tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21076020
Tiểu thuyết
23.08.2014
Anh Đức
Hòn đất

Phần 2


1


Cái thị trấn Tri - Tôn bé nhỏ chiều hôm ấy bỗng dưng ầm ĩ hẳn lên. Xe cam nhông chở lính từ Rạch Giá nối đuôi nhau chạy xuống. Bụi bốc mù mịt trên con đường phố nhỏ độc nhất của quận lỵ. Bụi xông vào các tiệm nước, các tiệm tạp hóa, các căn phố trệt và phố lầu mới cất. Bọn lính từ trên xe nhảy xuống, lũ lượt kéo đi trong vầng bụi. Bọn lính chủ lực mặc đồ trai - di, bọn biệt kích mặc đồ rằn, giày da và giày bố nện rầm rập, bồm bộp. Đồng bào bên phố đứng xem chúng kéo qua, xì xầm bàn tán. Người ta thấy có những tên quen mặt trong đại đội biệt kích, nhưng chẳng có ai dám dòm bọn nầy cả. Bọn lính chủ lực từ Sài Gòn xuống còn đưa mắt nhìn xem hai bên phố, chớ bọn biệt kích thì mặt gầm gầm, lạnh lùng, súng tôm-xông và cạc-bin của chúng mang đều chúi mũi xuống đất. Thằng Xăm, tên trung úy, chỉ huy đại đội biệt kích có đôi mắt trắng dã, lịch phịch đi sau cùng. Hắn mặc bộ đồ rằn thủy quân lục chiến rỡn hình sóng biển, bó sát lấy khổ người rất lực lưỡng. Đầu hắn đội cái kết vải vằn vện có ba mảnh vải để che gáy và che hai bên mang tai. Loại kết này vẫn gọi là kết "ba rèm". Nơi đùi thằng Xăm đeo sề sệ khẩu súng ngắn Côn 12, bao da súng màu hung hung gần giống như màu da mặt của hắn. Ngoài ra, hắn còn khoác một khẩu cạc - bin và một cái cúp cúp. Những tên lính biệt kích trong đại đội hắn đều ăn mặc giống như hắn, đeo cạc-bin hoặc tôm-xông, tên nào cũng có dao găm Mỹ, và trông tên nào cũng hung tợn. Đang đi, bỗng tên trung uý Xăm ghé tạt vào một quán giải khát ở giữa phố. Hắn ngang nhiên vớ lấy một chai la-ve, đưa mắt nháy người chủ quán Hoa Kiều một cái rồi đi ra. Vừa đi, thằng Xăm vừa rút soạt lưỡi dao bên hông.


Một tay hắn cầm la-ve giơ lên, một tay hắn trở sống dao phạt mạnh ngang cổ chai. Cổ chai văng toạc đi. Bọt rượu trào ra. Hắn dừng lại, ngửa cổ đưa chai la - ve rót vào miệng. Hắn uống hết độ hai phần ba chai, rồi đưa cho tên lính đi trước. Tên lính cầm chai la - ve khoái trá uống nốt chỗ còn lại. Chừng như tên lính này đã quen uống như vậy nhiều lần rồi. Bấy giờ, có lệnh từ tiểu đoàn lính bảo an chuyền lại:


- Dừng lại, đừng đi nữa! Nguyên là đồn quân chi khu này chỉ có thể chứa thêm được hai tiểu đoàn trong số ba tiểu đoàn lính mới đến. Đó là hai tiểu đoàn lính chủ lực. Bọn còn lại là bọn bảo an và biệt kích thì được lệnh đóng ở ngoài, trên những khoảnh ruộng trống khô nẻ. Một tên đại úy tiểu đoàn trưởng bảo an cao lớn truyền lệnh ấy ra sau, rồi cho những đại đội của hắn kéo vào khoảng ruộng. Tên Xăm càu nhàu:


- Đ. mẹ, về xứ của tôi mà bắt tôi ngủ ruộng à? Song nói thế chứ hắn cũng khoát tay xua bọn lính áo rằn của hắn kéo vào chỗ đất trống giáp phố. Nắng chiều vàng vọt trải xuống mặt ruộng. Trên khoảnh đất trống bị dọn sạch quanh chi khu, bọn lính chạy tới chạy lui. Chúng trải những tấm tăng, dành chỗ làm bếp nấu, tu ừng ực nước hoặc rượu chứa trong các bi - đông Mỹ. Có tên chưa chi đã nằm lăn kềnh, ngửa mặt lên trời phì phèo hút thuốc. Từ đám lính ấy nghe toát ra mùi chua loét của mồ hôi, mùi thuốc lá Bát - tô xanh, mùi rượu trắng và cả mùi sáp bôi tóc loại rẻ tiền. Tất cả những mùi đó hợp lại là cái mùi lính nói chung, nghe lờm lợm, vốn dĩ rất sẵn có ở những tên lính đánh thuê. Thằng Xăm cởi phanh áo. Hai cổ tay hắn đeo không biết bao nhiêu dây bùa cà tha vàng hoặc đỏ. Và trên bộ ngực nở nang của hắn lủng lẳng một sợi dây chuyền buộc cái mặt chằn bằng ngà có nanh vàng chìa ra coi rất dễ sợ. Cái mặt chằn với những dây cà tha ấy thằng Xăm coi như bùa hộ mạng của hắn. Hắn bật nằm ngã ngửa ra trên tấm vải bạt xám. Điếu thuốc trên môi hắn đã cháy muốn hết mà chừng như hắn không hay. Thình lình, hắn đưa tay giật phắt mẩu thuốc, vứt đi và ngồi bật dậy. Hắn lừ lừ giương đôi mắt trắng dã ngó bọn lính của hắn bấy giờ đang lôi bánh mì ra. Một tên lính bé choắt luồn tới bên hắn:


- Mời anh Hai đi ăn cơm! Thằng Xăm uể oải đứng dậy đi theo tên lính đến trước một tấm vải bạt. Trên tấm vải bạt có trải giấy báo, đặt nửa con gà quay, hai ổ bánh mì lớn và một hộp cá mòi đã mở nắp. Xăm ngó qua, xẵng giọng hỏi:


- Hết rượu hả mậy?


- Thưa anh Hai, còn.


Tên lính bé choắt ấy xăng xái đặt vào giữa tấm vải bạt một bi - đông nặng trịch. Mắt thằng Xăm vụt sáng lên. Hắn với tay chụp cái bi - đông lắc lắc, ra vẻ hài lòng. Hắn mở nút đưa lên miệng tợp ngay một hớp, rồi một hớp nữa. Cầm bi - đông đưa cho tên lính, tay hắn chộp lấy đùi con gà quay đưa lên miệng, cắn, rứt ra, nhai nghiến ngấu. Những chiếc răng vàng trong mồm hắn lóa sáng, nhồm nhoàm. Hắn đưa tay quệt mỡ gà dính ở hai bên mép. Tên lính cùng ăn, cùng uống với hắn, coi hơi cóm róm nhưng có vẻ hể hả. Thằng Xăm tu rượu ừng ực. Hắn "khà" một cách khoái trá rồi lại xé thịt gà ăn. Tên lính và hắn ăn hết nửa con gà, uống hết một bi - đông rượu thì ánh nắng đã tắt. Nhưng mặt trời thì vẫn còn đỏ sẫm dưới ven đồng xa. Thằng trung uý biệt kích ngà ngà rượu ấy chới với đứng lên, đưa hai tay cào cào sườn. Hắn ngước nhìn mặt trời, miệng lẩm bẩm một câu chửi tục chỉ có mỗi mình hắn hiểu, rồi nhe răng cười không ra tiếng. Bọn lính cũng đã có nhiều đứa say như hắn. Nhưng rượu đã hết, và chúng đang bẻ bánh mì chia nhau ăn. Có những tên lính đã cởi hẳn áo, để lộ bộ ngực đen bóng xăm đầy hình rồng rắn. Có một số lính đi khuân củi. Thứ củi tràm gộc bổ đôi, mỗi đứa xách hai miếng, không biết chúng lấy từ đâu. Đêm tối vừa sụp xuống thì chúng đốt lửa. Nơi này một đống, nơi kia một đống. Lửa bốc phừng phừng, cháy sáng từng lõm ruộng. Bọn lính nấu nước bằng hang - gô xỏ xâu vào, ngồi lổm nhổm bên ngọn lửa. Mặc dù có lệnh cấm vào phố, chúng vẫn lén đi mua rượu, mua thêm la - ve và đồ nhậu. Lệnh cấm là lệnh của bộ chỉ huy hành quân, nhưng các tên chỉ huy đơn vị không cấm lính của chúng. Thằng Xăm chẳng những không cấm mà hắn còn ó ré nhậu nhẹt cùng bọn đàn em biệt kích. Bọn này không ngớt mời mọc, tán tụng hắn. Tên nào cũng đều gọi hắn bằng anh Hai. Chúng còn mời mọc một tên thiếu úy mặt xương, mắt sâu thỏm và gọi tên này bằng anh Ba. Thằng Xăm thích lính gọi mình bằng anh Hai hơn là gọi hắn bằng "ngài trung uý".


- Anh Hai uống với em một phát, anh Hai!


- Anh Hai thiệt uống không biết say đa! Thằng Xăm hể hả khi nghe những câu ấy. Hắn uống hết, không từ chối một ai. Hắn quả là một thằng biệt kích mạnh rượu. Hắn uống nhiều mà không say mấy. Cặp mắt bình thường trắng dã của hắn nay đỏ lên như có pha ánh lửa và hoe máu. Bọn biệt kích ác ôn thân tín ngồi vây quanh. Những tên này đã phục sợ thằng Xăm trong các cuộc đánh phá giết người bao nhiêu thì chúng càng phục thằng Xăm trong sự nhậu nhẹt bấy nhiêu. Một tên trong bọn chợt hỏi:


- Mai về Hòn, anh Hai ghé nhà không? Thằng Xăm sắp đưa bi - đông rượu lên, nghe hỏi, hắn liền để bi - đông xuống. Bàn tay hắn hơi run run. Câu hỏi của tên lính hình như chạm vào một cái gì trong lòng hắn. Hắn im lặng mất một lúc lâu rồi mới nói:


- Ghé. Thể nào tao cũng phải ghé thăm bà già với con em.


- Cô Cà Mỵ à? Chà, năm nay cô Mỵ chắc lớn lắm rồi?


- Đâu như mười chín tuổi... Thằng Xăm thờ thẫn nói:


- Con Mỵ nó giống tao. Tao thương bà già tao.


- Nghe nói anh Hai có kêu bà già với cô Mỵ ra chợ ở, sao không thấy bà già với cô Mỵ ra?


- Không, lần này tao về đóng bót Hòn Đất. Để bả ở đó luôn! Hắn nói xong thở "khì" một cái rất mạnh. Nốc thêm một ngụm rượu nữa, hắn lắc đầu lia lịa:


- Nghe nói bà già tao theo Việt cộng. Bả thù ông già tao lắm. Thằng Xăm nói thế, rồi nhắc tới Hòn Đất với cái giọng bỗng dưng hạ thấp hẳn xuống:


- Ở Hòn Đất vui, vui lắm... Hồi tao còn làm xếp bót ở đó, tao vui hơn bây giờ. Có đủ thứ trái cây, có khô trâu. Con gái ở đó cũng có nhiều. Nhiều đứa coi ngộ lắm, vú lớn như cặp dừa, tay tụi bây thằng nào nhỏ bóp không giáp...


Bọn lính cười nhăn nhở, thích thú. Tên nào cũng khoái trá, vì chúng biết nội ngày mai chúng sẽ được tới đó. Bây giờ ít có đứa nghĩ đến cái chết, mà chỉ nghĩ tới sự vơ vét, sự ăn uống và sự cưỡng hiếp. Trong bọn này, có tên đã biết Hòn Đất. ở đó, chúng đã làm bất cứ chuyện gì chúng có thể làm được. Chúng đã kháo với nhau và kể lại cho bọn khác nghe, giả dụ như muốn ăn thịt trâu, chúng chỉ cần ngắm cho trúng đích những con trâu ăn cỏ trên triền Hòn và nổ súng. Có tên còn kể tỉ mỉ mình đã hiếp những phụ nữ ở đó ra sao, và đắc chí bảo rằng chính tay nó đã xé được mười ba cái quần lãnh của họ. Cũng có tên bảo chính tay nó đã đập đầu Việt cộng bằng cột chèo, đập vỡ óc văng tung tóe cả vào áo. Chúng kháo nhau rằng ở đấy, "anh Hai" đã mổ rất nhiều người, mổ rất khéo, chỉ cần chọc một nhát dao nơi chấn thủy, lách chếch lên, đường dao rạch chỉ vừa đủ thọc bốn ngón tay vào để bợ trọn buồng gan ra. Thật là thằng Xăm đã mổ rất nhiều người, nên trong đám ác ôn, hắn nổi tiếng là đứa mổ gan lấy mật người gọn lẹ nhất. Nhưng hắn không chỉ khéo mổ lấy gan và mật. Hắn còn có nhiều cách giết người lạ lùng quái gở hơn.


Dòng máu của hắn chính là dòng máu của cha hắn, một tên địa chủ người Việt trước kia làm bá chủ vùng Hòn. Người ta nói thằng Xăm không còn chút máu nào của bà Cà Xợi, tức mẹ hắn, là một người đàn bà Khơ me uất ức và đau khổ suốt đời, đến nay vẫn còn như điên dại. Mẹ hắn, bà Cà Xợi ấy, ngày xưa là một người con gái Khơ me khá đẹp với nước da nâu rám mặn mòi và dáng đi uyển chuyển, chỉ có những cô gái Khơ me nắn nồi và đội cà - om đi lấy nước suối ở đây mới có được. Người con gái Khơ me ở đây lớn lên với nghề nắn nồi đất, ngày ngày đi quanh bàn nắn, tính trung bình mỗi ngày họ đi có tới khoảng ba mươi cây số, tức là bằng từ Hòn Đất đi lên tỉnh Rạch Giá. Thành ra công việc lao động ấy tự nhiên luyện cho họ một vóc người uyển chuyển, dịu dàng. Hơn nữa, họ lại thường đội cà - om đi lấy nước suối về dùng. Khi đặt cà - om nước lên đầu, cô gái Khơ me bước đi duyên dáng lạ thường. Trên đường từ suối nước về nhà, các cô không bao giờ vịn tay lên cà - om. Đôi tay các cô đánh đường xa, vây vẫy dịu dàng trên lối cát. Bà Cà Xợi ngày xưa là một người con gái như thế. Tên chủ Mưu đã ép cô gái Cà Xợi xinh đẹp về ở với hắn. Ngày ấy anh Thạch Kha là người yêu Cà Xợi buồn quá bỏ đi làm phu bè cây lên tận Kôm - pông - chàm. Sau khi đẻ được thằng Xăm, tên chủ Mưu bắt đầu không ngó ngàng tới Cà Xợi nữa. Y để ý những cô gái khác, trẻ hơn. Nhưng lúc đó Cà Xợi đã có mang với y đứa con thứ hai. Sau cùng y đuổi Cà Xợi ra khỏi nhà, còn thằng Xăm thì y giữ lại nuôi. Bà Cà Xợi bỏ hòn máu của mình lại, ôm bụng thất thểu bước ra khỏi cái nhà nền đúc. Bà về xóm Hòn Đất che tạm một túp chòi, ban ngày đi gặt lúa mướn, tối về chòi ngủ. Lúc sắp đẻ, bà đau quá, bò lê ra đồng cứ vơ gốc rạ mà nhai. Tình cờ đêm ấy hai mẹ con mẹ Sáu đi đâu bên bến đò Vàm Răng về gặp, mới đem bà Cà Xợi về nhà. Bà Cà Xợi sanh con Cà Mỵ tại nhà mẹ Sáu. Được một tuần lễ sau thì anh Thạch Kha trên Kông - pông - chàm về. Anh đến nhà sụp trước mặt mẹ Sáu lạy mà xin cho rước bà Cà Xợi lẫn đứa con mới đẻ. Hai người ăn ở với nhau không đầy một năm thì anh Thạch Kha bị chủ Mưu cho người rình chém khi anh đang đi vô rừng đốn củi. Anh Thạch Kha dùng búa chém lại chết một thằng, nhưng anh thì bị chúng vây chém trọng thương, chạy về chết gục trước sân nhà. Thế là từ đó bà Cà Xợi nắn nồi nuôi con Cà Mỵ tới lớn. Cà Mỵ càng lớn càng dễ thương, giống mẹ như đúc.


Duy có thằng Xăm từ bé đến lớn ở với chủ Mưu, được nưng niu, càng lớn càng giống chủ Mưu về mọi mặt. Thằng Xăm gắn bó với cha nó ngay từ những miếng vườn trên Hòn, ngay từ những mảnh đất nắn nồi cha nó độc chiếm bán ra từng thước khối. Nó ở trong ngôi nhà nền đúc phông - tô và lớn lên. Ngôi nhà ấy hồi kháng chiến đã bị phá, và vườn đất cũng bị cách mạng lấy chia cho dân. Chủ Mưu bỏ chạy lên Rạch Giá. Mãi hòa bình lập lại, y trở về với thằng Xăm bấy giờ đã là thiếu úy quân đội tay sai Diệm. Y giựt đất, cất nhà lại, và cùng thằng con trả thù cách mạng với tất cả nỗi căm oán chất chứa trong bao năm. Thằng Xăm còn độc địa hơn cả cha nó, vì chính tay nó cầm súng Mỹ, và đi theo nó có cả một bầy ác ôn liều mạng nhất được nó tuyển từ các đồn lẻ quanh vùng. Bọn biệt kích của thằng Xăm thằng nào cũng chạy giỏi như ngựa. Chúng rượt nà cán bộ trên đồng trống, mò vào các khu rừng tràm, đánh phá căn cứ cách mạng cả ngày lẫn đêm. Có khi giữa đêm mưa tầm tã hoặc lúc trời vừa rạng sáng, súng của chúng nổ ran. Bà con trên Hòn mỗi khi nghe tiếng súng của bọn thằng Xăm ai cũng lo sợ nghĩ đến con mình, cháu mình và những người cán bộ thân thiết của mình vừa ngã xuống. Nhưng có một người nghe tiếng súng ấy còn hoảng sợ đau đớn gấp trăm ngàn lần hơn người khác. Người đó là bà Cà Xợi vậy. Ngày đồng khởi, tên chủ Mưu bị bắt đem chém. Thằng Xăm chạy thoát. Từ đó, nó càng thêm hung dữ. Cho dù ở Hòn Đất hay là ở trên khắp thế gian, người mẹ nào mà chẳng có nỗi đau khổ riêng của mình, nhưng thật cũng ít có người mẹ nào lại có nỗi đau khổ như bà Cà Xợi. Hồi còn làm xếp bót Hòn Đất, thằng Xăm vẫn thường đem vải vóc, vàng bạc mà nó cướp được về cho bà Cà Xợi và con Cà Mỵ. Nhưng hai mẹ con đều không lấy. Thậm chí có lần bà Cà Xợi đã liệng vãi các thứ ấy ra sân, rồi bưng mặt khóc. Nên thằng Xăm nói:


- Nghe bà già tao theo Việt cộng rồi! Nó nói đúng. Chẳng phải có lần chính mẹ nó đã đứng trước mũi súng của nó đó sao?


2


Vào giờ ấy, bà Cà Xợi đang lầm lũi đi tới quán của thím Ba ú ở ngã ba Hòn Đất. Bà đi trong đêm tối, tay cầm một cái chai xị không. ở Hòn Đất ban đêm, hễ thấy dạng người nào đi không đèn đóm thì bà con đều đinh ninh người đó là bà Cà Xợi. Bởi ngoài bà thì chẳng có ai đi như một cái bóng thế cả. Nhưng người đàn bà mà khắp Hòn Đất này ai cũng cho là có hơi dài dại ấy khi đi trong bóng tối mới tài chứ! Chẳng bao giờ bà ta vấp chân vì một mô đất hay một lỗ trũng. Hình như bà biết trước và tránh trước hết. Lúc bà Cà Xợi đến quán ngã ba thì quán vắng ngắt không có một ai. Bà bước vào quán, thấy trên quầy cạnh ngọn đèn ống khói có mỗi mình thím Ba ú đang ngồi đếm lại đống tiền lẻ bán được trong ngày. Nghe tiếng chân người bước vào, thím Ba ú ngước lên. Thím hỏi, giọng nghe êm như ru:


- Thím Cà Xợi đó à? Đi mua chi mà đi khuya vậy?


Bà Cà Xợi không đáp, giơ cái chai xị không lên. Thím Ba ú hiểu ngay. Thím đếm nốt cho xong số tiền lẻ còn lại rồi lách ra quầy, đi đong rượu cho bà Cà Xợi. Thím Ba ú này thật là xứng với cái tên của thím quá. Người thím béo mập làm sao! Thím lách qua cửa quầy một cách khó khắn. Cổ tay thím lúc với ra đón lấy chai xị không của bà Cà Xợi coi mập có ngấn, núc ních. Thím xách cái chai bước tới hũ rượu, cầm một cái cóng tre múc rượu trong hũ đổ vào chai. Tuy chai xị không có đặt phễu, thế mà thím rót không đổ ra ngoài một giọt. Cầm chai rượu đưa cho bà Cà Xợi, thím Ba ú nhìn bà Cà Xợi lúc lâu và hỏi bằng tiếng Khơ me:


- Ne, néak dâng rương ây tê? Bà Cà Xợi lắc lắc cái đầu tóc bù rối vàng sém:


- Rương ây? Thím Ba ú nói rỉ vào tai bà:


- Nè, thằng Xăm nó mới về Tri - Tôn đó nghe! Hôm qua, tôi đi bổ hàng (3) ngó thấy nó ở trên xe nhà binh nhảy xuống... Bà Cà Xợi chớp chớp mắt, hỏi lại:


- Thằng Xăm hả, thằng Xăm nó về Tri - Tôn hả? Hỏi thế xong, bà ngó xuống đất, dáo dác như tìm kiếm vật gì bà vừa đánh rơi. Rồi bà lập cập đi ra cửa. Lần này, bà vấp chân nơi ngạch cửa, ngã chúi. Cái chai rượu bà cặp ở nách rơi xuống đụng phải ngạch cửa, vỡ toang, rượu chảy lênh láng trên nền nhà. Nhưng bà bước đi luôn, người rướn tới. Thím Ba ú phục phịch chạy theo, đưa cánh tay béo mập nắm lấy tay bà Cà Xợi kéo lại. Thím Ba nói vội vã:


- Thím Cà Xợi, thôi trở vô tôi đong cho chai khác cầm về. Đi đi, vô đây! Thím Ba ú kéo bà Cà Xợi trở vào. Rồi thím đi tìm lấy cái chai xá xị không, đong rượu vào, nhét nút và đưa bà Cà Xợi:


- Cầm kỹ nghe, coi chừng rớt nữa đa!


Tội nghiệp, bà Cà Xợi bây giờ giống như một đứa trẻ, dặn sao làm vậy. Bà nắm cổ chai rượu thật chặt, lùi lũi bước ra cửa quán. Dọc đường về nhà, bà vấp ngã liên miên, mấy lần lồm cồm trở dậy trong đêm tối. Nhà bà Cà Xợi ở khỏi ngã ba một đỗi, trơ vơ một mình, không ở gần nhà nào cả. Bấy giờ trong cái nhà bé nhỏ một gian ấy, cô Cà Mỵ đang ngồi bệt trên tấm đệm trải đất, tay thoăn thoắt đan bao cà - ròn. Cạnh cô đặt một cây đèn dầu có chân, cháy tỏa ra ánh sáng vàng vọt. Thấy mẹ về, Cà Mỵ ngước mắt nhìn mẹ một cái rồi lại cắm cúi đan tiếp. Cà Mỵ có khuôn mặt gần với khuôn mặt bà Cà Xợi hơn thằng Xăm. Cô mười chín tuổi, vóc vạc phây phây coi rất khỏe. Nước da cô cũng nâu rám, nhưng trắng hơn nước da bà Cà Xợi. Cặp mắt Cà Mỵ đen to, lông mi ở mắt cô rất dài, mướt mượt. Dưới ánh đèn không lấy gì làm sáng đó, môi Cà Mỵ vẫn đỏ tươi. Cô là hình ảnh bà Cà Xợi ngày trẻ, nhưng theo lời bà con Hòn Đất thì cô trội hơn bà Cà Xợi ngày trẻ.


- Cà Mỵ à, thằng Xăm nó về rồi, nó về Tri - Tôn rồi! Cà Mỵ ngước lên, nhớn nhác:


- Về Tri - Tôn à? Ai nói với má?


- Thím Ba ú nói!


Bà Cà Xợi cho con gái hay cái tin đó rồi lại bộ ván, ngồi kéo xổm một gối lên. Lát sau, bà rót rượu ra chén, uống như uống nước. Nhưng bà chỉ uống một chén. Rồi ngồi đó, bà ngó bóng mình in trên vách. Đêm nào cũng vậy, sau khi đan xong hai hoặc ba bao cà - ròn, bà Cà Xợi lại uống một chén rượu. Ai người ta uống rượu vào thì say và quên hết mọi sự, chớ bà Cà Xợi uống rượu vào thì ngược lại, càng uống vào bà càng tỉnh và nhớ hết. Bà nhìn Cà Mỵ (thường khi cô vẫn còn ngồi đan mải mốt), nhớ lại thời bà bằng tuổi nó, nhớ những cái nồi đất nung đỏ rực do tay bà nắn, nhớ những đêm dù - kê anh Thạch Kha bên Sóc - tưng qua sắm vai hoàng tử còn bà thì sắm vai cô gái bắt ốc. Rồi bộ mặt của chủ Mưu hiện lên, rồi kiếp sống trong cái nhà nền đúc phông - tô. Những ngày cực mà vui với anh Thạch Kha. Tai hoạ đến, hình ảnh Thạch Kha ngã sấp trước nhà, hai tay vã xuống đất. Bà nhớ tất cả, nhớ giữa lúc nhìn bóng mình in trên vách và nhìn bóng con gái đang đươn đát. Bà không quên ngày bà được cách mạng cấp đất. Rồi thì là thằng Xăm, với những bà con anh em bị nó mổ bụng, đập đầu. "Thằng Xăm mới về trên quận! " tiếng của thím Ba ú nói ban nãy bây giờ hãy còn văng vẳng bên tai bà. "Lại đi bắn giết bà con nữa chớ gì? " bà lẩm bẩm nghĩ bụng rồi muốn kêu:


- "Trời ơi nó léo hánh về đây chi vậy hở trời? Phải chi nó chết đi có hơn không? " Người mẹ nào mà lại muốn con mình chết? ấy vậy mà nhiều lần bà Cà Xợi mong mỏi cái chết đến với thằng Xăm đấy. Bởi bà nghĩ nếu thằng Xăm chết, chắc bà sẽ bớt khổ hơn. Nếu nó cứ còn sống và đi sát hại mọi người thế này mãi thì đến lúc nào đó chắc bà phải chết. Hoặc là nó chết, hoặc là bà chết. Chỉ có một trong hai lẽ ấy mới xong. Cà Mỵ có lần nói với bà:


- Má sanh y ra làm chi? Y không phải anh của tui đâu! ấy, Cà Mỵ có lần nói bà như thế. Bà cũng có lần bảo với lối xóm:


- "Thằng Xăm, nó có phải là con của tôi đâu!" Nhiều lần bà xuống giọng van vỉ:


- "Mấy người làm ơn làm phước đừng coi nó là con của tôi."


Nhưng sau câu nói đó, bà Cà Xợi càng đau lòng như điên như dại. Một người mẹ đẻ con ra vì lẽ gì đó mà không dám nhận là con của mình thì sự đau lòng đã lớn rồi, chỉ có cái mức độ ít hay nhiều. Bà Cà Xợi thì đau lòng thái quá, và vì bà vốn lại là một người Khơ me có tánh tình ngay thật, nên nỗi đau đớn đó ghê gớm lắm, có lúc làm bà như đãng trí. Bảy năm nay, bà Cà Xợi ở trong trạng thái như điên như không điên. Nét mặt bà ngơ ngác, khoen mắt bà càng tím đậm, và người ta ít thấy bà đi ra đường ban ngày. Bà chỉ hay ra đường lúc bóng đêm sụp xuống. Có lẽ bà cho là đêm đen sẽ phủ kín để không ai nhìn thấy bà. Có đến hàng trăm lần bà đã lựa lời khuyên thằng Xăm. Trước mặt bà, thằng Xăm không bao giờ cãi. Có khi hắn ngúc ngoắc đầu vẻ khó chịu, hoặc nói giả cách bậm trợn:


- "À, má nghe lời Việt cộng dụ tôi hả?" Nhưng rồi hắn cười ngay. Nụ cười của hắn coi còn hiền lành nữa là khác. Những lúc gặp mẹ, thằng Xăm chừng như có vẻ trở lại hình dáng một đứa con, chớ không có cái dáng dấp của một thằng biệt kích. Thành ra ban đầu bà Cà Xợi cứ lầm lẫn, cứ ngờ ngợ không biết con mình nó có mổ bụng moi gan người thật như người ta đồn đãi không. Nhưng rồi bà không còn ngờ ngợ gì nữa. Một hôm, thằng Xăm ghé nhà. Thấy khóe mép hắn dường như chảy máu, bà Cà Xợi kêu:


- Sao miệng mày chảy máu vậy, Xăm? Thằng Xăm vội đưa tay chùi mép, không nói chi hết. Khi hắn đi rồi, bỗng Cà Mỵ từ ngoài xóm hơ hải chạy về ôm mặt rú lên và cho biết thằng Xăm vừa mổ bụng hai người ở bãi Tre, lấy gan, vô nhà bà con mượn đĩa nhôm xào ăn. Bà Cà Xợi nghe nói té xỉu. Lúc tỉnh dậy bà sực nhớ những vết máu rây ở mép thằng Xăm thì lại ngã quay ra xỉu một lần nữa. Lại một hôm khác, thằng Xăm đi biệt kích ở Vàm Răng bắt về mấy người chẳng biết là cán bộ hay dân thường. Nghe tin thằng Xăm sắp mổ bụng họ tại ngã ba, bà Cà Xợi vội chạy ra định năn nỉ thằng Xăm tha cho họ. Khi bà chạy ra đến nơi thì thằng Xăm đã dùng dao bén khoét đít mấy người này, khoét sâu lõm vào. Rồi hắn mở trói. Những người này được mở trói vừa nhỏm tới thì ruột đã lòi ra ở phía sau. Lần ấy, bà Cà Xợi thét lên một tiếng rồi cũng ngã lăn bất tỉnh ở giữa đường. Thằng Xăm sai lính khiêng bà về nhà. Lúc chiều tối, bà tỉnh dậy, thấy Cà Mỵ đứng bên, bà liền chỏi chỏi hai bàn tay thét to:


- "Trời ơi! Thằng Xăm, mày đi đi! " Bà con nói rằng bà Cà Xợi bắt đầu điên dại là kể từ hôm đó. Điều này cũng có phần đúng mà cũng có phần không hẳn đúng. Bà Cà Xợi điên hay không điên thiệt là chuyện khó phân dứt khoát. Bởi vì đối với làng xóm bà chẳng phá phách gì, mà chỉ tỏ vẻ sợ sệt lẩn tránh một cách đáng thương. Vả lại có lúc bà rất tỉnh. Như mua chịu đồ ở quán thím Ba ú bao nhiêu, bà nhớ hết và tới kỳ đếm bán cà - ròn, bà đều bảo Cà Mỵ trả đủ hết. Đan bao cà - ròn bà cũng đan khéo như ngày trước, chẳng lẫn một cọng bàng nào. Nhưng có điều là khi gặp người đi ngang cửa, bất kỳ người đó là ai, bà chạy xổ ra, ngồi thụp xuống ôm chân người đó khóc hu hu. Tiếng khóc của bà khi ấy như lời van xin thứ tha tội lỗi. ở Hòn Đất, những người như anh Hai Thép, anh Năm Tấn, anh Ba Rèn, mẹ Sáu, chị em Sứ, là những người thường phải khổ tâm gỡ tay bà ra nhiều lần nhất. Những người đó cũng là thường hay đến nhà bà nhất. Trước kia đến là để bầy vẽ cho bà khuyên bảo thằng Xăm; sau này cái chuyện lôi kéo ngăn chặn thằng Xăm không có hiệu quả, họ vẫn đến để an ủi giúp đỡ bà. Anh Hai Thép có bảo:


- Thím Cà Xợi à, bà con chúng tôi đều thương thím với con Cà Mỵ. Thím đừng sợ, bà con không bỏ thím đâu! Thế là bà Cà Xợi lại òa khóc nức nở. Trong chuyện đi đấu tranh trực diện, ban đầu bà không dám đi vì nghĩ rằng mình không đáng được đi. Nhưng mẹ Sáu và bà con bảo:


- Thím Cà Xợi, thím sửa soạn đi với tụi tôi đi! Nghe bà con rủ thế, bà Cà Xợi mừng rỡ khôn xiết. Chen vào hàng ngũ đấu tranh mà đôi chân bà cứ quýnh lên, lập cập. Từ đó, không có cuộc đấu tranh nào vắng mặt bà. Chính vì vậy mà lần nọ bà đã đứng đối mặt trước thằng Xăm, trước mũi súng. Với sức mạnh vô song của người mẹ, trong cái phút quyết liệt ấy, bà đã điều khiển được mũi súng không cho nó nổ lấy một phát, để đoàn người tràn lên... Vậy chuyện bà Cà Xợi điên hay không điên là như thế. Và một điều rõ ràng hơn nữa là hầu hết những người ở Hòn Đất đều không có ai căm thù bà. Họ cho rằng bà Cà Xợi là một người Khơ me nghèo cực, còn cha con thằng Xăm thì lại là cha con thằng bóc lột. Nhưng riêng bà Cà Xợi sao bà vẫn thấy lướng vướng. Bởi nói gì đi nữa thì bà vẫn là người đẻ ra thằng Xăm. Nó thuộc huyết hệ của bà. Tất cả nỗi đau khổ của bà đều ở chỗ đó. Còn Cà Mỵ, cô có khá hơn. Không phải cô chỉ nói ngoài miệng:


“Y không phải là anh tôi", mà trong thâm tâm, cô cũng thấy thằng Xăm xa lạ. Chẳng những xa lạ mà còn đầy ác cảm. Những lúc thằng Xăm ghé tạt qua nhà, cô không thèm nói với hắn một tiếng. Cô giãy nảy la lối và buồn rầu thật sự nếu ai nói chuyện về thằng Xăm mà có dính líu tên cô vào đó. Trong năm đen tối, cô đến với anh em cán bộ, đến với cách mạng mới tội nghiệp làm sao! Chừng như cô chạy nhào đến, chừng như sau lưng cô có lửa rượt vậy. Cà Mỵ giờ là đối tượng cảm tình của chi đoàn thanh niên. Mới đây, sau khi được mời đi dự mấy cuộc họp đoàn, Mỵ càng tỏ ra chăm chỉ. Đi cắm chông, đi đào hầm núp, đi làm gì Mỵ cũng mau lẹ. Cô hay hát và hát hay. Những bài cha mẹ Mỵ hát ngày xưa, giờ Mỵ hát lại khiến người lớn tuổi nghe đều bồi hồi nhớ những đêm lội ruộng đi coi dù kê bên Sóc - tưng, nhớ anh Thạch Kha và mẹ cô hồi trẻ. Còn bà Cà Xợi khi nghe con hát, mặt bà cứ đờ đẫn, nước mắt chảy ròng xuống má. Một người đàn bà như vậy mà phải sanh tật uống rượu, thật đáng thương. Bà Cà Xợi uống rượu từ khi thằng Xăm nổi lên hung ác, từ khi hắn xát vào lòng bà nỗi đắng cay khôn tả. Chính tấm lòng đã cưu mang hắn từ thuở hắn chưa có tên, chưa có cái tên Xăm. Đêm nay cũng vậy, bà Cà Xợi lại uống...


Đáng lẽ như lệ thường, bà chỉ uống một chén. Nhưng giờ uống hết chén thứ nhất, bà lại run rẩy mở nút chai, rót thêm chén nữa. Chén rượu thứ hai bà uống chậm rãi chớ không uống vội như chén trước. Cà Mỵ cắm cúi đan, miệng lầu bầu:


- Má uống nữa hả? Thôi, má không được uống nữa! Thôi đi... má ơi! Ngoài đường bấy giờ chợt có tiếng chó sủa gâu gâu. Rồi có tiếng hỏi từ sân vọng vào:


- Mỵ ơi, ôn min nâu phờ téc tê? Cà Mỵ nghe ra tiếng Quyên, liền buông cái bao đan dở, đứng dậy đáp ra:


- Chà min Cô lè lẹ mở cửa. Quyên đợi Mỵ ở sân, kéo tay Mỵ ngồi xuống, thì thầm:


- Nè, Mỵ đã hay gì chưa?


- Chưa.


- Giặc rục rịch sắp bố đấy. Một chút nữa sẽ có loa thông báo cho bà con hay. Lính về Tri - Tôn đông lắm. Anh em du kích đều đã chuẩn bị. Tôi mới đi xuống chông về đây! Mỵ thắc mắc:


- Sao không kêu tôi đi?


- Cà Mỵ có chuyện làm mà, đừng lo. Kỳ này định để Cà Mỵ ở trong tổ hợp pháp. Mỵ biết không, nghe có thằng Xăm về Tri - Tôn nữa đó?


- Em biết rồi! Quyên rủ rỉ:


- Cà Mỵ nè, nếu càn vô đây, mình đánh chông đánh lựu đạn đã đành, nhưng phải đấu tranh, phải giúp đỡ du kích. Cà Mỵ chưa bị lộ, với lại tụi giặc nó cũng nể Cà Mỵ là em thằng Xăm, Cà Mỵ ráng lo công chuyện liên lạc, tiếp tế... Cà Mỵ nằn nì:


- Thôi mà, để em đi gài lựu đạn cho!


- Lựu đạn thì có người khác gài rồi. Cà Mỵ ngẫm nghĩ một giây, rồi nói:


- Thôi được. Thiệt... Mỵ không muốn gặp mặt tụi nó chị Quyên à. Gặp tụi nó khó chịu lắm! Quyên quàng cổ Mỵ, thân thiết:


- Thì có ai muốn gặp tụi nó đâu, nhưng cách mạng cần vậy... à, mấy anh có dặn, Mỵ phải khéo léo đừng nóng nẩy, có tức mình cũng ráng dằn xuống, khi cần nói ngọt phải nói ngọt, cần hát Xa ri ca keo cũng cứ hát... Đó, vậy đó, chắc Mỵ dư hiểu rồi. Tin tưởng Mỵ lắm à, nghe! Cà Mỵ mím môi, gật mạnh đầu trong bóng tối. Trước khi Quyên ra về. Cà Mỵ ôm chầm Quyên hôn chùn chụt rồi mới buông cho Quyên đi.


3


Cánh cửa nhà ông Tư Đờn đã khép chặt. Ngạn và hai đội viên của đội anh là Trọng và Tới đang mặc những bộ quần áo biệt kích. Ngạn mặc xong bộ đồ rằn sĩ quan gắn lon thiếu uý, liền chụp lên đầu cái kết ba rèm. Tới và Trọng cũng đã cải trang xong.


- Sao, coi giống chưa? Tấn nói:


- Giống lắm. Thế nào thằng Ba Phi cũng bị mắc! Tới và Trọng khoác mỗi người một khẩu tôm - xông, Ngạn rút khẩu côn 12, tháo băng, lảy đạn trên lòng bàn tay. Đếm thấy đạn vẫn còn đủ tám viên, anh đóng băng cho súng vào bao. Năm Tấn không mang súng. Anh giắt cây mã tấu sáng lóa ở sườn, được thít ngang bằng một cái khăn choàng sọc. Ngạn nói:


- Đi thôi! Bốn người mở cửa ra khỏi nhà. Họ đi một mạch khỏi xóm Vạn Thanh, băng qua ruộng. Vào gần tới đầu xóm Vạn Hiệp. Tấn bảo ba người ngồi đợi, để anh vào bám. Ba người ngồi được một chốc thì Tấn trở ra, thì thào:


-  Đi đi! Bốn người lại đi. Tấn dắt mọi người đi men ra bờ sông. Xa xa, phía trước mặt đã thấy ánh đèn trại đáy Ba Phi. Nước sông đang đổ ra biển, réo lên ở những chỗ xoáy. Ngọn đèn xanh treo ở cột đáy giữa cứ rung lên bởi dòng nước chảy xiết. Năm Tấn khẽ bảo:


- Đêm nay đáy nó không đóng?


Lệ thường đêm nào có đóng đáy thì một cột đáy có treo đèn đỏ. ánh đèn xanh ngoài cột đáy Ba Phi soi lờ mờ một khoảng nước sông cuồn cuộn. Trại đáy hiện rõ dần. Nói là cái trại chứ nó là cả một cái nhà sàn cất chìa ra sông, gác mình trên những cây cọc lớn. Trong nhà le lói ánh đèn. Càng tới gần, mọi người càng ngửi thấy rõ mùi tanh của tôm cá, mùi muối, mùi vỏ sắn ngâm, những cái mùi mà bất cứ trại đáy nào cũng có. Tấn rỉ tai Ngạn:


- Nó có ở nhà?


- Được rồi, để tụi tôi vào. Anh cứ đợi đây! Dứt lời, Ngạn và Tới, Trọng bước dấn lên. Đã quen xông xáo vào những nơi nguy hiểm, Ngạn đi riết thẳng tới cửa không chút do dự. Tới và Trọng bám sát gót Ngạn. Ngạn dừng lại ở cửa nghe ngóng. Bên trong có tiếng nói chuyện rầm rì. Ngạn cố lắng nghe mà nghe không rõ. Anh giơ tay vỗ độp độp vào tấm cửa lợp lá. Tiếng nói chuyện bên trong im bặt. Ngạn lại vỗ cửa một lần nữa và khẽ gọi:


- Anh Ba có nhà không? Trong nhà im thin thít. Lát sau, ở trong bỗng cất lên một tiếng hỏi rất dõng dạc:


- Ai kêu cửa đó?


- Tụi tôi đây, mở cửa đi! Ngạn nghe có tiếng dép kéo lẹp xẹp trên sàn ván, đi ra phía cửa. Kế đó, nghe cây ngáng cửa phía trong rút "soạt" một cái. Cánh cửa mở hé. Một mụ đàn bà, mặt bự thịt, xách cây đèn trai giơ lên. Mụ đưa cặp mắt lá răm liếc nhìn Ngạn. Ngạn chưa hề gặp mụ ta bao giờ. Nhưng anh đoán chắc đây là mụ chủ trại đáy. Anh hỏi:


- Có ông Ba ở nhà không? Đôi con mắt lá răm của mụ đàn bà chợt nháy sáng:


- Có, có. Mời mấy ông vô nhà. Ngạn đưa tay lên miệng ra hiệu bảo mụ nói khẽ. Mụ đàn bà nánh ra một bên cho anh bước vào. Tới và Trọng cũng vào theo. Ngạn thản nhiên đưa gót giày đá khép cánh cửa lại. Vừa lúc ấy, tấm màn che cửa buồng bên trái chợt động đậy và một cái đầu sói bóng thò ra. Đó là một thằng đàn ông trạc chừng năm mươi tuổi, mặc áo thun lá, người mập bệu, hai mắt thoạt trông có vẻ lờ đờ như người mới ngủ dậy. Ngạn gật đầu chào y:


- Anh là ông Ba Phi?


Y khom lưng, chắp hai tay vô ngực:


- Thưa phải! Nhìn cái vẻ cóm róm của y, Ngạn thấy công việc bước đầu đã xuôi lọt. Anh bảo:


- Tôi có chuyện muốn nói với ông. Xin tự giới thiệu, tôi là thiếu úy ở đại đội ông Xăm. Trung uý phái tôi tới gặp ông... Anh giơ tay chỉ bao quát phía sau lưng nhà:


- Tụi tôi mới ở chi khu vô tới.


- Biết rồi, biết rồi... Xin mời quý ông vô trong này! Nói xong, y vén tấm rèm vải lên. Ngạn bước qua cửa rèm. Bên trong là gian buồng rộng, có kê một bộ ván ngựa lên nước rất bóng. Trong nữa là một cái giường lớn đã buông mùng. Ba người đi lại ngồi lên bộ ván ngựa. Ngạn nheo mắt nhìn qua gian buồng rồi quay lại nói:


- Anh ở đây sung sướng quá hả? Tụi tôi không được ăn ngon ngủ yên như ông đâu... Việt cộng lóng rày phá rối dữ lắm! Tên chủ trại đáp lại cung kính:


- Dạ, thưa thiếu úy tôi cũng biết. Hồi xế, tôi có hay tin quý ông về. Vợ chồng tôi mừng lắm. ở đây, vợ chồng tôi mong mỏi quý ông về, đợi hoài, đợi hoài... Tới đây, y ngó vợ bảo:


- Này, nấu nước đi! Đoạn y nhướn mắt chỉ tay ra ngoài:


- Mấy ông về nằm ở ngoài hết rồi hả?


- Ừ.


- Trời đất, tôi có hay biết gì đâu, mấy ông về êm quá! Kế đó y chửi tục một câu, rồi rít chặt hai hàm răng:


- Đ. mẹ, trận này cho tụi nó thấy mẹ hết. ở đây, tụi Việt cộng nó lộng lắm, thiếu uý. Để tôi chỉ thằng nào con nào, ở đây, tôi nắm hết thảy. Tôi chỉ cho ông "xạ" tụi nó như xạ mỏ nhác chơi! Ngạn gật đầu:


- Tôi gặp ông cũng là vì chuyện đó.


- Được, được.


Vừa nói tên Ba Phi bước nhón tới cái kệ treo trên vách, bưng lại một cái khay bằng gỗ trắc đen mun. Trên khay có bộ ấm chén sứ vẽ hình con rồng màu đỏ, và một gói thuốc thơm hiệu Ru - bi. Y mở gói thuốc, rút thuốc cung kính đưa mời Ngạn, Tới và Trọng, rồi đi vào bếp coi nước. Ngạn cầm điếu thuốc, khẽ động đầu điếu thuốc vào móng tay cái. Mụ vợ, sau khi đã bắc ấm nước lên bếp, giờ bước ra đứng xán gần Ngạn, híp mắt hỏi:


- Mấy cậu còn "ém" ở đây lâu không? Ngạn đáp:


- Lâu. Chi vậy? Đuôi mắt lá răm của mụ Ba Phi nháy rất lẳng:


- Mấy cậu có muốn "lai rai" chút đỉnh "ba xị đế" không? Nghe mụ ta hỏi, Ngạn nghĩ:


“Mình không nên từ chối". Anh đưa mắt liếc mụ đàn bà, cười lại với mụ, chân nhịp nhịp:


- Có tôm cua gì không?


- Chà, bữa nay tôm cua tươi không có. Có tôm khô... à, mà mấy cậu ăn cháo vịt nghe, có vịt tơ mập lắm!... Rồi, không đợi Ngạn trả lời, mụ quay vào bếp khiển chồng:


- Anh ơi, bắt vịt đi ông, bắt hai con!... Thằng chồng đang đứng coi lửa ở trong đáp:


- Ờ, được, để đó... thiếu úy với mấy cậu uống trà, nước sôi rồi! Y xách ấm nước ra, chế vào bình đã bỏ trà sẵn. Đợi một chốc, y nhấc bình rót nước ra các chun. Xoa xoa đôi bàn tay béo múp míp, y mời mọi người uống. Y cũng hớp vội một chun, khà khà rồi để ba người ngồi đó, xăng quần bước tới rút mấy cây lót sàn, buông chân xuống. Tiếng vịt kêu cạp cạp. Ngạn ngồi cầm chun trà ngó xuống thấy tấm lưng của thằng chủ trại trắng hếu. Y đang quờ quạng chụp vịt. Ngạn ngó thấy nó hăng hái bắt vịt bao nhiêu lòng anh càng căm giận bấy nhiêu. Anh nghĩ bụng:


“Thằng này quả là một thằng tay sai đắc lực". Bầy vịt càng kêu và chạy tán loạn dưới sàn. Con mụ vợ ngồi chổm hổm trên sàn, miệng ngậm mấy sợi lạt dừa. Thằng chồng bắt được con vịt nào đưa lên, mụ ta liền thộp chéo cánh, lấy lạt dừa trói chân liệng xuống sàn. Bắt vịt rồi, thằng chồng lội sồn sộn ra sông tắm. Tắm xong, y lên nhà đi vòng ra phía sau, giội lại nước ngọt nghe ào ào. Mình y vận một cái xà - rông sặc sỡ, sột soạt đi ra, tay cầm lược chải cái đầu sói sọi chỉ còn lại mớ tóc ốp xuống ót. Ngạn đưa tay ngoắc y:


- Anh Ba, để khỏi mất thì giờ, trước khi ăn cháo vịt, mình bàn công chuyện một chút!


- Dạ, được!


- Anh có bản đồ vùng này chớ?


Tên chủ trại đáy không đáp, lùi lũi đi vào nhà sau. Một lát, y trở ra, hai ngón tay kẹp một cái ống trúc đã khô. Y ngồi xuống ván, để cái ống trúc đó lên bắp vế, và lôi ra từ ống trúc một tấm giấy cuộn nhỏ bằng mút đũa. Ngạn với cầm cuộn giấy trên tay y, tháo ra. Tới và Trọng lanh lẹn nhấc bốn cái chun nước dằn bốn góc ra để t‘ấm bản đồ đừng vo cuộn lại. Trên tờ giấy manh nguyên, Ngạn thấy nét bút chì bi màu xanh vẽ vụng, nhưng rất chi li: nhà cửa, vườn cây, và những khoanh tròn như trôn ốc mà anh đoán là các hòn. Nhưng trông thế thì biết thế, chứ anh không hiểu ra nổi. Tên chủ trại đáy chợt đưa mắt nhìn anh. Sau đó, y nhớn nhác trông ra cửa, cánh cửa đã gài tự nãy giờ. Ngạn nói:


- Đừng sợ, xung quanh đây không có ai ngoài lính của tôi. Anh cứ việc nói. Chắc ông biết là ngày mai tụi tôi đánh vô Hòn...


- Tôi biết... Tên chủ trại đáp khẽ rồi kéo mí xà - rông nơi bụng vận guộn lại cho chặt, người hơi nhổm tới. Cái móng tay trỏ để dài, vàng khè khói thuốc của y gí tới gí lui trên tấm bản đồ:


- Đây, cái nhà nào tôi có đánh dấu chéo đỏ là nhà tụi Việt cộng ráo. Thiếu úy chú ý nghen! Ngạn lập lại:


- Nhà có dấu chéo đỏ... biết rồi! Tên chủ trại đáy lại dùng móng tay cái, cũng cáu bẩn như ngón trỏ của y, bưa bưa xuống mặt giấy:


- Ở cụm này có một cái công trường của tụi nó chế súng tự tạo. Chỗ đó, tôi có báo cáo một lần rồi, máy bay tới liệng cháy rừng mà tụi nó vác chạy được hết... Còn hang Hòn đây rất nguy hiểm. Trận càn trước, tụi nó rút vô hang, mình tấn vô bao nhiêu chết bấy nhiêu. Nay nếu muốn đánh phải cắt đường rút vô hang mới được. Nghe tên điệp nói, Ngạn nghĩ thầm:


“Mẹ, thằng này lợi hại thật!... Được rồi, tao sẽ giết mày như giết một con chó! " Đợi cho tên chủ trại đáy vạch đường chỉ nẻo xong xuôi, Ngạn cuốn tấm bản đồ lại, đưa trả y và vỗ vai y.


- Được rồi. Tốt, tốt lắm!... Trận này mà kết quả thế nào ông cũng được lãnh tiền thưởng. Quay vào bếp, Ngạn vui vẻ cất tiếng:


- Sao, có gì nhậu được chưa, bà chủ trại đáy?


- Có, có... Món lòng xào rồi đây! Mụ chủ nói và đảo chiếc vá xúc chạm đáy chảo nghe xoang xoảng. Rồi mụ lạch bạch bưng ra một đĩa lòng vịt xào hành. Lòng của hai con vịt đầy vun một đĩa, coi rất sum sê. Thằng chồng ghé mũi xuống đĩa lòng đó, hít hít rồi dón chân lỏn vào buồng trong cắp ra một chai rượu "Rồng xanh" thứ lớn, đồng thời bốn ngón tay y kẹp theo bốn cái ly. Y kề chai rượu "Rồng xanh" lên miệng, cắn nhá cái vỏ nút bằng nhựa đỏ, phun phèo phèo. Ngạn ngó đĩa lòng xào, đột nhiên nhìn thẳng vào mặt tên chủ trại đáy, hỏi:


- Nè, ông Ba có lần nào nếm thịt người ta chưa? Tên chủ trại đáy nghe hỏi liền đặt chai rượu xuống ván, ngó Ngạn, lắc đầu:


- Cha cha... thưa thiếu uý, cái món đó thì tôi chưa dám. Tôi nghe nói nhiều ông ăn khen ngon... Còn tôi, tôi hơi ngán! Ngạn cười, hỏi tiếp, nửa giỡn, nửa thật:


- Vậy làm cái nghề chỉ chọc này ông không ngán sao?


- Có gì đâu mà ngán, thưa thiếu úy. Cái chánh là phải kỹ... Tôi không phải là thằng dại, tôi đâu có chường mặt... Nói thế xong, tên chủ trại đáy thu hai tay vào bụng, ghé miệng sát tai Ngạn hỏi:


- Thiếu úy à, thiếu úy có nếm qua cái món đó chưa?


- Món đó là món nào?


- Thịt... thịt người ta ấy mà!


- À... Ngạn đưa mắt nhìn về phía Tới và Trọng, bảo:


- Hai thằng này thì có nếm. Còn tôi, tôi không ăn. Thịt người thì có thiếu gì, tại tôi không ăn... Tôi chỉ ăn gan thôi. Với lại tôi khoái mật. Mật người pha rượu uống khỏi sợ ho lao. Nói thế rồi Ngạn hỏi ngược lại y:


- Còn ông, nói giả tỷ nếu có, ông dám ăn không? Tên chủ trại đáy lặng im. Lát sau, y ngúc ngoắc cái đầu sói, cười khè:


- Thiệt tình là ghê quá... Nhưng giả tỷ có, tôi cũng nếm thử coi nó ra làm sao mà mấy ổng khen ngon dữ quá!


- Được, mai tôi sẽ cho ông một hai ki - lô. Thế nào mai cũng có! Rồi vờ như sực nhớ ra điều gì. Ngạn hỏi:


- À, tôi quên... Còn mấy người làm chung công chuyện với ông thì sao?


- Mấy người làm đáy cho tôi à? Ngạn lắc đầu. Tên Ba Phi hiểu ra, bèn nói:


- Ạ, ạ... không, tôi không làm chung với ai ở đây hết. Tôi sợ làm chung với nhiều người lắm. Hai vợ chồng tôi đủ rồi. Tới đây, Ngạn thấy chẳng cần kéo dài tấn kịch này một cách vô ích. Bấy nhiêu cũng đủ lắm. Bấy nhiêu cũng đủ khiến tim anh sôi lên rồi. Anh đưa mắt nháy Tới và Trọng, hai người nheo mắt đáp lại. Ngạn vỗ nhẹ vào vai tên chủ trại đáy bấy giờ đang cúi rót rượu ra ly:


- Thôi ông bạn, đừng rót nữa. Không ai uống đâu. - Đang nói, Ngạn đứng phắt lên quát:


- Dẹp đi! Nói cho mày biết, tao không phải là ngài thiếu úy của mày đâu. Chúng tao là lực lượng võ trang cách mạng tới bắt mày đây, hiểu chưa? Lúc Ngạn mới bắt đầu nói, Tới đã gí sát nòng khẩu tôm - xông vào ngực tên chủ trại đáy. Y chỏi tay, la:


- Ê, ê... đừng giỡn!


- Không giỡn đâu! Ngạn lấy dây trói thúc y lại. Mụ vợ bị Trọng lôi xềnh xệch từ bếp ra. Lát sau, cả hai vợ chồng mới vỡ lẽ, mặt tái mét. Thằng chồng chưa uống một giọt rượu nào mà mắt cứ đỏ ngầu lên. Sau lần dây trói, hai tay y run giật. Con mụ vợ trố mắt, cái cặp mắt kinh dị và sợ hãi muốn đứng tròng.


(còn tiếp)


Nguồn: Hòn đất. Tiểu thuyết của Anh Đức. Rút từ Anh Đức – Tác phẩm được Giải thưởng Hồ Chí Minh. NXB Văn học, 2007.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »