tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20517788
Tiểu thuyết
25.07.2014
Triệu Xuân
Giấy trắng

ba


Điều may mắn đến với nhà máy Hy Vọng là được nhiều cá nhân, nhiều tập thể, nhiều địa phương nhiệt tình ủng hộ. Ngay cả việc kiếm một mảnh đất ở ngay nội thành để xây dựng xưởng làm bột giấy. Đây là chuyện mà nếu không có quan hệ cá nhân thì còn lâu mới giải quyết được. Đúng vậy. Nhờ mối quan hệ bạn bè thân thiết, Thịnh đã khai thác được những thế mạnh của người khác, của đơn vị khác, phục vụ cho sự nghiệp của nhà máy. Trong lĩnh vực này, vấn đề ở cả sự tin nhau, nể nhau, phục nhau.


Nhà máy in Hy Vọng xin được khu đất ngay sát xa lộ số Hai. Từ đây nối liền với vùng nguyên liệu ở miền Đông Nam Bộ và miền Tây Nam Bộ rất dễ dàng. Không ngờ, việc chọn lô đất ở khúc đường này lại có “tầm chiến lược” quan trọng đến thế.


Có điều mảnh đất hơi hẹp. Sau khi dựng lên một căn nhà tôn, nơi lắp đặt máy nghiền bột rộng một ngàn mét vuông, thì chỉ còn chừa lại được khoảng trống chưa đầy một ngàn năm trăm mét vuông để chứa nguyên liệu. Ở ngay sát nách xưởng bột giấy lại là bãi đất hoang của công ty phế liệu. Từ ngày số phế liệu được chuyển đi, bãi đất biến thành nơi cỏ mọc lút đầu. Nhưng dễ gì mà lấn qua đó được.


Mấy tuần nay, Thịnh đau đầu vì vấn đề bảo vệ ở xưởng bột giấy. Xưởng cách nhà máy gần chục cây số. Ban đêm, khi công nhân về nghỉ, chỉ còn lại tổ bảo vệ có ba người. Lợi dụng hoàn cảnh đó, kẻ gian đã chui vào tháo gỡ mất con heo dầu(1) ở chiếc xe vận tải độc nhất của nhà máy. Ăn cắp mà ăn cắp kiểu này thì đúng là tay tổ! Lấy thứ đáng giá nhất của chiếc xe. Vì cần phải có xe chở cỏ gấp nên Thịnh phải ký chi tiền mặt đi mua heo dầu ở chợ đen với giá cắt cổ mười ngàn đồng.


Vào buổi chiều đang ngồi lo tính chuyện bảo vệ tài sản ở xưởng bột giấy, Thịnh được Lệ Thy báo qua máy interphone:


- Thưa chú, có một chú tên là Trọng muốn gặp chú.


- Cháu mời chú ấy lên.


Nói rồi Thịnh thấy không yên tâm. Trọng nào nhỉ? Phải ông Trọng U Minh đã về hưu rồi chăng? Lập tức Thịnh đứng dậy, đi như chạy xuống lầu để đón khách. Quả như linh tính của anh, trước mặt Thịnh là ông Trọng, áo quần bộ đội, chân mang dép râu, tay cầm chiếc mũ cối đã sờn vải, bạc thếch.


- Kìa, phải Bảy đó, hả mày?


- Ồ! Anh Trọng!


Họ ôm nhau, lặng đi vài giây vì xúc động. Thịnh nắm tay dắt ông Trọng lên lầu. Sau cuộc viếng thăm bất ngờ đó, giám đốc Thịnh có được một người làm công tác bảo vệ lý tưởng nhất mà anh hằng ao ước.


Từ năm một ngàn chín trăm ba mươi lăm, anh thanh niên tên Trọng rời đồng đất Thái Bình chiêm khê mùa thối để đi phu cao su Nam Kỳ. Đến năm ba mươi chín, mãn hạn contrat(1) , có được vài chục đồng bạc vốn liếng, Trọng xin vào làm thợ ở hãng xà bông Trương Văn Bền. Tại đây, Trọng vừa học nghề làm xà bông, vừa học nghề y tá. Anh sống cuộc sống giản dị của một người thợ mà không lúc nào nguôi nhớ quê hương. Đến năm một ngàn chín trăm bốn mươi lăm, những người bạn thân nhất của Trọng đã dìu dắt anh tham gia Cách mạng. Sài Gòn cùng với Nam Bộ bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp. Trọng hăng hái ra bưng biền. Anh được cử phụ trách công tác đời sống của ban văn hóa thông tin, rồi sau đó là nhà máy in Trần Phú. Tại đây, trong rừng U Minh, Trọng được kết nạp vào Đảng. Suốt thời kỳ chiến tranh gian khổ 1946-1954, Trọng vững vàng trước mọi thử thách, làm tốt công tác đời sống cho cán bộ, công nhân nhà máy in Trần Phú. Anh có vợ và có hai con, một gái, một trai. Năm năm mươi tư, Trọng tập kết ra Bắc. Nhưng vợ anh - theo yêu cầu công tác - được giữ lại làm công tác phụ nữ ở Minh Hải. Để vợ con ở lại, Trọng lo lắng và rất buồn. Ngày chia tay vợ con cũng là ngày mà sau đó, suốt hai chục năm ròng, anh không nhận được tin tức gì của gia đình nữa.


Tập kết ra Bắc, Trọng làm công tác công đoàn. Với cương vị thư ký công đoàn nhà máy xà phòng Hà Nội suốt mười sáu năm liền, Trọng được tập thể bầu là chiến sĩ thi đua. Thời kỳ đó, đời sống công nhân của nhà máy xà phòng Hà Nội đạt mức cao nhất trong khu công nghiệp Cao Xà Lá(1) . Có thể nói, cả thời trai trẻ của Trọng, cả cuộc đời của Trọng dành để chăm chút miếng cơm tấm áo cho đồng đội. Nếu cộng cả một năm được bầu chiến sĩ thi đua ở rừng U Minh thì Trọng đã có mười bảy năm đạt danh hiệu này, xứng đáng Anh hùng lao động. Con người ấy có một tấm lòng vàng chỉ biết lo cho người khác, lo đến quên mình.


Mãi đến năm bảy mươi tư, hai chục năm sau ngày giã từ vợ con đi tập kết, con trai của anh mới liên lạc được với anh. Vợ anh vẫn chung thủy chờ anh cũng như trung thành với Cách mạng. Con trai anh là chiến sĩ Giải phóng. Con gái anh cùng với vợ anh hoạt động, bám trụ đất quê hương. Sài Gòn giải phóng, Trọng về Nam đoàn tụ với gia đình. Con gái anh đã lấy chồng, con trai anh là sĩ quan làm việc ở Sở Công an. Trọng đã có cháu nội và cháu ngoại. Con dâu anh là kỹ sư kinh tế. Gia tài của vợ chồng anh lúc này vẫn chỉ là chiếc ba lô, với mấy bộ quần áo bộ đội đã bạc màu.


Ông Trọng đến nhận chức tổ trưởng bảo vệ xưởng bột giấy với chiếc ba lô như thế. Ngay ngày đầu tiên, câu chuyện về người tổ trưởng bảo vệ do Thịnh kể lại đã làm cho nhiều công nhân xưởng bột giấy cảm động rơi nước mắt. Con người mà cả cuộc đời phục vụ Cách mạng, nay về hưu, gia tài chỉ có hai bàn tay trắng, khi bạn bè cần, lại hăng hái tham gia công việc. Chừng đó năm cống hiến phục vụ mà không hề kêu ca, không hề đòi hỏi, con người ấy nay lại nhận làm một người bảo vệ bình thường của một xưởng bột giấy mới thành lập. Rõ ràng có một tấm lòng vàng thì mới có được vẻ đẹp tuyệt vời như thế.


Cứ hai giờ đêm, đất trời lặng đi trong bầu không khí mát lành, ông Trọng thức dậy. Chiếc giường đóng bằng cây dầu chưa đánh vẹc ni, lên màu xỉn mốc cọt kẹt theo cử động của ông. Ông nằm nghiêng người, co chân phải lên và vặn mình kêu rắc rắc. Ông lặp lại như thế ở phía bên trái. Xong động tác thể dục tối cần thiết của một cơ thể sáu chục tuổi mà có tới hàng chục năm trải qua chiến tranh, sống trong rừng, xương cốt giờ đây đã rệu rã, ê ẩm những khi trái gió trở trời, là ông thức dậy. Thói quen này có từ khi nào ông cũng không nhớ nữa. Có lẽ từ thời giặc Pháp cho máy bay ném bom vào rừng U Minh, nhà máy in Trần Phú của ông phải sơ tán vào trong rừng sâu. Thời đó, để có lúa gạo cho công nhân ăn, ông Trọng phải lo phát rừng trồng lúa, lo đặt trúm, thả câu, giăng lưới bắt cá cho bữa ăn của anh em có chất tươi. Ông cũng không ngờ mình lại có nhiều nghề đến vậy. Buổi chiều cỡ năm giờ, ông mang trúm đi đặt, mồi bằng cám rang thơm phức. Hai giờ đêm ông lại cầm đèn bấm đi câu giăng. Đêm nào ông cũng mang về chí ít vài chục con cá và lươn đủ cỡ. Nhiều con lươn to bằng cái cánh tay ông. Rừng U Minh là một vựa cá tôm, mật ong và biết bao thứ khác nữa. Phải rồi, có lẽ từ hồi đó, ông giữ thói quen thức dậy từ hai giờ khuya. Ngày mới tập kết ra Bắc, ông được cử đi làm công tác chống đói ở Thanh Hóa. Năm ấy Thanh Hóa mất mùa. Vì nhường phần gạo của mình cho các cháu con gia đình mà ông nghỉ lại, đêm đêm ông thức dậy thấy bụng đói cồn cào. Sau đó, miền Bắc khôi phục đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, ông tình nguyện đi làm đường sắt. Đêm đêm ông thức dậy rảo bước ra công trường một lượt xem có kẻ nào chôm chỉa vật tư sắt thép xi măng của công trường hay không. Thời kỳ làm thư ký công đoàn ở nhà máy xà phòng Hà Nội cũng thế. Đêm đêm ông thức dậy vòng quanh khu vực nhà máy. Ông coi nhà máy như nhà của mình. Ông nhắc nhở anh em bảo vệ đừng có ngủ quên để kẻ gian không lẻn vào được.


Từ ngày về xưởng bột giấy, ông nhường ca trực ban ngày cho mấy cậu bảo vệ trẻ, ông trực ca đêm. Anh em trong tổ bảo vệ không chịu. Không ai nỡ để ông già sáu mươi gác đêm cho mình ngủ. Ờ thì cũng được đi. Nhưng đêm nào ông cũng thức dậy cữ hai giờ sáng, lấy đèn bấm rảo quanh xưởng. Ông không có được chiều cao, ông thuộc loại người nhỏ, thấp. Dáng của ông lủn củn nhưng nhanh nhẹn. Cầm chiếc mũ vải của bộ đội chụp lên mái tóc bạc, ông nhẹ nhàng bước đi. Ánh đèn pin loang loáng rọi vào từng khe từng hốc coi có động tĩnh gì không. Ông lặng lẽ làm công việc ấy hết đêm này sang đêm khác, đều đặn, cần mẫn, không cần ai biết tới. Vào giờ đó phiên trực nào cũng vắng người vì người gác đã ngủ lăn quay. Ông mỉm cười nhìn gương mặt trẻ của cậu bảo vệ bằng tuổi con ông đang ngủ vùi. Được, cứ ngủ ngon đi anh bạn. Có tôi đây đố thằng cha nào dám vô mà chôm chỉa được nữa.


Ông Trọng bước về phía để cỏ Mỹ. Sương đêm đọng lại trên đống cỏ khô. Nhiệt từ trong đống cỏ chất cao ngồn ngộn tỏa ra mùi cỏ hăng hăng, ngai ngái. Hơi bốc lên ngùn ngụt theo ánh đèn pin. Ngày mai, khi mặt trời thức dậy thì từng bó cỏ này sẽ được máy chặt xắt ra từng mẩu, từng mẩu như người ta xắt rau muống nấu cám cho heo ăn. Rồi từng mẩu cỏ đó sẽ được thu lại cho vào băng chuyền dẫn đến máy nghiền thành bột. Bột cỏ được ủ trong bể chứa cùng với vôi và hóa chất. Những trang giấy được ươm từ những bể chứa đó. Bột cỏ Mỹ sẽ được trộn cùng với bột gỗ thông, gỗ bạch đàn để xeo ra giấy trắng. Thật là kỳ diệu! Chắc hẳn người Mỹ khi reo rắc cỏ Mỹ xuống đất này không lường trước được, cái giống cây biểu hiện sự hoang vắng, làm tàn lụi sự sống ngay trong lòng đất, lại có thể biến thành những tờ giấy trắng phục vụ con người.


Ông Trọng đứng đó, giữa đêm khuya thanh vắng của Sài Gòn mà tai lại như vang lên tiếng máy xắt cỏ, nghiền bột chạy rào rào. Mắt ông như thấy bụi cỏ bay mù lên, những cậu, những cô công nhân mang khẩu trang, đầu tóc quần áo đầy bụi cỏ nhưng hăng say làm việc. Trở lại phòng mình, gian phòng nhỏ ngăn đôi phòng thường trực ở cổng chính, ông Trọng châm lửa, lặng lẽ ngồi hút thuốc. Giường bên, vợ ông cựa mình rồi ngủ tiếp. Nghĩ đến những cây cỏ Mỹ và những tờ giấy trắng, ông thấy lòng mình vui. Hai vợ chồng già, thay vì sống nhàn hạ bằng đồng lương hưu, lại tất bật với những công việc bộn bề của xưởng bột giấy. Ông nghĩ đến giám đốc Thịnh. Ông phục vụ nhà máy và cũng là phò giúp Thịnh nữa. Mong cho ý muốn của Thịnh thành đạt. Người có ham muốn làm việc, dám nghĩ tới, dám làm tới như Thịnh, cần phải được nhiều người phò giúp. Già cả như ông không làm tham mưu cho Thịnh được, thì làm anh gác cổng bảo vệ những gì anh em đổ công sức mồ hôi, trí tuệ tạo lập nên.


Đồng hồ chỉ ba giờ sáng. Chiếc đồng hồ báo thức ông mang từ Hà Nội vào, chạy  chính xác, vẫn tích tắc, tích tắc đều đặn trên bàn. Hút hết điếu thuốc, ông dập mẩu thuốc cho tắt hẳn trong cái gạt tàn rồi ngả lưng xuống giường nằm tiếp. Nằm vậy thôi chứ ông không bao giờ ngủ nướng được. Đã thành thói quen mất rồi, cho đến khi bài nhạc thể dục từ radio vang lên thì ông cũng dậy. Ông chạy một vòng quanh xưởng, hít thở không khí mát trong của một ngày mới.


*


*           *    


Người đầu tiên đến xưởng vào buổi sáng là Lực, quản đốc phân xưởng bột giấy. Vừa nghe tiếng nổ bành bạch từ xa của chiếc Môbilét đã quá tã, ông Trọng vội ra mở cổng. Cánh cửa mở ra thì chiếc xe cũng vừa tới. Lực dựng xe, nắm tay ông Trọng:


- Thế nào bố già. Còn con heo đó chớ?


- Chớ sao. Còn lão già này thì còn đủ mọi thứ ở xưởng. Có thánh cũng không xoáy đi được.


- Đừng có chủ quan, bố ơi. Tụi ăn cắp heo dầu là gớm ghê lắm đó. Nó rình người ta, nhè sơ hở một chút là nó đớp liền.


- Tôi thì không lo mất đồ, nhưng tôi lo thứ khác, chú Lực ạ. - Ông Trọng kêu Lực bằng chú, vì Lực thua ông tới hai chục tuổi.


- Lo thứ gì vậy?


- Cháy.


- Sao? Cháy?


- Ờ, chú không thấy đó sao? Nào, đi theo tôi!


Lực đi theo sau cái dáng thấp nhỏ của ông già. Đến bên đống cỏ Mỹ, ông Trọng nhìn Lực:


- Xắn cao tay áo lên, thọc tay vào!


Lực làm theo. Vừa lùa ngập đến khuỷu tay, Lực vội rút tay ra liền:


- Á à! Nóng như lò than hầm!


- Đó. Nắng lên, chỉ cần một mẩu thuốc lá là cái xưởng này ra tro!


- Chết thật. Phải xin gấp một số bình cứu hỏa mới được. Lu bu quá!


Hai người bước vào văn phòng uống trà. Bà Trọng xách chiếc bình thủy và đĩa đựng ấm, ly tách lên. Hương trà móc câu Thái Nguyên tỏa ra dễ chịu. Ông Trọng nhấp ngụm trà, nhìn Lực tủm tỉm cười.


- Cười gì thế, bố già?


- Râu ria tốt quá xá! Sao chưa lấy vợ cho rồi?


- Ôi chào! Vợ con! - Lực khoát tay - Mệt lắm!


- Nghe nói hồi còn làm báo, chú đắt đào lắm?


- Ai nói vậy? Ba Lộc phải không?


- Còn ai rành chú bằng chú Ba nữa! Chú ấy kể hồi chiến tranh phá hoại, Mỹ ném bom Hòn Gai, tòa soạn đi sơ tán đến một làng ven biển, chẳng có đêm nào chú Lực ở nhà. Nhiều cô hẹn hò lắm mà sao không cưới quách đi? Giờ có con lớn rồi không chừng.


- Ba Lộc là chúa xạo!


- Không có lửa sao có khói! Phải thế nào chú Ba mới nói chứ. Nhưng mà, ở đời, già kén kẹn hom. Có lẽ chú kén quá nên đắt đào mà vẫn ế vợ. Chỉ thấy râu là nhiều thôi. Ha ha ha...


Lực cười theo, không nói gì, lấy tay xoa xoa lên cằm đầy râu cứng và xoăn y như tóc anh. Mái tóc của Lực cứ xoăn tít như tóc của người lai Phi châu. Thực ra anh là người Móng Cái. Tính tình thẳng thắn, ưa cuộc sống phóng khoáng. Ngày Ba Lộc bỏ nghề báo sang làm kinh tế, Lộc rủ Lực cùng chuyển ngành. Hai anh em tuy không cùng tuổi, không cùng quê, mới ở với nhau có năm sáu năm trời tại vùng mỏ, nhưng thân nhau như ruột thịt. Thân thì thân, nhưng khi nói chuyện họ lại hay có ý kiến xung khắc nhau. Ba Lộc ưa Lực ở sự nhiệt tình, tận tụy với công việc. Lực mê Lộc ở chỗ tình nghĩa chí cốt với bạn bè. Lực là một người có năng lực, nhưng tác phong làm việc thì lại thiếu phương pháp khoa học. Mọi việc lẽ ra phải được giải quyết theo tuần tự lớp lang, đằng này Lực cứ xáo cả lên rồi chạy bở cả hơi tai muốn giải quyết ngay một lúc tất cả mọi chuyện. Thành thử câu nói cửa miệng của anh là “lu bu quá”. Bạn bè gặp anh, hỏi sao lâu nay không thấy đến chơi, anh đáp: lu bu quá. Thịnh hỏi anh làm xong danh sách thưởng năng suất tháng này chưa, anh đáp: lu bu quá! Vậy đó, nhưng được cái việc gì giao cho Lực cũng hoàn thành đến nơi đến chốn, không nề hà, không ngại khó ngại cực. Trong khi đó anh còn theo học hệ tại chức Đại học kinh tế nữa. Lực quyết tâm giành hai bằng đại học. Bạn bè tin cậy anh vì anh luôn luôn chia sớt với họ những lúc khó khăn. Gần đây, anh em công nhân đang chọc quản đốc phân xưởng có đào đẹp lắm. Lực chỉ sờ râu cười xòa. Đào kép gì. Cô phóng viên, cái cô Thúy Mai đã góp phần phát hiện ra cây cỏ Mỹ có thể làm bột giấy chớ ai. Hôm biết tin nhà máy khai thác cỏ Mỹ, Mai đã đến đây. Và người tiếp nữ phóng viên chính là Lực. Vốn là đồng nghiệp, Lực hiểu được Thúy Mai cần hỏi những gì, cần ghi chép gì, ngay cả việc chọn góc độ cho kiểu ảnh ghi lại phân xưởng bột giấy, Lực cũng tận tình chỉ cho Mai nữa. Vì thế anh em công nhân họ mới phao lên:


- Anh Lực mê nhà báo quá trời!


Dạo đó, Trọng chưa về nên ông chưa biết chuyện này. Còn Lực, khi ông Trọng hỏi sao chưa chịu lấy vợ, đột nhiên anh nghĩ tới Thúy Mai, nhớ tới mái tóc xìtôn đen nhánh, đôi mắt thông minh đầy sức hấp dẫn, sống mũi cao, và gương mặt thanh tú của cô. Lực thích cái cách phỏng vấn sắc sảo của Mai, cách tìm hiểu tình hình mà đặt người được hỏi vào thế có cái gì phải phun ra tất cả. Phải là một phóng viên có năng khiếu, có bản lĩnh, có nhiệt tình mới có được cách phỏng vấn như thế.


*


*           *      


Chiếc xe kéo theo rờ moóc chở cỏ về nhà máy. Một lái xe còn rất trẻ nhảy xuống, miệng oang oang:


- Anh Lực ơi! Anh Lực à! Anh Lực có nhà không?


- Gì mà nháo lên thế? - Tiếng ông Trọng trả lời.


- Dạ, chú cho cháu biết anh Lực ở đâu?


- Chú ấy vừa ở đây, chờ một lát.


- Không, có chuyện gấp lắm.


- Chuyện gì? - Ông Trọng nhìn cậu tài xế.


- Thì cứ cho cháu gặp anh Lực đã nào.


- Tôi đây! Chà lu bu quá! Có chuyện gì vậy?


- Báo cáo anh, đoàn xe chở cỏ bị chận giữ ở ngã tư xa lộ vì qua ngã tư mà không giảm tốc độ. Chỉ có xe của em ngon trớn dọt về đây. Giờ anh tính sao?


- Còn tính với tình gì nữa. Cậu dọt về đây là tụi ở lại bị kẹt rồi.


- Dạ, nhờ anh giúp cho, để tụi em quay vòng làm thêm chuyến nữa. Nghe nói anh quen nhiều cánh công an lắm mà!


- Được. Cứ yên chí, cho dỡ cỏ xuống đi. Nè, tắt thuốc lá đi kẻo nó mà cháy lên là chết cả lũ đấy.


Lực leo lên chiếc xe La Dalat. Mười lăm phút sau, anh tới đồn công an ngã tư xa lộ. Bằng sự đối thoại khéo léo và gói thuốc có cán, đoàn xe chở cỏ Mỹ được phép chuyển bánh.


 


bốn


Sau hai năm phát hành đồng bạc Ngân hàng ở các tỉnh phía Nam (song hành với giấy bạc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ở miền Bắc), đã đến lúc thống nhất tiền tệ trong cả nước. Đợt đổi tiền lần thứ hai tiến hành vào giai đoạn cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh được thực hiện một cách mạnh mẽ, dẫn tới những biến động lớn lao trên các mặt sản xuất, phân phối lưu thông, quản lý thị trường mà Nhà nước không lường trước được. Bọn đầu cơ buôn lậu, bọn phá hoại câu kết với nhau lợi dụng mọi sơ hở đẩy giá cả lên cao. Đời sống của cán bộ công nhân viên và giới lao động nghèo ngày càng khó khăn hơn. Giá vàng đang từ một ngàn hai trăm đồng một lượng lên một ngàn năm trăm đồng rồi hai ngàn đồng. Cùng với vàng là giá thịt heo, giá gạo, rau, mắm, cá... đồng loạt tăng lên. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn toàn thành phố giảm hẳn xuống so với năm bảy mươi sáu và năm bảy mươi bảy. Giá vật tư nguyên liệu tăng vùn vụt. Hàng loạt máy móc thiết bị hiện đại phải ngưng hoạt động vì không có nguyên liệu. Tiềm lực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của một thành phố lớn nhất nước, không được khai thác. Thế mạnh về quan hệ giao dịch với quốc tế và du lịch hầu như bị lãng quên. Trong cuộc họp toàn thể cán bộ công nhân viên chức nhà máy, giám đốc Thịnh đã nói nhiều đến những khó khăn mà mỗi người dân thành phố đang gặp phải, mỗi cơ quan, xí nghiệp đang phải đương đầu. Bằng giọng nói tha thiết, anh nói như tâm sự với người thân:


- Đứng trước những khó khăn chồng chất, chúng ta có thể nản lòng. Không ai trách chúng ta. Một khi chuyện cơm áo gạo tiền của mỗi gia đình chưa ổn định mà nói hãy lao động hết mình cho đất nước! Tưởng rằng như duy tâm. Đúng! Không ai trách chúng ta đâu. Chỉ có lương tâm chúng ta trách cứ chúng ta mà thôi. Ai trong chúng ta ở đây mà không có lòng tự hào vì mình là người Sài Gòn, là công dân của thành phố Hồ Chí Minh. Phải thắp sáng lên niềm tự hào đó. Các đồng chí biết đó, chúng ta sống và làm việc ở một thành phố có tiềm lực kinh tế rất lớn. Trên địa bàn thành phố và khu kỹ nghệ Biên Hòa, hàng năm có thể sản xuất ra hai trăm bốn chục triệu mét vải, bảy vạn tấn giấy, chín ngàn tấn cao su chế biến, bảy ngàn tấn sơn, một trăm bảy mươi triệu hộp sữa đặc, ba trăm ngàn tấn thức ăn gia súc, bốn vạn tấn bột giặt, chín triệu bao thuốc lá, một trăm sáu chục ngàn tấn đường trắng, hàng chục triệu lít rượu bia, công suất trữ lạnh hơn ba chục tấn mỗi ngày. Thành phố không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên với hai mươi lăm ngàn cây xanh các loại, gồm sáu chục công viên lớn nhỏ, mà còn rực rỡ vẻ đẹp của con người với hàng ngàn kỹ sư giỏi, chuyên viên kỹ thuật, thợ xây dựng, thợ cơ khí lành nghề, hàng ngàn thợ thủ công và nghệ nhân làm hàng xuất khẩu... Đó là những tinh tú của dân ta. Bên dòng sông Bến Nghé lịch sử này, cha ông chúng ta đã xây dựng lên thành phố sầm uất, dũng cảm ngoan cường chống giặc ngoại xâm. Ngày nay, chúng ta là người có trách nhiệm giữ cho thành phố có nhịp độ phát triển hàng năm, chứ không thể để nó sa sút đi. Những ai đã một lần chán nản hoài nghi, tính đến chuyện ra đi, hãy suy nghĩ lại. Hãy giữ cho ngọn lửa của tim mình cháy rực tình yêu thành phố. Phải có tình yêu, các bạn ạ. Phải có tình yêu...


Thịnh dừng lại đột ngột - dấu hiệu của sự xúc động ở anh. Giọng nói say sưa của anh cuốn hút mọi người, nhất là anh em công nhân trẻ. Họ đang chờ nghe nói tiếp thì anh dừng lại. Dừng lại ở đúng câu: Phải có tình yêu... Sự dừng lại ở đúng một cung bậc đặc biệt của tình cảm đã làm bật dậy trong lòng mỗi người những xốn xang, rung động khác lạ. Những thợ in già xưa nay ít nói và có lẽ chẳng bao giờ phát biểu trước đám đông, những kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật trước nay chỉ biết hành nghề theo lệnh, những công nhân trẻ mà tình yêu đang rực lửa trong tim... Tất thảy đều muốn nói lên một điều gì đó sau sự dừng lại đột ngột của giám đốc của họ. Xuất phát từ ý muốn khơi dậy trong mỗi con người tình cảm và ý thức trách nhiệm với dân tộc, với đất nước, đồng thời bằng chính sự xúc động của mình, Thịnh đã làm cho mọi người cùng xúc động. Lệ Thy ngồi lặng đi, má nóng bừng. Bất giác cô đưa hai bàn tay ôm lấy gương mặt, kín đáo xoa lên đôi má trắng hồng nóng bừng của mình dể giấu đi cảm xúc trong lòng. Cô tìm Hải bằng ánh mắt. Bắt gặp ánh mắt Hải cách đó vài hàng ghế cũng đang nhìn cô. Bốn mắt họ nhìn nhau... Cả phòng họp lặng đi vài phút rồi nổi lên những tiếng xì xào... Một cánh tay giơ lên. Giọng nói của linh mục Đạt:


- Thưa anh chị em! Chúng ta đang đứng trước những gian truân của mỗi nhà và của cả nhà máy. Lời nói của giám đốc vừa rồi khiến tôi nghĩ ngợi nhiều. Tôi chắc là anh chị em cũng vậy. Đúng là chỉ có lương tri chúng ta trách cứ chúng ta... Trong tuần qua, đã có thêm ba người nữa nộp đơn xin nghỉ việc để chạy ngoài kiếm sống... Thật đau lòng. Thưa anh chị em! Lúc này, đúng là phải có tình yêu... Không có tình yêu thì chúng ta sẽ không làm được việc gì dù nhỏ nhất... Tình yêu sẽ làm cho chúng ta bền tâm lại.


(còn tiếp)


Nguồn: Giấy trắng. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh in lần đầu tháng 3-1985. Các nhà xuất bản Văn Học, NXB Hội Nhà văn tái bản nhiều lần. Đến năm 2014, đã in 14 lần.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.Chương 3
10.Chương 2
11.Chương 1
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
xem thêm »