ăn sẵn, khi đến bữa bỏ ra cùng ăn với nhau gói cơm nếp, củ sắn, miếng bánh... tất cả đều là sản phẩm tự làm mang đi từ nhà và những bữa ăn như vậy càng làm cho họ có thêm những giờ phút hạnh phúc bên nhau.


Là người ở xa, người ta đến chợ từ chiều hôm trước để sáng sớm hôm sau đã có mặt ở chợ. Họ chờ đợi suốt một năm ròng cho nên tâm trạng của người đi chợ thật háo hức. Sáng sớm là lúc họ dớn dác tìm nhau. Người tìm được bạn rồi thì trò chuyện với nhau không dứt. Người chưa tìm được bạn thì bồn chồn ngóng đợi, mỏi mắt chờ mong. Còn những người mới đến lần đầu để tìm bạn thì muốn nhanh chóng tìm được một người bạn để tâm tình. Khi có bạn rồi cũng là lúc họ say đắm bên nhau...


Buồn nhất là lúc chiều về, lúc họ phải chia tay, thật bịn rịn chẳng muốn rời nhau. Dẫu sao, sự hội ngộ đã để lại trong họ một điều gì đó rất thiêng liêng. Với đôi bạn trẻ biết đâu năm đó họ sẽ nên vợ nên chồng, hoặc có khi phải hẹn nhau chợ phiên năm tới...


Khoảng chục năm trở lại đây, do nhu cầu cuộc sống nên ngày chợ họp ngoài việc hò hẹn, gặp gỡ, người ta mang cả hàng hóa đến bán ở chợ. Do vậy đến chợ Khâu Vai, bạn cũng có thể mua, bán, trao đổi những sản vật. Hy vọng, Khâu Vai sẽ mang lại cho bạn những hoài niệm về một địa danh gắn với câu chuyện tình đã đi vào huyền thoại...


saigonnet


Đến với Hà Giang miền quê cực bắc


Hà Giang là mảnh đất địa đầu tổ quốc, có đường biên giới Việt – Trung dài trên 274km, phía bắc giáp Trung Quốc, phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía tây giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái.


Từ Thủ đô Hà Nội theo quốc lộ 2, với quãng đường dài 318km, bằng phương tiện ô tô chạy khoảng 6 giờ đồng hồ bạn đã có mặt tại thị xã Hà Giang đầy thơ mộng và mến khách. Thiên nhiên đã ban tặng cho Hà Giang nhiều địa danh, thắng cảnh tuyệt đẹp.


Làng du lịch Panhau – Thông nguyên Hoàng Su Phì


 Cảnh quan môi trường của Hà Giang đến nay còn mang đậm nét nguyên sơ, một địa hình Karst tiêu biểu với bạt ngạt núi đá tai mèo trải rộng ở 4 huyện vùng cao phía bắc như Quản Bạ, Yên Minh, Đồng văn, Mèo Vạc được ví như Vịnh Hạ Long trên cạn, ở phía tây với những ruộng bậc thang gối nhau từ thấp đến cao cùng vô số khe suối thác nước, hang động ở khắp các vùng chính là một tiềm năng du lịch sinh thái rất có giá trị của Hà Giang. Trong quá trình lịch sử, Hà Giang là nơi “đất lành chim đậu”, chính nơi đây là điểm hội tụ của nhiều dân tộc di cư từ nhiều vùng khác nhau, về đây quần tụ. Với 22 dân tộc anh em cùng chung sống qua bao thế hệ khẳng định một kho tang văn hóa vật thể, phi vật thể đồ sộ. Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa truyền thống hết sức độc đáo từ tên gọi, trang phục, nơi cư trú, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tín ngưỡng… ngoài các lễ hội mang tính cộng đồng tiêu biểu, phải kể đến một di sản qúy báu về văn nghệ dân gian, từ việc truyền miệng thơ ca, truyện cổ, ca dao tục ngữ cho đến các làn điệu dân ca, dân vũ phong phú, đa dạng, với trình độ biểu diễn của một số tộc người mang đậm nét đặc trưng mà còn đạt đến đỉnh cao nghệ thuật như múa Lô Lô, múa Khèn Mông, dân ca Mông, Dao, Pu Péo, Tày, Nùng… Đặc biệt có một số tộc người chỉ có duy nhất ở Hà Giang như Pu Péo, Cờ Lao, La Chí, Bố Y… Chính sự tồn tại của các tộc người này tạo cho Hà Giang một diện mạo văn hóa vừa đa dạng vừa độc đáo, khó có thể lẫn với bất cứ vùng nào.


Lễ hội dân tộc Dao


Trong quá trình đấu tranh lịch sử, mảnh đất biên cương này đã ghi đậm những chiến công đáng tự hào, nhiều di tích lịch sử văn hóa đã được nhà nước xếp hạng như


Di tích lịch sử cách mạng – Căng Bắc Mê


Di tích lịch sử cách mạng - Tiểu khu Trọng con (khu căn cứ cách mạng Lý Tự Trọng)


Di tích Kỳ đài (Quảng trường 26/3)


Di tích lịch sử văn hóa – Chùa Sùng Khánh


Di tích lịch sử văn hóa – Chùa Bình Lâm


Di tích Kiến trúc nghệ thuật – Khu nhà dòng họ Vương (Xà Phìn, Đồng Văn)


Phố cổ Đồng Văn


Di chỉ khảo cổ học Hang Đán Cúm, Hang Nà Chảo


Di chỉ Khảo cổ học thời tiền sử (Đồi thông thị xã Hà Giang)


Di tích bãi đá cổ có hình khắc vẽ (xã Nấm dẩn - huyện Xín Mần)


Theo quốc lộ 2 hết địa phận tỉnh Tuyên Quang bạn đã đến huyện Bắc Quang, huyện cửa ngõ của tỉnh có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế, Bắc Quang có những đặc sản nổi tiếng như chè shan, cam sành… có Thác Thí nàng tiên, đặc biệt có Hồ Quang Minh thuộc xã Quang Minh, hồ nằm giữa một vùng đồi núi thấp xung quanh là ruộng nương, vườn rừng xanh biếc của đồng bào dân tộc Tày hiện ra một vùng hồ mênh mông gợn sóng, mặt hồ rộng hơn 70ha, khí hậu quanh năm mát mẻ, giữa hồ có một khoảng đất rộng nhô lên như một bán đảo, hồ có nhiều tôm cá, rừng trong hồ có nhiều động vật hoang dã như sóc bay, khỉ, chồn, lợn rừng, gà lôi… Du khách có thể đi thuyền ngắm cảnh và thưởng thức những đặc sản sẵn có ở hồ do bàn tay khéo léo của người dân bản địa chế biến.


Khu nghỉ dưỡng nước nóng Thanh Hà - Vị Xuyên


Qua Bắc Quang bạn đến với Vị Xuyên (huyện anh hùng trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đến với Vị Xuyên ta khó quên với những đặc sản chè shan tuyết cổ thụ, cam sành dịu ngọt, thiên nhiên cũng ban tặng cho vùng đất này có nhiều khoáng sản đang được đầu tư và khai thác, có khu nước nóng nay đã trở thành khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng Thanh Hà. Vị Xuyên có nhiều hang động đẹp như hang Tùng Bá, hang Nậm Má, nhiều làng văn hóa du lịch cộng đồng. Đặc biệt có của khẩu Thanh Thủy đang trở thành khu đô thị mới, khu kinh tế cửa khẩu có tốc độ phát triển nhanh, là điểm thu hút khách du lịch cũng như sự đầu tư trong và ngoài nước vào khu vực này.


Chè Shan tuyết cổ thụ


Làng du lịch Lùng Tao – Cao Bồ Vị Xuyên


 Từ thị xã Hà Giang ngược quốc lộ 4c khoảng 40 km đưa ta đến cổng trời Quản Bạ, với độ cao hơn 1000m so với mặt nước biển một cảm giác lâng lâng khi ta đứng trên cổng trời để “ngắm trần gian”. Trong làn mây trắng uốn lượn khu nghỉ mát Tam Sơn hiện ra và trong mắt ta bắt gặp ngay cặp “thạch nhũ đôi” đầy đặn, căng tròn như đôi ngực trần thiếu nữ  mang nguồn sinh lực dồi dào, thể hiện cho sức sống mãnh liệt ở nơi này. Quản Bạ là cửa ngõ cao nguyên đá phía bắc tỉnh Hà Giang, có nhiều tiềm năng phát triển nông, lâm nghiệp, khu nghỉ mát Tam Sơn nằm ngay trung tâm huyện lỵ, ở đây du khách có thể thưởng thức một loại rượu nổi tiếng, rượu ngô Thanh Vân, được đồng bào Mông nấu theo phương pháp truyền thống với ngô hạt đồ chín ủ men lá, chưng cất bằng nguồn nước tinh khiết từ dãy núi Bát Đại Sơn chảy về. Rượu nhắm với thịt bò khô, thịt dê nướng, vịt quay, cơm lam trắng thơm, dễ gì quên được dẫu chỉ một lần…


Núi đôi Quản Bạ


Khu nghỉ mát Tam Sơn - Quản Bạ


Qua đất Yên Minh “miền nhớ” đến điểm cực bắc tổ quốc là đỉnh Lũng Cú (thuộc cao nguyên Đồng Văn), khi lên đến đỉnh Lũng Cú ngước nhìn lên lá cờ đỏ sao vàng với diện tích 54m2 là biểu tượng thiêng liêng nơi cực bắc, tượng trưng cho 54 dân tộc Việt Nam tung bay trước gió. Điểm chóp nón Lũng Cú có vĩ độ 23’22’ bắc chạy qua, đứng nơi đây ta càng thấy tự hào về sự uy nghi, thể hiện sức sống mãnh liệt ở một vùng biên cương. Có nhiều người thường nói: “Đến với Hà Giang mà chưa đến đỉnh Lũng Cú thì chưa phải đến Hà Giang”. Đến với cao nguyên Đồng Văn còn đến với khu di tích dòng họ Vương, đây là một công trình kiến trúc cổ Trung Quốc (cuối thời nhà Thanh). Ngay Trung tâm huyện lỵ Đồng Văn có khu phố cổ đã tồn tại hàng trăm năm, nhiều mái nhà cổ kính rêu phong mang đậm nét kiến trúc của vùng núi phía bắc.


Đỉnh Mã Pì Lèng


Từ Đồng Văn sang Mèo Vạc bất cứ một du khách nào cũng phải dừng chân ở đỉnh Mã Pì Lèng, từ trên cao nhìn xuống thấy dòng sông Nho Quế uốn lượn như hình rồng bay. Với đỉnh “Mã Pì Lèng” thật là “Danh bất hư truyền” là đệ nhất hùng quan vào bậc nhất nước ta. Nằm cuối quốc lộ 4c Hà Giang - Đồng văn – Mèo Vạc, đoạn đường hiểm trở nhất là đỉnh Mã Pì Lèng ở độ cao 1800m so với mặt nước biển, chỉ với 7km đường đã phải làm ròng rã trong 20 mùa trăng tròn, có đoạn phải làm tới 33000 công. Đây là kỳ quan thiên nhiên, là biểu tượng của lòng quả cảm, ý chí vượt khó của đồng bào các dân tộc Hà Giang, đồng thời cũng là tình cảm máu thịt của nam nữ thanh niên các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và một số thanh niê n các tỉnh Đồng bằng bắc bộ cùng tham gia mở con đường này.


Sông Nho Quế


Cách huyện lỵ Mèo Vạc 24km, từ lâu rồi cái xóm nhỏ heo hút này đã mang tên Khau Vai, đã trở thành nơi hội tụ gặp gỡ của những đôi trai gái đi tìm bạn tình, của những đôi lứa yêu nhau và cả những đôi đã từng yêu mà không lấy được nhau. Nơi đây còn được gọi bằng cái tên thật đẹp: Chợ tình phong lưu – một hiện tượng văn hóa đặc sắc và hiếm có ở Việt Nam và thế giới. Chợ tình Khau Vai (mỗi năm chỉ họp một lần vào ngày 27 tháng 3 âm lịch). Du khách được chìm đắm trong không khí tưng bừng náo nhiệt của ngày hội chợ, ngây ngất trước khung cảnh hùng vĩ núi non, rạo rực trong tiếng đàn môi thiết tha gọi bạn, du dương trầm bổng với tiếng khèn Mông cùng với những làn điệu dân ca hát đối tỏ tình của trai gái Mông, Nùng Giấy…


Hà Giang, dẫu một thoáng dừng... cũng khó có thể phôi phai trong lòng du khách.


Sơn Huy – Sở Thông tin và Truyền thông Hà Giang


 Đến Hà Giang


Chúng tôi quyết định rời Sapa đi Hà Giang bằng con đường tắt đầy gian nan với hành trang: một chiếc jeep, một tài xế và những tâm hồn tìm đến sự hùng vĩ của thiên nhiên.


Đã có những thời điểm sự hùng vĩ của thiên nhiên cùng với sự khó khăn trên đường đi đã làm chúng tôi thật sự bị choáng ngợp.


Miền cao phía Bắc với hành trình tìm điểm đến


Từ Sapa đi Ba Bể qua ngõ Hà Giang – Bắc Mê, tính luôn quãng đường đi dạo lên tận Mèo Vạc và bị lạc đường dài không quá 700 km. Tuy nhiên điều đáng nói là chúng tôi phải mất đến 4 ngày đi xe để hoàn thành đoạn đường thi vị này.


Chặng đường ngập nắng chạy vòng vèo qua các dãy núi cánh cung chứa đầy những cua gắt, thỉnh thoảng lại xuất hiện vài rặng núi đá tai mèo. Có lẽ đây là một trong những vùng đất có cảnh núi non hùng vĩ bậc nhất Việt Nam.


Chúng tôi rời Sapa trong những ngày cuối mùa thu hoạch bắp, những nương ngô của các đồng bào dân tộc thiểu số đã ngả sang màu vàng xơ xác, phủ khắp các triền đồi. Lúc chúng tôi rời Sapa đến Lào Cai rồi xa dần thị xã Hà Giang cũng là lúc những ngọn núi phủ đất khuất dần tầm mắt và nhường chỗ cho những triền núi trơ lõi đá.


Tại đây, bằng sức lao động hồn nhiên những người dân tộc đã gùi từng thồ đất vùi vào từng hốc đá và từ đấy cứ mỗi hốc đá lại có một cây bắp xanh tốt mọc lên.


Cả cao nguyên Đồng Văn trong những ngày ấy chìm trong màu vàng óng của những nương ngô cuối mùa. Thỉnh thoảng trên đường đi, chúng tôi gặp những người dân tộc Mông, Dao, Pú Y... với những chiếc gùi nặng trĩu bắp là bắp.


Thỉnh thoảng trên đường đi chúng tôi còn gặp được từng tốp người dân tộc ăn mặc sặc sỡ đang trên đường đi họp chợ trở về nhà.


Chúng tôi tính trung bình, đường đi từ Hà Giang lên Lũng Cú, cứ 1 km lại có 3 khúc cua gắt. Quốc lộ 4C, con đường huyết mạch vùng đông bắc uốn quanh các cánh cung trùng điệp và dù đã được lát nhựa phẳng phiu, đấy có lẽ là con đường vắng vẻ nhất Việt Nam.


Phần lớn đoạn đường này, chiếc jeep chạy cặp theo một dòng sông cuồn cuộn ngập màu đỏ phù sa nằm giữa thung lũng. Hai bên vách núi đá dựng đứng và phía chân trời xa tít trước mắt là những ánh sương mù huyền ảo. Chúng tôi có cảm tưởng như mình đang được lọt vào thế giới không thật của thầy trò Tôn Ngộ Không.


Rời Hà Giang về Cao Bằng, vì lạc đường chúng tôi may mắn đến được một địa danh rất nổi tiếng (luôn luôn được đề cập đến trong các SGK Địa những năm THPT): thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng).


Vào đến thị trấn, chúng tôi cảm nhận được ngay cái không khí mà trước nay chỉ có dịp tiếp xúc qua sách: thế giới đặc trưng của vùng mỏ. Thị trấn rất nhỏ so với quy mô khai thác. Con đường chính và cũng là duy nhất khá hẹp chạy ngang qua thị trấn lầy lội sình bùn. Hai bên là dãy nhà 2 tầng cũ kỹ được quét vôi trắng.


Vài bộ đồ bạc màu được phơi rải rác trên những dây tạm bợ khắp mặt tiền các khối nhà. Một đàn trâu đang tắm sình ở quãng rộng nhất của con đường. Chính anh tài xế Hùng, từng là một tài xế đường dài và đã đến rất nhiều nơi cũng không khỏi ngạc nhiên trước sự cảnh vật cực kỳ đặc biệt nơi đây.


Khi chúng tôi đến Tĩnh Túc, trời trong và nắng đẹp thế nhưng bấy nhiêu đó ánh sáng cũng không thể ngăn bầu không khí ảm đạm của thị trấn tràn vào hồn chúng tôi.


Trong hành trình dài 4 ngày này, ngày nào chúng tôi cũng phải đi đến 8-9 giờ tối trong điều kiện đường hư hoặc xuống cấp vì lâu ngày chưa có ai đi qua. Chúng tôi không thể dừng lại bởi vì nơi đấy là đồng trống và thị trấn gần nhất cách đấy hơn 2 giờ đi xe.


Chưa kể từ ngày thứ 2, chiếc Jeep gặp trục trặc và phải bịt dầu thắng một bánh sau, như vậy có nghĩa chỉ còn 3 bánh xe còn sử dụng được thắng. Có những đoạn dốc quá đứng, chúng tôi phải dừng lại bên các con suối nhỏ lấy nước làm mát máy xe và cho cả chúng tôi.


Có những lúc chiếc jeep đã chạy trên những đoạn đường chỉ vừa mới được khẩn hoang, mặt đường lổn ngổn đá ong, chiếc jeep chỉ chạy được với vận tốc 5-10 km/h. Lúc bấy giờ chúng tôi đã mất tinh thần vì thị trấn gần nhất còn rất xa và trời bắt đầu sẩm tối. Và khi nhìn thấy con đường nhựa từ phía xa, cả 3 người chúng tôi đều mừng như bắt được vàng.


Quá trình phát triển và hiểm họa môi trường


Cho dù công nghệ hiện đại đã phát triển vượt bậc nhưng đồng bào dân tộc ít người vẫn giữ được nếp sống có từ hàng ngàn đời nay. Họ sống trong những ngôi nhà đất, lợp tranh và không ít ngôi nhà nằm cheo leo trên sườn núi đá. Quả thật là một cuộc sống thanh bình!.


Bò, ngựa, heo mọi.... tỏ vẻ vô cùng kinh ngạc và chạy hoảng loạn khi thấy chiếp jeep tiến đến có lẽ bởi vì người dân nơi đây vẫn sử dụng những đôi chân của cả người lẫn ngựa như là phương tiên lưu thông phổ biến.


Có lẽ đây một trong những lần ít ỏi chúng thấy một động cơ lớn như vậy. Có những đoạn đường chúng tôi nghĩ mình đang được diễm phúc trở về với sự tinh khiết của thiên nhiên và sự mộc mạc của con người.


Dù những ảnh hưởng của khai thác du lịch kiểu Việt Nam chưa lan nhiều đến Hà Giang, môi trường tự nhiên nơi đây đang bị khai thác quá mức vì người dân không biết làm gì hơn trong cuộc mưu sinh. Bên cạnh những trảng thông xanh bạt ngàn mới được trồng, đồi trọc vẫn là khung cảnh phổ biến.


Có những khúc suối đã bị đá làm đường đổ xuống làm nghẽn dòng chảy. Tại các thị trấn, dù con suối vẫn giữ được dòng nước trong xanh nhưng hiểm họa ô nhiễm môi trường cũng đã vươn được bàn tay dơ bẩn đến đây với đủ loại rác thải của thế giới hiện đại nằm hai bên bờ.


Với sự thiếu hụt một điểm đến đủ tiêu chuẩn phục vụ du lịch và hiểm họa môi trường đang từng bước xâm lăng, Hà Giang đang đánh mất dần tiềm năng du lịch thực sự của mình trước khi được khai thác đúng mức.


Với những người yêu thích thiên nhiên hùng vĩ, Hà Giang đã là một quá khứ đẹp; nhưng điều quan trọng là liệu trong tương lai nét đẹp ấy có còn hiện hữu nữa không?


tuoitre.vn


Bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá của dân tộc Pu Péo


Trong 2 ngày 29 - 30/6/2011, tại thôn Cháng Lộ, xã Sủng Cháng, huyện Yên Minh (Hà Giang), Ban Dân tộc tỉnh Hà Giang phối hợp với UBND huyện Yên Minh tổ chức Lễ hội cúng thần rừng của dân tộc Pu Péo.


Lễ hội diễn ra trong 2 ngày, thường được tổ chức vào đầu tháng 6 âm lịch hàng năm. Trong những ngày diễn ra lễ hội, người dân dân tộc Pu Péo sinh sống ở mọi miền rủ nhau về dự, nhưng chủ yếu vẫn là đồng bào dân tộc Pu Péo sinh sống ở 4 huyện vùng cao núi đá trong tỉnh về đông đủ nhất.


Tại lễ hội, các nghệ nhân dân gian tổ chức sắm lễ và cúng thần rừng tại khu vực rừng thiêng, có cây to nhất với lời cầu khẩn thành kính mong thần rừng phù hộ: cầu cho bà con các dân tộc mạnh khoẻ, con cái học hành siêng năng, tiến bộ, khí hậu thuận hoà, cây cối tốt tươi, mùa vàng bội thu; lúa, ngô đầy nhà; trâu, bò, lợn, gà đầy chuồng, đẩy lùi cái ác, đẩy lùi mọi bệnh tật, ốm đau; tạ ơn thần rừng đã che chở và xin hứa sẽ vận động dân làng, con cháu tích cực trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng.


Trong thời gian diễn ra lễ hội, phần lễ đã được các nghệ nhân dân gian dân tộc Pu Péo thực hiện theo phong tục truyền thống của Lễ cúng thần rừng. Phần hội được toàn thể nhân dân trong xã tham gia hưởng ứng sôi nổi, với những nội dung thi đấu các môn thể thao truyền thống như đẩy gậy, kéo co, đánh yến, chơi “ào”, nhảy cóc... và múa hát các làn điệu dân ca, hát đối đáp, giao duyên, thể hiện cuộc sống hàng ngày của đồng bào dân tộc Pu Péo...


Lễ cúng thần rừng của người Pu Péo thể hiện sự tôn kính của đồng bào đối với rừng, môi trường sinh thái đã đùm bọc che chở cho cộng đồng, đến nay vẫn luôn tồn tại và phát triển.


vovnews.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
30/01/1933: Adolf Hitler trở thành Thủ tướng Đức, nhiều cuộc mưu sát không thành, ngày 30-4-1945, hắn tự sát - Tư liệu sưu tầm 29.05.2017
Chân dung Tập Cận Bình - Evan Osnos 29.05.2017
2 bài nên đọc về H. Kissinger - Nhiều tác giả 28.05.2017
Từ Hồ Biểu Chánh đến Khái Hưng - Thụy Khuê 26.05.2017
Việt Nam vay lớn từ 3 chủ nợ chính - Tư liệu 25.05.2017
Trung Quốc mộng thực sự của ông Tập: Một Trung Quốc đế quốc? - Trương Phong (Feng Zhang) 25.05.2017
Trung Quốc và thách thức từ các “Con đường tơ lụa” - Xue Li (Lý Tuyết) 25.05.2017
Mổ xẻ siêu quyền lực của Tập Cận Bình - RODERICK Macfarquhar 25.05.2017
Nhân tố Dalai Lama trong quan hệ Trung – Ấn - Tư liệu 25.05.2017
Nam man tây nam liệt truyện - Trương Thái Du 24.05.2017
xem thêm »