tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19686534
29.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế cuộc đời và sự nghiệp (17)

TIỄN HOÀNG VĂN TÚ ĐI NHẬN CHỨC THAM HIỆP Ở NGHỆ AN


Chớ cho khí khái kém Hà Đông(1)


Chức phó cần người cứng tợ ông


Ngay thẳng ngày nay xem vẫn hiếm


Hoan châu nổi tiếng xứ chơi ngông(2)


Hoàn Phù chưa hết bao dư đảng(3)


Bột Hải làm sao gấp lập công?(4)


Đủ thấy tiền đồ gay cấn đấy!


Chúc ông công tác được hanh thông


LỜI DẪN


Thuở bé, tôi đã nghe người lớn đồn đãi đất Gia Định sĩ phong hào khí. Đến khi làm việc ở kinh sư, tôi quen ông Bùi Đình, người Gia Định, là người có khí phách, lại có tài. Rồi sau này quen với ông Trương Huýnh Xuyên và ông Hoàng Văn Tú, đều là người quê Gia Định, bạn đồng niên khoa Kỷ Mão với tôi. Ông Trương, người nho nhã, giỏi thi họa, phong thái thật đàng hoàng. Còn ông Hoàng, nghe nói lúc nhỏ đã tỏ ra khí khái hơn người, dám cãi lại người trên, làm được những việc mà nhiều người khác không dám làm. Cái sĩ khí kỳ lạ ấy đều thấy riêng ở người Gia Định. Ông Hoàng làm chức Thiêm sự ở Bộ Lại, nay được bổ làm chức Tham hiệp Nghệ An trấn, bảo tôi làm thơ tiễn ông khi ông lên đường đi nhậm chức. Tôi là kẻ kém cỏi, may đậu Hương tuyển, đến kinh sư làm việc đã được sáu năm rồi. Giữa chúng bạn đồng lứa tài giỏi, như chim uyên chim phượng bay liệng trên trời cao, thì tôi còn chấp chới nơi lùm bụi(1), chậm lụt vô danh, đâu dám mở miệng luận bàn chuyện sĩ phu trong thiên hạ. Riêng với ông Hoàng, là người mà tôi khâm phục, nên cũng bạo gan theo luồng gió mà cất lên vậy,(2) huống chi ông và tôi còn là chỗ quen biết nhau. Song mấy lời của kẻ quê mùa nầy, chẳng đáng cho các bậc cao nhân để mắt đến. Ông Bùi, ông Trương thấy có đúng vậy không nào!


 


VỊNH CHIM OANH


Mình vàng, đầu biếc đẹp làm sao


Oanh đáng là vua chốn núi cao


Uyển chuyển hót vui như tấu nhạc


Lượn lờ đôi cánh dáng duyên sao!


Oanh vào thi phẩm Bạch Cư Dị(1)


Oanh đến hồ xuân Nhung sứ quân(2)


Tựa cửa ngồi chơi chiều rỗi việc


Tiếng kêu tìm bạn phải không nào?


 


TIỄN CHÁU BÙI HỮU NGHỊ VỀ QUÊ (cháu gọi bằng cậu)


Gió thu lạnh lẽo suốt đêm qua


Buồn bã nay đưa cháu lại nhà


Ngàn dặm xa quê, thân phận cậu


Trăm năm cuộc sống, kiếp người ta


Vườn xưa mộ mới, cô em họ


Quán trọ kinh kỳ, anh xót xa


Chớ nói năng chi khi tiễn biệt


Đau lòng đứng lặng giữa chiều xa.


 


TIỄN ÔNG NGUYỄN TÌNH PHONG ĐI NHẬM CHỨC THAM HIỆP NINH BÌNH


Vừa xong đảng giặc dân khôi phục


Đê vỡ càng gây khổ mấy lần


Cửu bệ nhìn xa, luôn tưởng đến


Một vùng cai quản, giỏi an dân


Những gì đã cũ không nên nhắc


Công tác chăm lo lại rất cần


Trân trọng chúc ông khi đến đó


Mọi bề thuận lợi việc canh tân.


 


TIỄN HOÀNG VĂN ĐẢN ĐI SỨ NHÀ THANH


Hai tháng nằm chờ chốn ải quan


Yên Đài nghi vệ mới thênh thang(1)


Sân chầu rộn rịp vua quan tiễn


Cảnh vật nôn nao đón sứ thần


Ngàn dặm cố công thân khảo sát


Một mình gắng sức, trí cân phân(2)


Nước ta từ thuở riêng bờ cõi


Văn vật y quan hoàn chỉnh dần.


 


 


 


TIỄN ÔNG TRƯƠNG BẢO CHI ĐI SỨ NHÀ THANH


Nho nhã như ông đang sức xuân


Sứ trình cừu mã cứ phăng phăng


Thơ Đường sành sỏi ba trăm tựa(1)


Mưa nắng xông pha đủ chín ngàn(2)


Nhân vật đông vầy xem mãn nhãn


Núi sông danh thắng, vịnh thả giàn


Nước ta từ thuở xưng văn hiến


Nông Nại từng lưu tiếng thế gian(3)


 


TIỄN ÔNG DOÃN VĂN XUÂN ĐI NHẬM CHỨC THAM HIỆP CAO BẰNG


Bình sinh nào biết nịnh xu gì,


Tư cách như ông đáng phát huy


Thái học tám năm cùng giảng dạy


Biên cương một cõi, chỉ ông đi


Vờn trông đất bắc nhiều danh thắng


Than thở trời nam vắng cố tri


Ruổi ngựa thành cao khi ngoảnh lại


Nhớ ông, ông nhớ, nhớ thương chi?


 


TRUNG THU XÚC CẢM


Tình nhà, nghiã nước nặng bàn cân


Bao nỗi dày vò cực tấm thân


Phát triển tay nghề không có khiếu


Làm anh viên chức tạm xoay vần


Chăm chăm hưu trí liền sao tiện


Ngay ngáy Trung thu gặp bạn thân


Chửa báo ơn xong, ngày sắp hết


Mỗi lần Tết đến, dạ bâng khuâng


HỌA NGUYÊN VẬN BÀI “HẠ DẠ THƯ HOÀI” CỦA CHỈ THIỆN CHỦ NHÂN (Hoàng thái tử, sau là vua Thiệu Trị)


Sáu năm gần gũi kể là lâu


Xướng họa thường nên hiểu ý sâu


Qua lại thủy chung tình mật thiết


Thương nhau lầm lỡ trách chi đâu


Tấc thành cảm kích ngưng thành lệ


Lời dạy còn ghi đểgối đầu


Trịnh trọng mấy lời xin ý kiến


Trên đời quí nhất chỗ thương nhau




 


 


 


XEM TRĂNG CÙNG CHỈ THIỆN CHỦ NHÂN


Sương tạnh mây đùn khói tỏa nhanh


Núi sông liền giải cảnh thanh thanh


Cùng nhau một tối, trăng thu sáng


Sâu lắng ngàn năm, một tấc thành


Thiết lập thi đàn ôn cố sự


Sửa sang tiệc rượu hướng dân thanh


Hằng Nga như hiểu lòng nhân thế


Soi tỏ trời đêm ánh diệu lành


 


NGẪU VỊNH


Chỉ mong thủ phận với an thường


Thế sự sao bày chuyện nhiễu nhương!


Mỹ ngọc còn treo chờ giá đắc


Hoa lan chẳng lộ vẫn bền hương


Thơ dù cổ điệu nhiều canh cải


Tài dẫu cao xa vẫn nhún nhường


Chỉ mỗi tấm tình không đổi được


Đêm qua trăng gợi nhớ quê hương


 


NGẪU VỊNH (tiếp)


Thu về càng nặng nỗi buồn thương


Lên gác trông vời dạ vấn vương


Lá ngậm hơi sương cùng rụng hết


Trăng đem hoa quế tỏa mùi hương


Mưa bay cảnh vật mờ trong gió


Khí tạnh bên trời ló ánh dương


Cảm mối tri âm tình rất nặng


Đâu là thân phận khách tha hương


 


TRUNG THU


Gió thu lay động nỗi u sầu


Rỉ rả côn trùng nghe thấm sâu


Đúng lúc trăng tròn trời đất rộng


Là khi kinh khuyết khách thân đau


Nhớ người trăm mối thêm chồng chất


Xử thế xu thời chẳng sức đâu


Hoa cúc tỏa thơm bày trước mắt


Cùng ta bền bỉ bạn từ lâu.




 


 


 


TỪ BIỆT TẬP THIỆN ĐƯỜNG


Chín năm giảng dạy nghĩa tình sâu


Nay bổ đi làm, dám trái đâu


Lưu luyến, nên buồn khi giã biệt


Nghẹn ngào, đâu thể nói nên câu


Mệnh vua trĩu nặng vai thần tử


Ơn nước cao dày thân dãi dầu


Nguyện ý thánh hiền đem thực hiện


Trước lo sau hưởng có quên đâu(1)


 


VINH TẶNG BÀ MẸ ÔNG TỐN PHỦ HÀ TÔNG QUYỀN (thân mẫu ông Tốn Phủ từ Bắc Kỳ vào, được vua triệu đến thăm hỏi, ban thưởng trọng hậu. ai cũng cho là vinh dự, đều làm thơ tặng, tôi cũng có hai bài)


*Bài 1.


Gần vua lo việc hóa thâm tri


Tao ngộ như ông được mấy khi


Mẹ được phỉ nguyền, vui sướng nhất


Đồng liêu mơ ước ấy vinh huy


Sáng ra cầm hốt công lầu thúy(1)


Tối lại bên người lộng thải y(2)


Đức Khổng có câu thơ chúc tụng


Tôi trung con hiếu mãi kiên trì.


 


*Bài 2


Tuổi trẻ tài cao nức tiếng đồn


Thi Đình một thuở nổi danh thơm


Cửu trùng yêu mến riêng ưu đãi(1)


Ngàn dặm xa xôi họp mẹ con


Làm phó cho vua, trai chí thỏa


Được gần thân mẫu, sướng thân rồi


Hôm qua thăm cụ, thương mình quá


Cây muốn lặng mà gió chẳng thôi(2)


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. Nhóm biên soạn: NGUYỄN VĂN CHỪNG, DƯƠNG MINH CHÍNH, LÊ VĂN CÔNG, LÊ SƠN - NGUYỄN VĂN THANH. NXB Văn học. 1-2009.







(1) Hà Đông: tích xưa chỉ người cứng cỏi có chí khí




(2) Hoan châu: tức Nghệ An ngày nay




(3) Hoàn Phù: tích xưa chỉ nơi lắm trộm cướp




(4) Bột Hải: tích xưa chỉ nơi đánh thắng giặc biển.




(1) Lời nói khiêm, lấy ý từ thiên Tiêu Dao Du trong sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử




(2) Nói khiêm, cũng lấy tích Tiêu Dao Du, ý nói nhờ gió mới bay lên được




(1) Bạch Cư Dị: nhà thơ nổi tiếng thời nhà Đường, có những bài thơ nhắc đến chim oanh oanh.




(2) Nhung sứ quân: tức Nhung Dục thời nhà Đường, đỗ Tiến sĩ, làm chức Thứ sử, người cứng cỏi, lại yêu thiên nhiên, xây hồ trong vườn tạo cảnh đẹp, thích cùng bạn bè nghe tiếng chim hót. Chức trưởng một vùng, thời nhà Đường đều gọi là sứ quân.




(1) Sứ đoàn đến Lạng Sơn, gởi giấy cho tỉnh Quảng Tây, nằm lại chờ, bên Quảng Tây giấy báo lên Bắc Kinh, thời gian khoảng 2 tháng, khi nhận được phúc đáp, sứ đoàn mới đàng hoàng nghi vệ cờ xe như đi hội Yên Đài để vào đất Trung Quốc, tới đâu thì được địa phương tiếp đón. Yên Đài là nơi cầu hiền thời Yên Chiêu vương




(2) Đi sứ ngày xưa mất cả năm, nên cũng là dịp sứ đoàn tham gia các loại lễ hội nơi nước lớn, nhân đó còn có nhiệm vụ khảo sát phong tục, kinh tế, xã hội trên đường đi và đường về. Sứ đoàn còn phải hoạt động ngoại giao, ăn nói đối đáp với vua quan nước người ta, làm sao giữ được tình hòa hiếu giữa hai nước và thể diện nước mình.




(1) Ba trăm tựa: tức sách “Đường thi tam bách thủ” bao gồm những bài thơ Đường tiêu biểu. Người đi sứ nào cũng phải sành, vì sách nầy thường sử dụng trong xướng họa ngoại giao với vua quan và người Trung Quốc thời bấy giờ




(2) Chín ngàn: Chín ngàn dặm từ nước ta đến kinh đô Tàu mà sứ phải đi từ Việt Nam đến Bắc kinh




(3) Nông Nại: tức xứ Đồng Nai, tức vùng đất Nam Bộ ngày nay.




(1) Phạm Trọng Yêm: một trung thần thời nhà Tống, trong bài phú Nhạc Dương Lâu ký có câu nổi tiếng: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc vi lạc”.(Lo trước cái lo của dân, vui sau cái vui của dân).




(1) Cầm hốt: Quan triều cầm nha hốt (cái hốt bằng ngà voi) đi làm, để ghi chép công việc cần bàn. Lầu thúy là chỗ vua làm việc, chỉ có một ít cận thần mới được vào đó làm việc thường xuyên với vua.




(2) Lộng thải y: Mặc áo sặc sỡ diễn tuồng làm vui cha mẹ. Tích Lão Lai tử trong sách “Nhị Thập Tứ Hiếu”




(1) Cửu trùng: tức là nhà vua




(2) Tích xưa, nói về lòng con thương nhớ cha mẹ, muốn được phụng dưỡng cha mẹ, mà cha mẹ không còn. “Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn nuôi mà cha mẹ đã qua đời”.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
Nói có sách (4) - Vũ Bằng 06.06.2017
Người Tây bái phục cách chửi nhau của người Việt! - Nguyễn Công Tiễu 06.06.2017
Nói có sách (3) - Vũ Bằng 06.06.2017
xem thêm »