tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20808727
30.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế cuộc đời và sự nghiệp (18)

GỞI PHÚ BÌNH CÔNG (đã lâu không làm thơ, nhân tiết trời thu cảm tác)


Tan hết mây mù, cảnh lại trong


Chuyện xưa chợt sống dậy trong lòng


Mười năm quan chức đâu ra đó


Ba quyển Âm phù đọc chửa xong


Tiếng sáo thổi lên e lạc lõng


Thơ văn xướng họa sợ lung tung


Đã lâu thi hứng chôn trong bụng


Thu đến vô tình tứ lại hưng


 


ĐÁP PHÚ BÌNH CÔNG


Nhập thế sao bằng bậc sống nhàn


Sào lâm riêng cõi hưởng cư an(1)


Năm canh thầm hỏi vầng trăng đẹp


Mấy dạo xao lòng cảnh sắc xuân


Thuở trước người theo trông náo nhiệt


Ngày nay ai đến chuyện yên hàn?


Cố tri còn có người ngông đấy


Xướng họa cùng nhau kể chuyện xưa


 


VỊNH HẠNG VŨ


Tần cung ba tháng khói chưa tan


Gầm thét trùng đồng quá dữ dằn(1)


Hán đế phải hàng khi lận đận


Bá vương chẳng ngại lúc gian nan


Ngu cơ, lâm biệt bi thương quá


Phụ lão, quay về hổ tấm thân


Đình trưởng Tứ giang gồm đại cục


Thuyền không ghé nữa bến Ô giang


 


 


VỊNH TRƯƠNG LƯƠNG(1)


Thuyết khách rong xe vạn nẻo đường


Như ông khí tượng thật phi thường


Đang khi cuộc chiến Tần và Sở


Là lúc dùi mài Nhan với Tăng(2)


Phát hiện nhân tài Hàn quốc sĩ


Tôn quân đế tượng Hán Cao hoàng


Hán cơ sáng nghiệp, công cao nhất


Thiên cổ nào ai sánh Tử Phòng.


 


VỊNH GIẢ NGHỊ


Anh hùng tài tuấn buổi dương cương


Phải giáng Trường Sa thật đáng thương(1)


Ghé bến sông Tương chiêu Khuất Tử


Về làm Thái phó khóc Lương vương


Nửa đêm giải chiếu không đành dứt


Đời vắn tài cao khó liệu lường


Sự nghiệp như ông tôi tiếc lắm,


Cải biên cơ chế Hán điển chương


 


HỌA NGUYÊN VẬN BÀI THƠ CỦA PHÚ BÌNH CÔNG


VỊNH “NINH TĨNH THI TẬP”


Chưa thấy thân mình lụy tháng năm


Khi mưa gió đến chuốt sầu ngâm


Mơ hồ chuyện cũ nay còn nhớ


Buồn bực xuân qua chẳng bận tâm


Còn vọng bên tai lời cảm thán


Há quên trọn kiếp vẳng dư âm


Xem thơ để lại lòng đau xót


Đâu chỉ Dương Đàm lệ chứa chan(1)




 


 


GHÉ ĐỒN BIỂN CÙ HUÂN


Kỳ Xuyên qua khỏi cánh buồm dương


Thẳng đến Cù Huân Nhỏ nghỉ thuyền(1)


Chắn sóng ngoài khơi ba đảo đá


An cư dưới núi mấy lều tranh


Mưu sinh chỉ món cá và củi


Đổi chác sơ sài chợ bãi sông


Được ít rượu thô kêu chúng bạn


Vui vầy say khướt dưới tà dương


 


TỪ CÙ HUÂN ĐI GIA ĐỊNH


Buồm giương một mảnh thẳng vào nam


Ngàn dặm mù cao lộng gió khơi


Đến núi Cửu Diên thuyền chuyển hướng(1)


Theo triền Tam Động cát đùn cao(2)


Núi Bà sừng sững muôn trùng sóng(3)


Cổ thụ ken dày mấy vạn năm


Chiều xuống Cần Giờ triều mới dậy(4)


Thuận dòng trực chỉ tỉnh thành Nam


 


LÊN THÀNH CŨ PHIÊN AN CẢM TÁC


Bây giờ chiến địa cảnh sầu thương


Một khối thành to vướng họa ương


Vô cớ dân lành mang kiếp nạn


Bao phen tướng sĩ chịu phong sương


Tường tô lầu chạm san thành đống


Giáo gãy gươm cùn lải rải vươn


Giận kẻ ngông cuồng gây nạn nước


Mỗi lần nhớ đến lại sầu vương


ĐI THUYỀN DỌC


*Bài 1


Gia Định Tuy Ninh chiếc hải thuyền


Lần đầu xem cảnh kết tơ duyên


Đất trời trước mặt thênh thang lắm


Giồng bãi ven sông lau lách


Nhà bếp một mâm cơm đạm bạc


Nữ chài mấy rổ cá tươi nguyên


Thong dong ngắm cảnh qua song cửa


Ruộng lúa đương tơ mơn mởn xinh


*Bài 2


Công việc vừa xong, chút thảnh thơi


Dong thuyền đây đó thả rong chơi


Um tùm lùm bụi dân thưa thớt


Khúc khủyu sông ngòi nước khó xuôi


Con nước vừa lên liền rút xuống(1)


Đang đêm trời tạnh thoắt mưa rơi


Nam Kỳ lục tỉnh đi cho khắp


Phong tục dân tình rõ tận nơi


 


THĂM NƠI QUÂN TA ĐÁNH THẮNG QUÂN XIÊM


TRÊN SÔNG BẾN LỨC


Cỏ non mơn mởn, nước mênh mông


Vằng vặc sao trời kiếm khí hung


Cửa Thuận, Long An bày chiến địa


Nam Vang, Châu Đốc bỏ thành không


Đầy trời súng nổ khói mù mịt


Khắp đất bụi bờ máu nhuốm hồng


Tả tướng lui quân dàn thế trận


Phá tan quân Thái có là công?(1)


HÀ TIÊN(1)


Xa tít muôn trùng sóng mấp mô


Trăm năm họ Mạc dựng cơ đồ


Núi de sát biển vùng xinh đẹp


Nhà dựng ven sông, bóng nhấp nhô


Kim Dự, Phù Dung nhiều sự tích(2)


Đông Hồ, Nam Phố cũng qui mô


Dong thuyền thăm hết bao danh thắng


Chạnh tưởng Lư Khê bóng điếu đồ.(3)


 


SÁNG SỚM ĐI THUYỀN TỪ AN GIANG ĐẾN TRẤN TÂY


Một vùng cảnh sắc lạ vô cùng


Xanh biếc một màu ngút mắt trông


Uốn khúc đường đê đùn khói bếp


Sông to Tiền Hậu tỏa hai dòng


Khách thương đông đúc thuyền lai vãng


Đất cát phì nhiêu tốt lúa trồng


Dừng nghỉ nắng trưa trong bóng trúc


Tiếng ca đâu đó ở ven sông


 


TỪ LẦU THÀNH TRẤN TÂY


Khống chế cả vùng biên trấn nầy


Đồn binh lương thảo giáo gươm đầy


Thừa khi công chúa lên ngôi báu


Là lúc nguyên nhung lập kế hay


Mười sáu phố phường dân hội tụ


Bốn luồng giòng rẽ nước thông đầy


Lên cao đưa mắt nhìn toàn cõi


Vạn lý thu về nước Việt đây


TỤC BIÊN DĨ HẠ


ĐỀ ĐỘNG HỒ CÔNG


Hơi nước vươn mù thật tĩnh yên


Hồ công động núi cảnh thiên nhiên


Năm nào thần tích in hang đá


Nay có chân người ngộ túc duyên


Hồng Đức thánh quân nên đắc đạo


Tràng Phòng phàm tục chẳng thành tiên


Xứ Thanh danh thắng đây là nhất


Mới đến nhưng xem đã thích liền


 


VỊNH NGUYÊN VẬN BÀI THƠ TỰ THUẬT CỦA PHÓ SỨ NGUYỄN TOẢN PHU


Lấy chuyện ngàn năm xét tội, công.


Trọng hình thức quá, thiếu nội dung


Làm thân đi sứ cần khiêm tốn


Đừng ngại lời bàn bọn rởm ngông


Bàn thác chuyện xưa câu khí khái(1)


Bề tôi việc mới chí tang bồng


Mai đây, công việc gian lao đấy


Đồ sộ tiền trình khó liệu xong.




 


 


ĐI CHƠI KIM SƠN CÙNG NGUYỄN TOẢN PHU


Chinh chiến từng qua bao núi non


Nay cùng du ngoạn cảnh Kim Sơn


Hơn mười tiểu đỉnh xuyên nham động


Một khúc trường ca dậy sóng lòng


Khoáng đãng hồ im khung mặt nước


Ngang tàng núi dựng bức bình phong


Bạn hiền cảnh đẹp càng thêm thích


Lưu Nguyễn thiên thai thỏa ước mong


 


TẾT ĐOAN NGỌ


Một năm, ba trăm sáu chục ngày


Sao có mùng năm khác, lạ thay!


Người Sở việc chi khơi tế độ?


Dân Nam từ đó tiếc thương hoài


Ba quân còn chịu muôn lam chướng


Đâu thể mình ta tiệc tỉnh say


Lặng lẽ phòng riêng không tiếp khách


Đoan dương, chuyện vặt bỏ ngoài tai.


 


NÚI TAM ĐIỆP


Rập rình cờ xí rợp trời trong


Dằng dặc vời xa núi trập trùng


Ngàn kỵ tiến vô Tam Điệp hiểm


Vạn sơn qua lại một đường thông


Nhấp nhô ẩn hiện trông vui mắt


Khúc khuỷu vòng vo vẻ bất đồng


Mỏi mệt mấy ngày đường vất vả


Trong lòng chưa hết nỗi lo chung


 


HÀ NỘI HOÀI CỔ


Chợt giở An Nam cựu địa đồ


Thăng Long thời trước vốn kinh đô


Phồn hoa nức tiếng bao triều đại


Phong cảnh so ra khác hiện giờ


Thủ phủ ngàn năm dân tụ hội


Đền đài mấy chỗ cảnh hoang vu


Mênh mông sông Nhị trôi nhanh thế?


Thắng cảnh thành tây Trúc Bạch hồ


 


LÊN THĂM NÚI DỤC THÚY


Non xanh nước biếc tiếng Ninh Bình


Công vụ lần nầy dịp đến nhanh


Còn mới, Hộ thành ơn ngự tứ


Từ lâu, Dục Thúy đẹp vang danh


Mặt nam, lởm chởm cao phong nhọn


Hướng bắc, mênh mông nước thẫm xanh


Từ giã lên đường còn ngoái lại


Nhớ hoài sắc đá vết rêu xanh(1)


 


VIẾNG QUAN THƯỢNG THƯ BỘ LỄ HÀ TÔNG QUYỀN (TỐN PHỦ)


Dẫu nói ngàn lời cũng chẳng nên


Văn chương, vua mến đã đề tên


Nhân tài trẻ tuổi danh tiền bảng


Tuyệt thế thông minh tiếng sấm rền.


Hoạn lộ thênh thang sao vội bỏ


Rượu chè trai gái chẳng hề quen


Sống hơn bốn chục không là yểu


Thương tiếc trong lòng khó thể quên


 


TẶNG QUAN THƯỢNG THƯ BỘ CÔNG BÙI ĐOÀN VỀ HƯU


Đường đời từng gánh lắm gian nan


Phải chịu ba lần giáng chức quan


Lên xuống cả đời, đành sống nhún


Nổi trôi suốt kiếp, chịu cư bần


Mình mang bệnh nặng nên hưu trí


Chức phận lo tròn nhẹ tấm thân


Muốn bước theo ông chưa thể được


Ở, về đâu phải chuyện dễ bàn


 


TIỄN LÊ VĂN ĐỨC ĐI KINH LƯỢC TRẤN TÂY THÀNH


Công lao lừng lẫy đất Vân Trung(1)


Chân Lạp an dân việc cũng thường


Phẩm vọng xứng vai đầu Nội các


Công danh phần lớn việc biên cương


Suốt đời phát triển bao phong tục


Bền dạ hằng trông một cố hương


Nam bắc đi về không biết mỏi


Đem thanh giáo tới tận muôn phương


 


NHỚ THƯƠNG SƠN CÔNG (họa thứ vận bài thơ đề vách nhân lễ khánh thành Đồng Vân quán)


Rào tre, lối cúc thật an nhàn


Cảnh vắng mượt mà cây cỏ xanh


Nghiệp giá thơm nồng hương sách cổ


Trịnh gia quý phái chị em thân


Dương Xuân Bạch Tuyết nghe văng vẳng


Tịnh Tiết vô huyền quả rất gần


Phong nhã làm sao! Lời chính đáng


Hạc minh văng vẳng biết bao lần


 


TẶNG ÔNG NGỤY THIỆN PHỦ TỔNG ĐỐC SƠN HƯNG TUYÊN


Khoe tốt, tranh hay chuyện thế gian


Biết nhau tôi bác mắt đều xanh(1)


Ý thơ sâu lắng như Ma Cật(2)


Phong độ ôn hòa giống Tạ An(3)


Tin tưởng vua giao ba tỉnh ấy


Điềm lành trời báo ngũ vân đoan


Cùng nhau góp sức xây cơ nghiệp


Chẳng phải loanh quanh thơ với văn


 


ĐƯỢC PHÉP VỀ QUÊ (Vua ban thơ tiễn, họa nguyên vận)


Vua tôi tình nghĩa cũng là lâu


Già yếu xin về, dám phụ đâu!


Báo quốc một lòng soi bóng nguyệt


Ưu dân bao nỗi bạc thêm đầu


Ơn vua suốt kiếp thân nhuần gội


Lộc nước bảy đời tộc thấm sâu


Bắt chước ngày xưa lời chúc tụng


“Tam Đa” phong nhã thuộc làu làu.


 


TIẾP TRUNG SỨ(1) (họa nguyên vận thơ Ngự Chế)


Suy nhược bệnh nhiều lão phế nhân


Nhiều năm ơn nặng quá Đường thần(2)


Thuốc tiên ban tặng tan cơn bệnh


Thơ thánh ngâm nga đậm mối thân


Cảnh khó e không tròn báo đáp


Tình sâu nên chẳng ngại gian nan


Bình sinh rất trọng tiên hiền dạy


Việc trái làm sao dám luận bàn


CẦU ĐƯỢC MÙA (họa thơ Ngự Chế)


*Bài 1


Trăm nghĩ ngàn lo luôn trước dân


Mong cho đồng ruộng cỏ đừng lan


Sâu rầy diệt hết mùa tươi tốt


Lúa má sinh sôi ngút mắt xanh


Vẫn muốn ban lành Ân thánh chúa(1)


Còn mong cứu hạn Phó Nham thần


Hoa màu chăn thả thêm chài lưới


Đại hữu năm nầy lại tiếp năm (2).


*Bài 2


Hạ chiếu hàng năm đến tỉnh thành


Trời mưa trời tạnh cũng lo toan


Kịp thời cứu trợ dân khi đói


Mãi mãi siêng năng chuyện tưới tiêu


Hãy nhớ tiên ưu gương xán lạn


Đừng quên hậu lạc phú gia ngư (3)


Thẹn vì chẳng xứng lời khen tặng


Ân sủng ban riêng đã quá nhiều


 


THU HOÀI


Hiu hắt đêm dài gió chẳng thôi


Đang rầu chạnh nhớ lại thu rồi


Lên cao ngắm biển ai làm bạn?


Xúc cảnh mong người dạ biết thôi


Rả rích sương rơi thương cúc héo


Lửng lơ lá rụng nhớ cành côi


Xuề xòa tạm sống qua ngày tháng


Hình dáng ai về gương bóng soi


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. Nhóm biên soạn: NGUYỄN VĂN CHỪNG, DƯƠNG MINH CHÍNH, LÊ VĂN CÔNG, LÊ SƠN - NGUYỄN VĂN THANH. NXB Văn học. 1-2009.


 







(1) Sào lâm: Tích xưa, Sào Phủ ở ẩn nơi Sào lâm. Sào Phủ là người tài cao, nhưng không chịu ra làm chức quan.




(1) Hạng Vũ: dòng dõi quý tộc nước Sở. Khi Tần diệt lục quốc, thống nhất Trung Quốc được một thời gian thì quý tộc các nước nổi lên trả thù. Hạng Vũ sức khỏe hơn người, đặc biệt mắt có hai con ngươi (trùng đồng), khởi binh đánh nhà Tần chín trận đều thắng, Lưu Bang làm chức đình trưởng ở huyện Bái bên giòng sông Tứ (Tứ giang) cũng nổi lên đánh Tần. Ban đầu Lưu Bang yếu hơn phải tạm về hàng Hạng Vũ cùng đánh Tần. Hạng Vũ xưng là Sở Bá vương, chiếm được kinh đô nhà Tần, đốt cung A Phòng cháy suốt ba tháng, nhưng sau lại bị bại dưới tay Lưu Bang, tính chạy về Giang Đông nước Sở quê hương. Khi đến bên sông Ô Giang, quan quân tan tác, vợ là nàng Ngu Cơ tiết liệt tự tử để khỏi vướng chân chồng. Trước cảnh bi thương vợ chết, Hạng Vũ hổ thẹn không dám trở về gặp lại phụ lão Giang Đông (nước Sở), nên không lên chiếc thuyền ghé đón qua sông thoát khỏi truy đuổi của quân địch, mà tự cắt đầu tự tử, tiêu tan theo cơ nghiệp.




(1) Trương Lương: tự Tử Phòng vốn là quý tộc nước Hàn, bị Tần diệt, nên mang chí khôi phục. Khi Lưu Bang khởi binh, Trương Lương theo về, là người hoạch định kế sách dẫn đến thắng lợi mở ra triều đại nhà Hán. Ông phát hiện nhân tài Hàn Tín (gọi là Hàn quốc sĩ) khi còn làm chức quan nhỏ bé hầu cận cho Hạng Vũ. Chính Hàn Tín sau khi về với Lưu Bang đã chỉ huy quân đội đánh bại Hạng Vũ. Trương Lương là người có công đầu của nhà Hán, nhưng sau khi lập xong triều Hán, ông lặng lẽ bỏ quan chức vào núi tu tiên




(2) Nhan, Tăng: là Nhan Hồi và Tăng tử, hai học trò giỏi chính trị của Khổng Tử.




(1) Giả Nghị: người thời Tiền Hán, (Hán Văn đế 179-157 TCN), học rộng tài cao, hơn hai mươi tuổi đã làm đến Thái trung đại phu, ông đề xuất chỉnh sửa cơ chế cai trị theo điển chương nhà Hán thời bấy giờ, nhưng bị bác bỏ, bị biếm làm Thái phó cho Trường Sa vương, sau làm Thái phó cho Lương vương, là chức quan phụ tá ở địa phương, không quyền hành gì. Khi đi ngang qua đò sông Tương, nơi ngày xưa Khuất Nguyên trầm mình, ông làm văn điếu thả xuống sông. Lương vương bị ngã ngựa chết, ông thương cảm khóc lóc, rồi chết theo khi mới ba mươi ba tuổi.




(1) Dương Đàm: tích xưa, Dương Đàm là cháu danh sĩ Tạ An thời nhà Tấn rất mến phục Tạ An. Khi Tạ An qua đời, chôn ở Tây châu, thì Dương Đàm buồn thương vô cùng, không còn ăn chơi như trước, tránh đi qua Tây châu. Có lần say quá, xe đi qua Tây châu, tùy tùng nói cho biết, ông rầu rĩ xuống xe khấu đầu ngâm câu: “Sanh tồn hoa ốc xứ, linh lạc tại sơn khâu”, khóc thương




(1) Cù Huân Nhỏ và Cù Huân Lớn là hai đồn biên phòng ngoài đảo ven biển thuộc tỉnh Khánh Hòa.




(1) Cửu Diên: rặng núi có chín ngọn nhô ra biển thuộc tỉnh Bình Thuận




(2) Tam Động: ba đụn cát cao, nay là Mũi Né, thuộc tỉnh Bình Thuận




(3) Núi Bà: thuộc Bà Rịa Vũng Tàu




(4) Cần Giờ: cửa biển Cần Giờ, nơi thoát ra biển đông của các con sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ. Cửa biển nầy thuộc phạm vi bán nhật triều, mỗi ngày có hai lần triều lên và hai lần triều xuống. Ghe thuyền thời xưa, khi đi từ biển vào thì chờ con nước (triều) lên, khi đi ra biển thì chờ con nước xuống, thuận dòng theo con nước, đỡ phải chèo chống.




(1) Nam Bộ: thuộc vùng biển theo chế độ bán nhật triều, một ngày có hai lần con nước lên và hai lần con nước rút.




(1) Đánh tan giặc, nhưng lại lui binh bỏ Nam Vang, Châu Đốc. Đây là nói về Đại tướng Trương Minh Giảng và Đại tướng Nguyễn Xuân lui binh từ Trấn Tây và Châu Đốc để rồi đánh tan quân Xiêm trên sông Bến Lức.




(1) Hà Tiên: xứ Hà Tiên giáp biển địa đầu tây nam nước ta, do Mạc Cửu lập làm thủ phủ của vùng lãnh địa duyên hải từ Thái Lan đến Campuchea, Việt Nam ngày nay. Vốn người Quảng Đông Trung Quốc, khi nhà Thanh chiếm toàn bộ Trung Quốc, Mạc Cửu đưa gia đình họ tộc, đồng hương rời quê hương ra đi bằng thuyền, đến địa phận vịnh Thái Lan thì đổ vào, lập làng mạc, chiêu tập dân lưu tán lập Hà Tiên quốc, đến năm 1714 xin phụ thuộc vào Chúa Nguyễn, thời Nguyễn Phúc Chu. Đến năm 1735, Mạc Cửu mất, con là Mạc Thiên Tứ lên thay làm tổng đốc Hà Tiên. Thiên Tứ là con của Mạc Cửu và một phụ nữ Việt ở Đồng Nai, có công mở rộng thôn làng và phát triển văn hóa tại vùng đất mới còn hoang vu.




(2) Xứ Hà Tiên có mừơi thắng cảnh, trong đó có:


Kim Dự Lan Đào


Tiêu Tự Thần Chung (chùa Phù Dung)


Nam Phố Trừng Ba


Đông Hồ Ấn Nguyệt


Lư Khê Nhàn Điếu…




(3) Điếu đồ: người câu cá, chỉ Mạc Thiên Tứ, con Mạc Cửu, người lập ra Thi đàn Chiêu Anh Các, thường ngồi câu cá ở Lư Khê.




(1) Bàn thác: Tích câu nói khí khái của Ngu Hủ: “Bất ngộ bàn cân thác tiết hà dĩ biệt lợi khí hồ?” (Không cầu việc dễ, không tránh việc khó, là chức phận của kẻ bề tôi. Không kinh qua gian khổ làm sao phân biệt người có chí).




(1) Đài ngân: trong nguyên tác nghĩa đen là vết rêu, đồng thời cũng có nghĩa là tình bạn keo sơn.




(1) Lê Văn Đức: người tỉnh Vĩnh Long, Nam Kỳ, đỗ Cử nhân, từng làm tham tán cho Nguyễn Công Trứ đánh dẹp Nông Văn Vân ở Vân Trung thuộc tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kỳ. Năm 1841, ông được thăng chức Tổng thống quân vụ cầm quân đánh tan quân Xiêm, được khắc tên vào bia võ công. Ông liệu lý mọi việc ở Trấn Tây thành (Campuchea) như một phó vương.




(1) Mắt xanh: tích Nguyễn Tịch thời Tấn, một trong bảy người hiền (Trúc Lâm thất hiền). Mắt Nguyễn Tịch xanh khi tiếp người tài đức, mắt Nguyễn Tịch trắng khi phải tiếp kẻ phàm phu.




(2) Ma Cật: Vương Duy tự Ma Cật, một thần đồng thời Thịnh Đường.




(3) Tạ An: người thời nhà Tấn, nổi tiếng từ nhỏ, phong thái đoan trang, tính tình trầm tĩnh, tư duy sâu sắc.




(1) Trung sứ: Người mang lệnh vua đến cho các quan. Đây là người theo lệnh vua đến thăm bệnh




(2) Đường thần: tích vua Đường Thái Tông Lý Thế Dân cắt râu hòa thuốc.




(1) Ân thánh chúa, Phó Nham thần: tích Phó Duyệt ở trong vùng Phó Nham. Vua nhà Ân vời ra làm quan, giỏi tài trị nước, khiến đời sống nhân dân sung túc




(2) Đại hữu: tên một quẻ trong Kinh Dịch, chỉ mùa màng bội thu.




(3) Tiên ưu, hậu lạc: Trong bài phú nổi tiếng “Nhạc Dương Lâu ký” của Phạm Trọng Yêm thời Tống có câu: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (người cai trị thì lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
xem thêm »