tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21070034
Tiểu thuyết
13.08.2014
Triệu Xuân
Giấy trắng

Linh mục Đạt ngưng nói, ông nhìn mọi người với ánh mắt hiền hậu của một người cha, một đồng nghiệp của họ. Trong nhà máy này, ông vẫn được mọi người dành cho sự kính trọng. Và những giờ phút như hôm nay, ông biết mọi người luôn chờ ý kiến của ông, làm theo ông, nghe lời ông.


Ba Bình nặng nề đứng dậy. Ông nói chậm rãi như nhấn mạnh từng tiếng:


- Ngày hôm qua, thêm hai chiếc máy typô nữa phải xếp xó. Lô in ốpsét thì bị phù, bị lõm hàng loạt. Chất lượng ấn phẩm sẽ không thể nào đảm bảo được trong tình trạng này. Nhất là khi mực Toyo của Nhựt đã hết, chúng ta chuyển qua xài mực của Cộng hòa Dân chủ Đức, chưa quen tay... Biết rằng trong kho còn được non chục lô in ốpsét nữa nhưng không dám xin. Vì đó là những lô in nhập cảng còn lại, những lô in cuối cùng. Phân xưởng in đã đưa những lô in bị phù lõm đi mài lại để tận dụng. Mài một lượt dùng rồi nay mai sẽ mài lượt nữa. Tôi hiểu rằng khó khăn rồi cũng qua đi thôi. Nhưng thật lòng mà nói nhìn phân xưởng trước kia sôi động, âm vang tiếng máy, mà nay chỉ chạy được có chiếc máy Goss và vài máy đặt tay, buồn đến nẫu ruột nẫu gan. Nhân đây tôi xin phép được nói với anh em công nhân phân xưởng in, với những anh em đã nộp đơn xin nghỉ việc: Mong anh em ráng chút nữa. Ráng chút nữa đi! Đừng có bỏ cuộc. Giám đốc mong điều đó. Tôi cũng mong điều đó. Đừng có bỏ cuộc.


Một công nhân trạc năm mươi tuổi, người cao lớn, đứng dậy nói:


- Được, tôi xin nghe lời giám đốc. Tôi xin rút đơn lại, tiếp tục làm việc. Báo cáo với giám đốc, với hết thảy mọi người, tôi đã sắm chiếc xích lô được sáu tháng nay. Sau giờ làm việc ở nhà máy, tôi về đạp xích lô kiếm sống thêm. Con đông quá, vợ chạy chợ te tua mà mua gạo không nổi. Nào ngờ mới đây chiếc xích lô của tôi bị tụi lưu manh giựt mất. Tôi phải bỏ xe chạy lấy người. Làm đơn xin nghỉ việc, tôi rầu lắm chứ ! Mất ngủ mấy đêm liền. Rồi thì tặc lưỡi. Nay, tôi sẽ ráng, ráng thật nhiều chứ không ráng một chút đâu, anh Ba Bình ạ. Tôi đã năm chục tuổi rồi, nhưng tôi vẫn còn gân mà. Tôi sẽ ráng...


Tiếng vỗ tay rào rào kéo dài, nhiệt liệt hoan hô người thợ in đó. Mọi người từ hậu trường lầu năm bước xuống cầu thang. Ở lại dọn dẹp ly tách, ấm trà, Lệ Thy ngồi im như người bị thôi miên. Trong lòng cô đang diễn ra sự giằng xé giữa đi và ở. Ngày nào má cô cũng hối cô mang tiền, mang vàng lo lót cho việc xét duyệt hồ sơ được mau lẹ. Mỗi lần má hối thúc, cô cứ vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện. Sốt ruột quá, má cô đã tự đến xếp hàng ở Sở Ngoại kiều, và bà quyết tâm lo lót bằng mọi cách để sự ra đi được chóng vánh. Lệ Thy biết đã đến hồi quyết liệt. Công việc buôn bán của má cô hầu như phải đình lại. Ủy ban phường yêu cầu má cô phải chuyển qua sản xuất, không được kinh doanh thương nghiệp nữa!


Trong trí cô vẫn luôn vẳng lên câu nói của nhân viên Sở Ngoại kiều: “Đi tị nạn hay đi hợp thức hóa gia đình cũng đều là bỏ xứ mà đi...”. Mi có phải là cô nữ sinh đã từng tự hào khi đọc thơ Nguyễn Du, thơ Đồ Chiểu? Mi có phải là cô gái mà khi còn nhỏ đã viết được bài luận rất hay, được điểm cao nhất, về bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư? Mi có còn là một thanh niên hăng hái nhất trong phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe? Mi đã nói với Hải những gì? Những lời ân ái. Những lời về nguyện vọng và trách nhiệm. Những ước mơ được cống hiến cho sự nghiệp của quê hương mình. Và mi có còn xứng đáng là cô gái của thành phố Sài Gòn -Hòn ngọc Viễn Đông, Paris nhỏ- này nữa không? Thành phố đầy những kỷ niệm thân thương. Mỗi tên đường phố, quảng trường đều được gợi nhắc những bậc anh hùng của dân tộc. Thành phố đang qua một cuộc lột xác đầy thử thách: đau đớn, xót xa nhưng cũng rất chững chạc, tự hào. Hình như một nhà thơ nào đó đã từng viết:


Dẫu là Chúa cũng sanh từ giọt máu.


Ta đẻ ra đời sao khỏi những cơn đau?


Mi đã tự coi mi là người trong cuộc, nhưng thực ra mấy năm qua, từ sau ngày ba mươi tháng tư, mi đã phải chịu một thiếu thốn gì dù nhỏ nhất đâu. Sống đầy đủ về vật chất, đi làm thì được tôn trọng, quý mến, tin cậy, lại được yêu, có tình yêu... Thử hỏi mi còn đòi hỏi điều gì hơn nữa? Những chân trời mới ư? Từ ngàn xưa rồi, trong mỗi con người Việt Nam đều có lòng tự hào dân tộc. Ngay cả những em bé bán báo, đánh giày còn biết ghét ngoại bang xâm lược. Huống hồ mi đã được học hành...


Bằng nhận thức thực tế và linh cảm của một cô gái giàu tình cảm, Lệ Thy hiểu rằng trong thời điểm này, điều quý giá nhất là niềm tin. Nếu không có niềm tin, không có tình yêu thì sẽ không còn là cái gì nữa. Cô phải tin tưởng một cách chắc chắn vào những gì mình đang theo đuổi. Vì sao những người như Sáng, hào hoa phong nhã, nhà giàu, vẫn hăng say lao vào cuộc chiến đấu cho sự nghiệp chung của nhà máy, dù biết rằng đầy rẫy gian khổ, kể cả cái chết? Đối với Lệ Thy, chỉ có thể cắt nghĩa điều đó bằng niềm tin vào đất nước, vào tương lai của xứ sở, bằng tình yêu quê hương mãnh liệt.


Lệ Thy cứ ngồi như thế mà nghĩ ngợi. Hải đến bên cô lúc nào không hay. Hải lặng ngắm người yêu từ phía sau. Anh muốn choàng tay ôm thật chặt Lệ Thy vào lòng. Người con gái xinh đẹp, thùy mị, nữ hoàng của trái tim anh. Anh tự hào biết bao về người yêu. Nhưng anh biết, người yêu của anh đang trải qua một trận chiến khá ác liệt giữa đi và ở. Anh không biết rồi cô có thắng trong cuộc đọ sức này không. Linh tính nhạy cảm đã báo cho Lệ Thy biết ai ở phía sau mình. Cô đứng dậy. Chiếc áo thun ôm sát thân hình thon và chắc của cô. Ống quần jean nhỏ để lộ đôi giày da màu nâu nâng bàn chân trắng ngần. Cô từ từ quay lại, ngả người vào vòng tay dang rộng của Hải. Họ lặng lẽ hôn nhau. Nước mắt cô làm mặn môi của Hải. Lệ Thy khóc nức lên. Càng nén tiếng khóc trong lòng thì nước mắt càng trào ra chứa chan. Không! Cô không thể nào xa Hải! Cô yêu Hải quá chừng! Cô tính thốt ra những lời đó nhưng lại dằn lòng. Với anh, em đã nói nhiều bằng ánh mắt phải không anh! Bây giờ em nên nói điều gì đó bằng việc làm cụ thể, bằng sự ở lại gắn bó với nhà máy. Tình yêu đâu phải là chuyện chỉ để lên đầu môi chót lưỡi phải không anh! Ngày xưa ông cha mình dạy chớ nên “bán thỏ mua hùm”. Ai dại gì bỏ đi hạnh phúc đang có trong tay để đi tìm chuốc những điều mông lung vô vọng, và có lẽ chẳng bao giờ đạt tới! Em sẽ gắn bó với nhà máy, gắn bó với anh. Có như thế em mới tồn tại, mới là em của Sài Gòn, là em của anh, phải không anh? Đôi cánh tay trần của Lệ Thy vòng qua sau gáy Hải, ghì chặt đầu anh, áp mặt anh vào ngực cô. Rồi họ lại nhìn nhau, nhìn nhau hồi lâu.


- Sao em khóc?


- Dạ, vì em thương anh, và em được anh thương!


- Ôi! Cám ơn em! Anh sung sướng quá!


Tiếng chuông báo hết giờ làm việc buổi chiều đã vang lên. Hải cùng Lệ Thy bước xuống lầu dưới. Trong phòng chế bản, mọi người đã về hết. Từ phân xưởng in còn vọng lên tiếng máy Goss chạy ca ba. Tiếng máy chạy đều đều vọng qua ba tầng lầu thùng thùng thùng thùng na ná như tiếng đầu máy xe lửa khi đang đậu trong sân ga. Hải dẫn Lệ Thy vào trước bàn làm việc của anh. Anh đưa đoạn phim xìlai vào máy chiếu, bật công tắc. Từ màn ảnh hiện lên những cảnh đẹp của đất nước. Đây là đoạn phim của khách hàng đưa in lịch cho ngành du lịch. Cảnh Hạ Long lúc bình minh, cảnh Tây Hồ Hà Nội, thác Bản Dốc Hoàng Liên Sơn, hồ Xuân Hương Đà Lạt, bến cảng thành phố Hồ Chí Minh và đại lộ Nguyễn Huệ. Những hình ảnh dừng lại lâu lâu trên màn ảnh. Hải và Lệ Thy ngồi sát vào nhau, làm một cuộc du lịch qua những thước phim xìlai, sản phẩm của các nghệ sĩ nhiếp ảnh. Mai mốt, những đường nét và màu sắc này sẽ được chuyển qua bản kẽm, rồi từ bản kẽm sẽ hiện hình trên giấy trắng. Mùa xuân sắp đến rồi. Đối với những người thợ in, mùa xuân đến sớm nhất, vì còn mấy tháng nữa mới Tết nhưng họ đã mải miết lo in lịch cho kịp Tết Tây.


Bước xuống đường, Lệ Thy nói với Hải:


- Chiều nay anh có mắc công chuyện chi hông?


- Không.


- Thiệt hông?


- Thiệt mà. Anh đưa em đi chơi nghe!


- Dạ. Chiều nay tự nhiên em không muốn về nhà ngay.


- Má thế nào?


- Má nôn đi lắm. Bả đang tìm cách lo lót để đi cho lẹ. Nghe đâu ai muốn đi liền phải lo cả chục cây vàng đó anh.


- Chà! Chục cây vàng! Nếu có chục cây vàng sao họ không ở đây cho sướng?


- Biết thế nào được. Mỗi người một ý chứ anh!


Lệ Thy đạp máy xe. Chiếc xe nổ êm. Cô quay lại nhìn Hải:


- Hôm nay anh để xe đạp lại đi. Em muốn anh chở em cơ!


- Sẵn sàng! - Hải dắt xe đạp về phía nhà gởi xe rồi trở lại.


Chiếc Vespa mini lướt êm trên con đường có những thân cây dầu cao vút. Ở trên lầu nhìn xuống đường, ông Phát lại thở dài. Tuổi trẻ, tình yêu! Ôi! Mỗi người có một thời mà thôi. Tuổi trẻ của mình đâu có được như vậy!


Có tiếng chuông điện thoại. Tư Phát cầm ống nghe:


- Alô. Anh Học đấy à. Dạ. Báo cáo, tình hình không có gì lạ. Chiều nay có cuộc họp toàn nhà máy. Chả là vì có nhiều  người xin nghỉ việc mà. Dạ. Dạ. Lên giây cót tinh thần. Dạ. Đúng vậy ạ. Dạ. Anh nói sao? À chúng ta đã gây được dư luận phản đối trong toàn thành phố à? Vâng, tất nhiên! Ai mà chịu để cho khuynh hướng hữu khuynh trong quản lý kinh tế lộng hành như vậy. Đúng. Đúng. Tôi tin anh. Tin anh mà!


Tư Phát buông máy, ngồi phịch xuống ghế. Ông rút thuốc, bật lửa hút. Vết thẹo bên má trái lại giật giật làm ông khó chịu.


 


năm


Từ Cà Mau, An điện về cho Thịnh, yêu cầu cho xe xuống chở gạo. Tin này làm cho cả nhà máy xao động hẳn lên.


Vụ thu hoạch đầu tiên, An cầm chắc sản lượng phải đạt mười lăm tấn lúa. Lúa năm nay ở Minh Hải trúng chưa từng thấy. Trong khi các tỉnh ở vùng giáp với Đồng Tháp Mười như Long An, Đồng Tháp bị lũ lụt, mất mùa, thì Minh Hải lại được mùa. Giá gạo ở chợ Cà Mau rẻ hơn Sài Gòn rất nhiều.


Suốt hai tuần lễ, kể từ khi hạt lúa chưa chín hẳn, An đã chạy nháo nhào khắp các ngành trong huyện để nhờ thu hoạch. Đến đâu, người ta nghe anh trình bày xong đều cười xòa, rót rượu mời anh uống rồi trả lời:


- Muốn ăn thì lăn vô mà làm cha nội! Thời vụ đang tới mà, có ai rảnh đâu!


Đúng là không có phòng ban nào trong huyện rảnh rỗi. Tất cả mọi người đã tỏa về các xã làm công tác ba thu(1) . Minh Hải đang là niềm mong đợi của cả nước. Sản lượng lúa của Minh Hải năm nay phải được chia sớt cho các tỉnh bị lũ lụt. Điều đó cần phải được thông suốt đến từng xóm ấp, từng người dân.


Đi suốt ngày không được việc gì, An buồn bã trở về nhà má Bảy. Từ ngày Thịnh đưa anh về đây xin đất sản xuất, anh ăn nghỉ ngay trong nhà của má Thịnh. Anh kêu má bằng má Bảy và xưng là con. Má Bảy cũng quý anh như những đứa con chiến sĩ của mình thời kỳ đánh Pháp, đánh Mỹ. Má khen An hiền lành. Con trai Sài Gòn mà hiền khô, củ mỉ củ mì, ít nói, ăn uống thì như con gái. Ngay cả nết ngủ cũng ngoan, hễ nằm xuống là ngủ liền. Ngày mới về, trước khi đi ngủ, má Bảy thường hay nói chuyện với An. Biết An nhớ Sài Gòn, nhớ vợ con, má nói chuyện cho An vui. An thức được hai buổi tối để tiếp chuyện với má. Đến tối thứ ba, má Bảy mới thấy An đáp lời được hai câu gì đó thì tiếng ngáy khò khò đều đều vang lên rồi. Mấy đứa cháu ngoại của má Bảy cứ chọc chú An ngủ mà còn kéo bễ lò rèn. Má Bảy giúp An mọi việc, từ việc vận động bà con sạ lúa giúp, đến chuyện phun thuốc trừ sâu, bón thúc thêm urê. Cây lúa lớn dần, An cũng vỡ vạc được nhiều điều về kiến thức nông nghiệp. Thấy An trở về, mặt ỉu xìu như bánh mì gặp nước, má Bảy hỏi:


- Chi vậy con?


- Con đi suốt sáng tới giờ mà không kiếm được người gặt, má à.


- Trời đất! Đi tìm người gặt lúc này có khác chi đáy bể mò kim. Thôi được rồi! Để má lo cho.


- Chắc con lại phải nhờ má thôi, má à.


Tối đó, má Bảy lại nhà chị hội trưởng phụ nữ bàn soạn gì đó. Lúc về, má vừa cười vừa nói với An:


- Chuyến này thằng An cứ việc đốt pháo ăn mừng.


- Vậy sao má? Có người gặt rồi à?


- Ờ. Má nhờ bên hội phụ nữ. Khỏi lo tốn gượu! Nghe nói gặt lúa giúp công nhân nhà máy in ở Sài Gòn, ai cũng vui vẻ nhận lời.


- Số dzách! Bà con nhiệt tình với tụi con, tụi con mang ơn để đâu cho hết. Con sẽ kể chuyện này cho toàn thể công nhân nhà máy nghe.


- Có gì đâu mà mang ơn! Chuyện hy sinh đổ máu bà con xứ này còn không từ, huống chi ba cái vặt vãnh này.


Ngót chục mẫu lúa của nhà máy được thu hoạch nhanh chóng làm cho An rất ngạc nhiên. Anh dùng xuồng chở mấy phuy dầu cho gia đình có máy tuốt lúa và máy xay xát. Ngày hôm sau, nhờ má Bảy giới thiệu, An quá giang được chiếc tàu của hải quân Năm Căn, chở hết số gạo ra Cà Mau chờ xe Sài Gòn xuống. Anh năn nỉ mãi chị Hội trưởng phụ nữ xã mới chịu nhận một ít lúa để làm quỹ cho hội, “gọi là kỷ niệm của nhà máy, chứ ở xứ này lúa gạo thiếu gì!” - má Bảy nói thêm vào như thế.


Chiếc xe vận tải của nhà máy in Hy Vọng rời Cà Mau lúc năm giờ sáng. Xe chạy tới trạm kiểm soát phía bắc thị xã Bạc Liêu thì bị chặn giữ. Lúc đó mới có sáu giờ rưỡi. Năm sáu thanh niên đội nón tai bèo, quần xanh, áo sơ mi đen, súng AR15 lăm lăm trong tay, mặt lạnh lùng đứng quanh xe. An vội vàng từ cabin nhảy xuống.


- Các anh ở đâu? Ai cho chở gạo trên xe ra khỏi tỉnh?


- Mời đồng chí coi giấy. - An đưa mấy tờ giấy cho người thanh niên vừa hỏi.


- Tôi hỏi anh phải trả lời. - Cầm xấp giấy trên tay, người thanh niên không rời mắt khỏi An, hách dịch nạt nộ.


- Thôi được, nếu đồng chí ngại đọc thì tôi sẽ trình bày để đồng chí rõ đây. Đây là...


- Khỏi dài dòng! Tôi hỏi anh ở đâu?


- Tôi là thư ký công đoàn nhà máy in Hy Vọng.


- Thư ký công đoàn là cái gì, tôi không cần biết. Anh nói cho rõ, anh là ai, ở đâu?


Trong lúc đó bốn người thanh niên kia leo lên thùng xe lục lọi, khám xét. Họ đẩy xuống đường những bao tải đựng đầy tôm khô và cá khô. An mua hai thứ này về để chia cho anh em ăn Tết. Khó chịu vì giọng điệu hách dịch, ngang tàng của người thanh niên, nhưng An cố dằn lòng, từ tốn trả lời:


- Tôi là An, ở nhà máy in Hy Vọng thành phố Hồ Chí Minh.


- Xe anh chở những gì?


- Chín tấn gạo sản xuất ở Ngọc Hiển, nay chúng tôi chở về để công nhân ăn Tết. Tiện xe, chúng tôi có mua ba trăm ký tôm và cá khô.


- Có giấy xuất tỉnh không?


- Có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân huyện, nơi chúng tôi sản xuất tự túc.


- À. Vậy là các anh không có giấy xuất tỉnh. Theo đúng lệnh của tỉnh, chúng tôi giữ chiếc xe này lại.


- Tôi phản đối! - An không giữ nổi bình tĩnh nữa - Đây là gạo sản xuất tự túc của nhà máy quốc doanh, đâu phải gạo buôn bán mà các anh bắt giữ.


- Khỏi dài dòng. - Người thanh niên vung khẩu AR15 lên - Tài xế! Quay đầu xe chạy về phía kia!


- Anh không có quyền như vậy! - An hét lên.


- Nè, đừng có dỡn với khẩu súng này!


An vẫy chiếc xe Honda ôm bảo chạy tới Ủy ban nhân dân tỉnh. Đến nơi, anh mới nhớ ra rằng hôm nay là chủ nhật. Đêm xuống, An và người lái xe ngồi trong buồng lái, không ai ngủ được. Toàn bộ số gạo trên xe đã bị người ta khuân xuống chất đống dưới mặt đất. Thế này là thế nào nhỉ? Nếu ngày mai xin được giấy xuất tỉnh, lại phải tốn tiền thuê khuân gạo lên xe. Nghĩ vậy, An ức quá mà ngủ không nổi.


Ở Sài Gòn, anh em công nhân trông ngóng xe gạo về từng ngày. Thịnh đã nhận được điện của An báo cáo chuyện xe gạo bị chặn giữ, An đang chờ xin giấy xuất tỉnh.


Mãi đến chiều ngày thứ hai, An mới từ Ủy ban nhân dân tỉnh trở ra. Tờ giấy cho phép xe gạo được ra khỏi tỉnh được trình đến trạm kiểm soát. Người thanh niên hống hách hôm qua, không thèm đọc tờ giấy, lại cất giọng hách dịch với An:


- Các anh là nhân viên nhà nước mà chẳng chịu chấp hành luật lệ gì hết. Khổ ai? Khổ tôi, khổ chúng tôi mà thôi! Lần sau nhớ đừng có tái phạm nữa nghe!


An cố dằn lòng, anh đi kêu người khuân vác gạo lên xe. Vừa thấy người ta vác gạo lên xe, người thanh niên hống hách lại xuất hiện:


- Ai cho anh khuân gạo lên xe? Tại sao anh dám tự tiện?


- Tôi nghĩ là đã có giấy xuất tỉnh rồi...


- À. Đó là giấy xuất tỉnh. Hiểu chưa? Còn có được phép qua trạm này hay không là ở tôi!


- Vậy bây giờ anh cho phép chứ? - An giận run lên.


- Anh khai trong giấy là chín tấn gạo. Nhưng thực ra số gạo nhiều hơn ít nhất là một tấn.


- Anh đếm bao rồi nhân lên à? Có phải bao nào cũng đủ trăm ký đâu?


- Tất nhiên! Tôi chỉ biết đếm bao!


- Vậy thì chịu thua anh thôi. Bây giờ anh muốn gì? Tôi thật không ngờ ở đây có sự lắt léo đến thế.


- Lẽ ra, tôi phải giữ lại của anh mười bao gạo. Nhưng nể tình các anh là công nhân, trạm chỉ giữ lại năm bao!


Bác tài xế kéo An ra một góc:


- Nè, cậu để tôi lo tay này cho.


- Bác tính sao?


- Đấm mõm cho cậu ta chút ít là xong mà!


An đi vòng qua phía bên kia xe cho bác tài dễ làm việc. Mười phút sau tờ giấy bạc năm chục đồng được nhét vào túi quần viên trạm trưởng, những bao gạo được khuân lên xe. Mãi đến lúc xe chạy, An mới phát hiện ra bao gạo nếp và mấy ký lô cá thu mà má Bảy gởi cho Thịnh bị mất.


Từ đó về tới thành phố, chiếc xe chở gạo còn phải qua mười trạm kiểm soát nữa. Bác tài xế lại phải cho xe chạy qua trạm bằng cái cách của mình.


(còn tiếp)


Nguồn: Giấy trắng. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh in lần đầu tháng 3-1985. Các nhà xuất bản Văn Học, NXB Hội Nhà văn tái bản nhiều lần. Đến năm 2014, đã in 14 lần.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.Chương 3
10.Chương 2
11.Chương 1
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »