tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19701506
Những bài báo
16.07.2014
Nhiều tác giả
2 bài nên đọc về Tô Hoài

 Một nhà văn tầm thế giới


Thanh Thảo


Vâng, đó là nhà văn Tô Hoài. Ông vừa qua đời ngày 6/7/2014, hưởng thọ 94 tuổi. Cầm bút từ trước năm 20 tuổi, thành danh nhà văn từ năm 21 tuổi với tác phẩm bất hủ Dế Mèn phiêu lưu ký, suốt cuộc đời cầm bút sáng tác liên tục của Tô Hoài kéo dài tới 75 năm, và với những tác phẩm được viết lúc càng cao tuổi lại “ gừng càng già càng cay ”, Tô Hoài là nhà văn độc đáo hàng đầu trong văn học Việt Nam, cũng là nhà văn hạnh phúc nhất Việt Nam vì vẫn còn viết được những đoạn văn tươi mới lung linh khi đã ngoài 90 tuổi.


Đó là một nhà văn bẩm sinh, một người làm nghề suốt đời, chỉ trung thành với một nghề, và không thay đổi : nghề nhà văn, nghề viết. Trong cuộc đời rất dài của mình, Tô Hoài có những lúc phải làm “ thêm ” những việc khác, những “ nghề ” khác, như cán bộ cải cách ruộng đất, như tổ trưởng dân phố, như thường vụ Hội nhà văn Việt Nam… Nhưng Tô Hoài chỉ coi những “ nghề ” ấy phụ trợ cho nghề chính của mình là nghề viết. Nhưng nhờ đi vào cuộc sống từ nhiều tầng nấc khác nhau, nhiều lối ngả khác nhau như thế, nên văn Tô Hoài vừa thực như sờ thấy được, vừa đậm đặc chất đời sống, lại vừa mơ hồ như một thế giới riêng. Đó là nhà văn gần dân tới mức khó gần hơn, mà cũng có thể hiểu tầng lớp quan chức từ trong ruột hiểu ra. Tôi vẫn nhớ nhân vật Huỳnh Cự (tên thật) mà Tô Hoài mô tả trong tiểu thuyết Ba người khác – cuốn tiểu thuyết luận đề hiếm hoi của Tô Hoài – một nhà văn được xếp vào dòng “ nhà văn phong tục ”. Khi Tô Hoài tham gia cải cách ruộng đất như một cán bộ cơ sở, nằm trong dân, nhằm “ bắt rễ xâu chuỗi ”, ông đã sống một thời gian với anh cán bộ Huỳnh Cự, và đã viết về anh cán bộ kiểu “ mao-ít ” này một cách không thể sinh động hơn. Huỳnh Cự chuyên “ đao to búa lớn ”, chuyên lên gân lập trường, “ quyết liệt ” tới mức cứ ngỡ như anh này là điển hình cho những cán bộ “ đỏ toàn thân ”. Ngờ đâu, vào cuối truyện, qua thông báo của Tô Hoài, ta mới biết sau cải cách ruộng đất, sau khi được tin tưởng và thăng cấp chức, Huỳnh Cự lên đường trở về Nam chiến đấu. Và anh ta đã nhanh chóng… chiêu hồi. May cho tôi là khi đọc đoạn cuối tiểu thuyết Ba người khác của Tô Hoài, tôi đã biết chuyện Huỳnh Cự chiêu hồi từ trước đó rất lâu. Số là hồi đi trên Trường Sơn, tôi đã rất nhiều lần được “ vinh dự ” nghe giọng nói của trung tá Bắc Việt Huỳnh Cự phát trên loa của trực thăng hay C123 Mỹ và Sài Gòn, kêu gọi với giọng quyết liệt “ những cán binh cộng sản Bắc Việt ” hãy mau mau chiêu hồi, như… Huỳnh Cự đây !


Luận đề của Tô Hoài thật kín đáo, nhưng người đọc vẫn có thể nhận ra. Nói chung, Tô Hoài là người hồn nhiên nhưng kín đáo, nhiều lúc ngỡ như ông trung dung. Nhưng Tô Hoài vẫn lặng lẽ có quan điểm của mình, chính kiến của mình. Có điều, ông chỉ thể hiện một cách khách quan như một nhà văn xuôi, chứ không lên giọng “ chém gió ”. Tô Hoài có nổi tiếng không ? Quá nổi tiếng ! “ Tin ông qua đời chỉ trong vài giờ đồng hồ đã thu hút hơn nửa triệu người xem trên trang Facebook của BBC Tiếng Việt, với hàng chục ngàn người bấm nút Likes, hàng ngàn người tham gia bình luận và hơn một ngàn người bấm nút Shares ” (theo BBC tiếng Việt). Nhưng Tô Hoài gần như không quan tâm lắm đến sự nổi tiếng ấy. Ông sống bình dị, như một thường dân, và tôi có cảm giác ông thích nói chuyện với một anh xe ôm biết chuyện hơn là với một nhà văn hay một quan chức “ tháp ngà ”. Với Tô Hoài, người đối thoại với ông quan trọng là có biết chuyện, có “ hay chuyện ” không.


Ông lắng nghe rất chăm chú, và ghi nhận rất lặng lẽ. Ông có thể chơi thân với một em bé mắc một chứng tâm thần nhẹ, và em bé đã trở thành bạn của ông, cho mãi nhiều năm sau Tô Hoài, khi viết thư cho tôi, vẫn hỏi thăm về em bé ấy, khi em đã là một người đàn ông hơn 40 tuổi. Do tôi cũng quen với gia đình em, họ lại là đồng hương với tôi, Tô Hoài đã chủ động viết thư cho tôi để hỏi thăm về đời sống của em bé có vấn đề về sức khỏe tâm thần ấy. Chỉ một cử chỉ ấy thôi, Tô Hoài đã chứng tỏ ông là một nhà văn chân chính, một người luôn đặt con người là nhân vật trung tâm cho tác phẩm của mình, và số phận con người là điều nhà văn quan tâm đầu tiên và còn lại sau cùng. Không phải số lượng tác phẩm làm nên nhà văn lớn hay nhỏ, nhưng số lượng tác phẩm được viết một cách nghiêm túc lại minh chứng cho khả năng lao động, cảm hứng lao động, và kết quả lao động của một nhà văn. Trong cuộc đời sáng tác dài 75 năm của mình, Tô Hoài đã viết hàng trăm tác phẩm. Không phải tất cả những tác phẩm ấy đều là kiệt tác, nhưng trong số đó đã có những kiệt tác. Một người chưa tới 20 tuổi đã viết được Dế Mèn phiêu lưu ký thì phải gọi người đó là một thiên tài. Thử nghĩ xem, năm 20 tuổi chúng ta là gì ? Vì sao một người “ nhà quê ”, không được học nhiều, phải sớm vào đời kiếm sống như Tô Hoài lại có tác phẩm đầu tay được cả thế giới trẻ con, và không chỉ trẻ con, đón nhận như thế ? Lâu nay chúng ta có vẻ quá khiêm tốn khi nói về những nhà văn của nước mình. Hôm qua, sau khi nghe tin nhà văn Tô Hoài qua đời, tôi đã gọi điện chia sẻ với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – phó Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam – một người có khả năng và cơ hội giao lưu nhiều với văn học thế giới đương đại, tôi đã hỏi Thiều một câu : “ Thiều đã ra thế giới nhiều, Thiều thấy một nhà văn như Tô Hoài so với văn học thế giới đương đại thì thế nào ? ” Nhà thơ Nguyễn Quáng Thiều đã trả lời tôi không do dự : “ Em thấy bác Tô Hoài là một nhà văn tầm thế giới.” Tôi nói : “ Đúng như thế ! Chúng ta hoàn toàn có thể tự hào vì văn học Việt Nam có một nhà văn như Tô Hoài. Không kể Dế Mèn phiêu lưu ký, những truyện về Tây Bắc, về người Mông của Tô Hoài, trong đó có truyện Vợ chồng A Phủ, có thể xếp vào “ Tủ sách văn học thế giới thế kỷ Hai mươi ” một cách đường hoàng.”


Nói như nhà văn Nguyên Ngọc, Tô Hoài là nhà văn người Việt đầu tiên đã “ đụng phải ” người Mông, và ông đã mê ngay dân tộc kỳ lạ có lịch sử 5 000 năm thăng trầm lưu lạc này. Có hai nhà văn người Việt đã viết về người Mông hay nhất, cho tới nay, là Tô Hoài và Nguyên Ngọc. Họ đã có những năm tháng “ lưu lạc ” vào thế giới người và “ thế giới đá ” của người Mông, và đúng là họ đã “ bị ” cả người Mông lẫn cao nguyên đá “ hút hồn ”. Tô Hoài là một nhà văn hạnh phúc, dù cuối đời ông phải nằm bệnh viện nhiều tháng do đau bệnh và già yếu. Nhưng Tô Hoài minh mẫn đến cuối đời, sắc sảo đến cuối đời. Và cũng nhân hậu đến cuối đời. Một số người khi đọc một vài tác phẩm dạng “ nhớ đâu kể đấy ” của Tô Hoài, đã cho ông là “ ác ” khi kể lại những chuyện “ nhạy cảm ”. Riêng tôi nghĩ khác. Sứ mệnh của nhà văn là viết về đời sống, về con người, và không tránh né kể cả những sự thật không dễ chịu. Tô Hoài chỉ là nhớ thật, và viết thật lại những chuyện đã xảy ra thôi. Những chuyện mà ông chứng kiến chứ không phải “ nghe kể lại ”. Trước Tết Giáp Ngọ, tôi đã đến nhà Tô Hoài trong một ngõ nhỏ ở Hà Nội, lúc ông phải đi nằm bệnh viện. Tôi để ý lúc hỏi thăm những người hàng xóm buôn gánh bưng về nhà Tô Hoài, tôi đã nhận được sự yêu quý, thân thiện và ẩn cả niềm tự hào của họ khi nói về “ nhà văn của ngõ mình ”. Đúng Tô Hoài là nhà văn của một xóm nghèo ven đô, của một ngõ nhỏ nội đô với tất cả sự bình dị chân thành. Và ông, quan trọng hơn, là đã và sẽ còn ra thế giới như một nhà văn tầm cỡ. Một nhà văn của “ ngõ nhỏ Hà Nội ” ra tới những “ xa lộ văn chương thế giới ” một cách đường hoàng. Tại sao không ?


Nguồn:diendan.org


 Tô Hoài - Người "hiểu hết sự đời"


Lại Nguyên Ân - Mi Ly


Tô Hoài không chỉ có “Dế mèn phiêu lưu ký”, không chỉ có những câu chuyện đồng thoại viết cho thiếu nhi. Nổi tiếng bởi “Dế Mèn…” là một vinh dự, cũng là một thiệt thòi của ông! Trong giới văn chương, người ta càng biết rõ điều đó.


P.V − Sinh thời, nhà văn Tô Hoài rất gắn bó với đất Nghĩa Đô (trước kia là làng Trung Nha, cũng gọi là làng Nghè, trước thuộc Hà Đông, nay thuộc Hà Nội), nơi ông sinh ra. Theo nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán, những năm cuối đời, Tô Hoài sống ở ngôi nhà tập thể của người con gái đầu ở phường Nghĩa Đô còn nhiều hơn sống ở ngôi nhà của vợ chồng ông ở trong phố Hà Nội. Theo ông, đất Nghĩa Đô có ý nghĩa như thế nào trong cuộc đời Tô Hoài?


- L.N.Â. − Quê hương có ý nghĩa đối với các nhà văn Việt Nam như thế nào thì đất Nghĩa Đô có ý nghĩa với Tô Hoài như thế. Riêng Tô Hoài, ông gắn bó với quê mẹ Nghĩa Đô, hơn hẳn so với quê bố ở huyện Thanh Oai (Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội). Bố ông từ quê Thanh Oai ra Hà Nội lập nghiệp, gặp gỡ và kết hôn với mẹ ông, sinh ra Tô Hoài tại nhà ông bà ngoại ở Nghĩa Đô. Tô Hoài sinh ra và lớn lên tại đây. Vì thế, trong cả cuộc đời, chỉ trừ giai đoạn đi kháng chiến từ 1947 đến 1954, còn lại, cuộc sống của Tô Hoài hầu như không rời xa đất Nghĩa Đô. Nhà riêng ông ở phố Đoàn Nhữ Hài, gần hồ Thiền Quang, nhưng thường xuyên ông đi về quê ngoại Nghĩa Đô.  


 P.V. − Nghĩa Đô trước đây là đất “vùng ven”. Người ta nói những trang viết của Tô Hoài vẽ nên một Hà Nội của người dân quê ngoại thành, bình dân, trái với một Hà Nội “sang hơn” trong văn Nguyễn Tuân. Hà Nội của Tô Hoài có gì đặc biệt?


- L.N.Â. − Theo tôi, trong các trang  văn Tô Hoài, các nhà xã hội học sẽ tìm được dữ liệu về đời sống sinh hoạt của cư dân ngoại thành và nội thành Hà Nội nhiều hơn trong văn Nguyễn Tuân. Trong văn Tô Hoài, diện mạo đời sống ấy rất đa dạng, đa tạp, đậm đặc, nhiều sắc thái và nhiều chi tiết, bao quát nhiều đổi thay từ những năm 1940 đến những năm 2000.


Cái sang trong văn Nguyễn Tuân là cái sang của giới văn nghệ sĩ, có thể chơi sang chứ không giàu sang. Còn về cái giàu sang thật của tầng lớp thượng lưu trong xã hội Việt Nam qua các thời đại thì chưa nhà văn Việt Nam hiện đại nào nào viết được một cái gì ngang cỡ Thượng Kinh ký sự của Lê Hữu Trác khi xưa đâu.


Tô Hoài, từ năm 1972, đã có tập truyện nhan đề “Người ven thành”. Ông viết về cả dân phố lẫn dân quê, nhưng viết về người ven thành nhiều hơn. Trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình, Tô Hoài còn viết về nhiều đề tài khác nữa, người Tây Bắc, người Việt Bắc, v.v… Nhưng chính người ven thành mới là đề tài ông có hiểu biết sâu sắc nhất và cũng được ông viết nhiều nhất.


Một lần trò chuyện với tôi, Tô Hoài bảo: Ven nội là vùng nông thôn nửa quê nửa phố, một nông thôn khác so với những vùng nông thôn không ở gần thành phố lớn. Cư dân ven thành gồm cả những người làm nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi… lẫn những người hàng ngày lên thành phố làm viên chức, làm thuê, làm các nghề dịch vụ như lái xe, nấu ăn, bán hàng, kế toán, làm thợ các nhà máy, xí nghiệp... Sự pha trộn đó tạo ra một nếp sống khác so với cư dân nông nghiệp thuần túy ở vùng sâu vùng xa.


Tô Hoài nhận xét: Nhiều tục lệ, thậm chí hủ tục, được lưu giữ ở những vùng ven thành này lâu hơn nhiều so với những vùng nông thôn xa xôi khác. Vì người dân các vùng khác chỉ làm nghề nông, ít cơ hội kiếm tiền mặt bằng nghề khác. Trong khi đó, một người phụ nữ ven nội, không cần có học vấn gì, sức khỏe bình thường thì chỉ với một gánh rau vào phố là đã có thể kiếm tiền, tự nuôi sống. Mức sống khá hơn so với vùng thuần nông khiến họ duy trì được những phong tục lâu đời của làng quê.


 P.V. − Hồi ký “Cát bụi chân ai” rồi “Chiều chiều” khi ra mắt từng gây sóng gió vì nó kể thật, thẳng thắn về các nhà văn, những bí mật của họ, cả tính xấu của họ, từ góc nhìn của Tô Hoài. Cả chuyện với Xuân Diệu mà bây giờ ai cũng biết. Ai cũng bảo Tô Hoài dám làm điều không ai dám làm.


- L.N.Â. − Để hiểu rõ việc này, cần nhắc lại một nhận xét của giới nhà văn về Tô Hoài. Suốt thời bao cấp, tức là từ những năm 1950 đến những năm 1980, người ta thấy ông sống và viết một cách rất “phải đạo”. Nên nhớ, các nhân viên từng làm việc tại 51 Trần Hưng Đạo (Hội Liên hiệp VHNTVN) và tại 65 Nguyễn Du (Hội nhà văn VN) những năm 1950-1980 thể nào cũng từng nghe câu vè về cách đi “công tác” của hai ông “đảng đoàn”: Đảng đoàn là đảng đoàn Hoài/ Có đi công tác nước ngoài thì đi/ Đảng đoàn là đảng đoàn Thi/ Có đi công tác là đi nước ngoài! Lại cũng đừng quên, khi xuất hiện bài báo về “văn học phải đạo” của Hoàng Ngọc Hiến thì người có bài phê phán đầu tiên in trên báo Văn Nghệ chính là Tô Hoài! Vào những năm đầu cao trào đổi mới, người ta thấy Tô Hoài có thái độ lưỡng lự khá rõ rệt, không ai biết ông đứng về phe tán thành hay phản đối đổi mới. Nhưng đến thời điểm diễn ra đại hội nhà văn thứ tư  (1989) − kỳ đại hội mà giới hội viên tự chia đôi thành hai phái: ủng hộ đổi mới và chống đổi mới, −Tô Hoài chỉ dự họp trù bị rồi lặng lẽ lên đường đi Ai Cập dự một sự kiện của Hội nhà văn Á-Phi, ngấm ngầm nhường ghế mình được bầu trong Đoàn chủ tịch đại hội cho một người thuộc phe chống đổi mới. Hành động đó bị một số nhà văn lên tiếng vạch ra ngay tại đại hội. Sau thời điểm đó khá nhiều người trong giới nhà văn trở nên gần như chán ghét Tô Hoài!


Tình trạng đó kéo dài đến tận khi ông công bố hồi ký “Cát bụi chân ai” (1992), cuốn sách đã gây chuyển biến đáng kể trong tình cảm của số đông nhà văn, về Tô Hoài.


Đúng là cuốn hồi ký đã gây một ít sóng trong làng văn. Có thể nói cuốn hồi ký ấy cũng đánh dấu một sự chuyển đổi của chính Tô Hoài, từ lề thói sáng tác cũ của thời bao cấp sang một xu hướng sáng tác mới, gắn với sự chủ động sáng tạo của người viết. “Cát bụi chân ai” và sau đó là hồi ký “Chiều chiều” (1999) là một mạch hồi ức cho thấy diện mạo thực của thân phận nhà văn [...], làm rõ những ảo tưởng về nghiệp viết, những nhượng bộ, những tự cắt xén để tồn tại của họ... Từ những năm 1950 đến những năm 1980, trong ba chục năm ấy, đời sống sinh hoạt của giới văn nghệ sĩ miền Bắc ra sao − thì hai cuốn hồi ký của Tô Hoài đã ghi lại được khá nhiều nét, và khá chân thực.


Tất nhiên, nói đỉnh cao sáng tác của ông thời này thì phải kể tiểu thuyết “Ba người khác” (viết 1993, in 2006), tuy là sáng tác hư cấu nhưng vẫn nằm trong mạch văn hai cuốn hồi ký kể trên, một cuốn truyện cho thấy chất quái kiệt của tác giả, cuốn truyện mà đến bây giờ còn có thể bị coi là “nhạy cảm” trong mắt một số giới nào đó…


 P.V. − Theo ghi chép của nhà phê bình Vương Trí Nhàn, năm 1994, Tô Hoài từng phát biểu trong hội nghị những người viết văn trẻ, rằng ông “vẫn cho rằng chưa viết được gì hơn “Dế mèn phiêu lưu ký”!


-  L.N.Â. − Cần phải ghi chú thế này về thành công của “Dế mèn phiêu lưu ký”: Thành công đó có được là đặt trong khuôn khổ sự liên kết văn hóa giữa các nước XHCN và giữa các nước thuộc thế giới thứ ba, thông qua hoạt động của Hội Nhà văn Á Phi. Các tác giả, tác phẩm Việt Nam được giới thiệu ra quốc tế đều là do sự đề cử của ban chấp hành Hội nhà văn VN và được các nhà lãnh đạo VN phê duyệt. Tất nhiên là đi qua cửa ấy còn có nhiều tác phẩm tác giả khác nữa, nhưng Dế mèn may mắn được dịch, được trẻ em Nga, Liên Xô và Đông Âu yêu thích. Do thế cuộc du ngoạn của chú Dế mèn mới được mở ra rộng lớn. Cũng những năm ấy, có dịch giả Nga rất muốn dịch Số Đỏ, nhưngphía Việt Nam không đồng ý, họ đành chịu; đến những năm 1990 thì dịch giả ấy đã quá già, không muốn trở lại thực hiện công việc yêu thích khi xưa! Chàng Xuân Tóc Đỏ đành vượt Thái Bình Dương sang Mỹ, vào đầu thế kỷ XXI!


Bản thân Tô Hoài, ngay từ những năm 1940 đã có những tác phẩm rất chắc chắn, không phải truyện thiếu nhi mà là viết theo xu hướng tả chân xã hội, “hiện thực phê phán”, giống như các bạn văn cùng thời như Nam Cao, Nguyên Hồng, Kim Lân, Bùi Hiển... Họ có điểm chung là viết văn với ý hướng khảo tả con người và xã hội, ngôn ngữ văn chương thì họ sử dụng nhiều phương ngữ miền Bắc và rất có ý thức mô tả lời ăn tiếng nói của người miền Bắc, − điều mà trước đó Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng… đã làm. Tôi hình dung đây là xu hướng văn xuôi miêu tả phong tục, một trong những mạch văn chủ đạo của những cây bút viết văn xuôi ở miền Bắc, từ những năm 1930 trở đi.


 P.V. − Nhưng những tác phẩm “chắc chắn” đó lại không nổi tiếng bằng “Dế mèn phiêu lưu ký”. Nói vậy, lại nhớ nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến từng có câu đại ý: “Dế mèn phiêu lưu ký” quá nổi tiếng là một thiệt thòi của Tô Hoài. Thực ra, “Giăng thề” của Tô Hoài là một kiệt tác”. Ông nghĩ sao?


- Hoàng Ngọc Hiến đã nhìn ra một nghịch lý thú vị trong đời sống văn chương. Nên nhớ là đời sống văn chương chứa nhiều nghịch lý lắm. Giá trị tác phẩm là một chuyện, nhưng mức độ nổi tiếng, sự thành công của tác phẩm trong công chúng lại là một chuyện, có thể hoàn toàn khác.


 P.V. − “Tô Hoài hiểu hết sự đời”, điều này có không ít người trong giới văn chương khẳng định. Điều đó đúng không, và phải hiểu “sự đời” ở đây là như thế nào?


-  L.N.Â. − Tô Hoài từng vào đời, vào nghề, sống và viết trong một môi trường mà nhà văn viết văn để bán sản phẩm, tự nuôi thân bằng ngòi bút. Thời ấy nghề văn là một nghề trong các nghề ở giữa xã hội, thế thôi. Khi ấy ông nhìn làng văn, thấy nhiều tay cự phách, nhiều bậc đàn anh, nhiều kẻ hơn đời, và tự xem mình là tay bút ở “chiếu dưới”. Nhưng rồi xã hội thay đổi, ông lại gặp cái thời mà nhà văn được tập hợp thành “đội ngũ”, trong đó Tô Hoài trở thành quan chức của làng văn nghệ; mà thời này quan chức văn nghệ cũng đồng thời là quan chức nhà nước! Thời thế đã đưa ông lên ngôi vị “chiếu trên”. Ngạch bậc của ông ngang mức thứ trưởng, vào bệnh viện Hữu Nghị là ông nằm ở khu A, cán bộ cao cấp... Có lúc ông còn là ông nghị (đại biểu quốc hội). Bản thân ông đi rất nhiều, xúc tiếp rất nhiều, trong và ngoài nước. Những vị trí khác nhau, những xúc tiếp khác nhau như thế cho ông nhiều điều kiện để quan sát và trải nghiệm, tự rút lấy những kết luận cần thiết cho mọi ứng xử ở đời.


Tôi vẫn nghĩ rằng Tô Hoài có thể đóng nhiều vai, đã từng vào những vai thậm chí chống chọi nhau, xung khắc nhau, nhưng luôn luôn ông vẫn đóng được “tròn vai”. Quan trọng là đối với ông, vai chính vẫn là nhà văn. Mọi công việc, mọi đi đứng, xúc tiếp, thú vị hay nhiêu khê, đối với ông, đều đem lại sự quan sát, sự hiểu biết. Ngồi ở bất cứ đâu ông cũng có thể viết được. Trong các cuộc họp quốc hội hay ngồi chủ trì hội nghị, có thể ông vẫn giở sổ ra viết tiếp tác phẩm đang viết dở. Ông có thể làm rất nhiều thứ, nhiều loại việc, ít hoặc nhiều, riêng việc viết văn thì  lúc nào, ở đâu ông cũng làm.


 P.V. − Theo ông, Tô Hoài ở đâu trong nền văn chương Việt Nam, so sánh với các đồng nghiệp cùng thời và thời trước?


- L.N.Â. −  Từ những năm 1990 trở đi, trong đời sống văn học tại Việt Nam, Tô Hoài trở thành một gương mặt lớn, gương mặt sáng sủa nhất trong số những nhà văn ở tuổi ông còn sót lại. Ông vẫn có được sự kính trọng và ngưỡng mộ của những nhà văn lớp sau; và đến những năm này thì đó là điều không hề dễ dàng.


 P.V. − Cảm nhận cá nhân của ông về con người Tô Hoài?


- L.N.Â. − Tô Hoài là con người rất lọc lõi, kết quả của một cuộc đời từng trải qua rất nhiều môi trường, ông vẫn tồn tại được và vẫn còn lại là mình.


 P.V. − Cảm ơn ông vì cuộc trò chuyện.


8/7/2014


Mi Ly thực hiện

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Biển Đông lại sắp…dậy sóng!? - Nguyễn Hồng Lam 22.06.2017
Nhà báo Nguyễn Công Khế nói về những 'điều cấm kỵ' - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
Nghề báo lắm hiểm nguy - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
‘IS đã chính thức thừa nhận thất bại’ - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thủ tướng Hun Sen đi bộ qua biên giới, thăm lại 'đường cứu nước' - Nhiều tác giả 21.06.2017
Kiếp sau tôi vẫn chọn nghề báo - Trần Thị Sánh 21.06.2017
Muôn lần bất diệt con người! - Lưu Trọng Văn 19.06.2017
Tôi là dân Quận 3 - Sơn Trà - Võ Kim Ngân 19.06.2017
Làm báo thuở thanh xuân - Trịnh Bích Ngân 19.06.2017
Từ Trường thi Gia Định đến Nhà văn hóa Thanh niên - Hồ Tường 18.06.2017
xem thêm »