tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21070009
06.07.2014
Triệu Xuân
Hoa Kỳ - “Tân thế giới” (kỳ 1)

Mùa Xuân năm 2000, tôi được mời đi Hoa Kỳ, chuyến đầu tiên, khi tôi đang làm Phó trưởng Cơ quan đại diện báo Đầu tư – Vietnam Investment Review - Được mời du khảo Mỹ trong 3 tháng, nhưng do công việc ở nhà, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư chỉ cho đi 1 tháng. Trong chuyến du khảo một tháng này, tôi đã may mắn được đi hầu khắp những tiểu bang và thành phố lớn của nước Mỹ. Về nước, tôi đã viết nhiều ký sự, bài báo về Hoa Kỳ, in trên Sài Gòn Giải phóng, Văn nghệ, Tuổi trẻ; sau đó in trong tác phẩm Lấp lánh tình đời, 630 trang, Tuyển tập truyện và ký của Triệu Xuân, NXB Văn học, 2007. Nhân ngày Yuly 4, Quốc khánh Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, tôi xin post lại thiên Ký sự Hoa Kỳ - "Tân thế giới".




Triệu Xuân với Tháp bút chì- Đài tưởng niệm Tổng thống G. Washington; biểu tượng của Washington D.C. Hàng năm, cuối tháng Ba, đầu tháng Tư, hoa anh đào nở rực rỡ quanh hồ Potomac.


Một mình trên đất Mỹ, tôi tha thẩn đi trên cảng biển của thành phố San Francisco - ngày trước ông cha ta đọc theo âm Hán Việt là Cựu Kim Sơn - mà lòng cứ nghĩ về ông Bùi Viện, một nhà Nho yêu nước thương nòi, muốn canh tân đất nước. 127 năm trước, ông một mình ra đi mang theo sứ mệnh của triều đình Tự Đức muốn bang giao với Hoa Kỳ, nhờ Mỹ trợ lực để chống Pháp. Bùi Viện đi thuyền buồm sang Hồng Kông, rồi đến Nhật Bản và từ cảng Yokohama, ông đáp tàu đi San Francisco. Không biết bàn chân ông đã đi trên những nẻo đường nào của thành phố bên bờ Thái Bình Dương này? Nhưng tôi chắc chắn rằng ông đã từng một mình đi dạo trên cảng, trên vịnh San Francisco để suy tư trước khi rời Nam Mỹ lên miền Đông Bắc để tới thủ đô Hoa Kỳ xin gặp Tổng thống Mỹ. Sau gần một năm vận động, Bùi Viện đã được Tổng thống Ulysses S. Grant tiếp, và hội đàm (Grant là vị Tổng thống thứ mười tám của Mỹ, nhậm chức khi bốn mươi sáu tuổi, làm tổng thống hai nhiệm kỳ từ 1869 đến 1877, sinh ngày 27-4-1822, mất ngày 23-7-1885, thọ sáu mươi ba tuổi). Lúc này Mỹ cũng muốn có mặt ở Đông Nam Á, nhưng vì trong tay Bùi Viện không có Quốc thư nên đại sự không thành! Đến năm 1875, lần thứ hai Mỹ du, Bùi Viện đã có Quốc thư nhưng thời cơ đã tuột khỏi tầm tay rồi: Nước Mỹ chưa đủ điều kiện, hoặc là không thể đưa quân ra nước ngoài vào thời điểm đó. Thời cơ bang giao với Mỹ đã lỡ, không biết đó là cơ may hay là tai họa của Việt Nam? Đêm mùa xuân ở trên cầu Kim Môn lộng gió, thành phố Cựu Kim Sơn rực rỡ ánh điện muôn màu, tôi nghĩ về ông Bùi Viện và, không hiểu vì gió biển lạnh hay vì cớ gì mà lòng tôi se sắt…


 


Tôi bay từ Tân Sơn Nhất sau ba giờ bay tới Đài Bắc (Đài Loan), ngồi chờ sáu giờ đồng hồ chuyển lên máy bay lớn hơn rồi bay một lèo qua Mỹ theo đường ven biển Thái Bình Dương của châu Á lên Alasca, lại dọc theo bờ Thái Bình Dương của nước Mỹ để đáp xuống San Francisco, đúng cái thành phố mà nhà Nho Bùi Viện đã dừng chân. Tổng cộng tôi đã mất hai mươi tiếng đồng hồ để bay tới Mỹ!



Tôi đặt chân xuống sân bay quốc tế San Francisco, miền Tây Nam Hoa Kỳ vào chiều thứ bảy lúc 16 giờ 15 phút theo giờ địa phương ngày 18 tháng 3 năm 2000, tức 7 giờ 15 phút ngày chủ nhật theo giờ Việt Nam. Sau khi nhận hành lý, tôi làm thủ tục nhập cảnh không đầy hai phút. Nhân viên phụ trách là một người da đen, cầm hộ chiếu, lật đúng trang cần thiết, đưa vào máy quét rồi nhìn vào mặt tôi, nhìn lại trên màn hình computer. Thế là xong! Anh ta nở nụ cười thật tươi với hàm răng rất trắng và nói: “Nước Mỹ đón chào ông!”.


Tôi treo áo veston, cà vạt… vào tủ áo, mặc bộ đồ giản dị như hàng triệu người Mỹ khác: quần kaki, áo thun, khoác bên ngoài chiếc áo len mỏng, thay đôi giày da bằng đôi giày thể thao và đi ra đường, bắt đầu chuyến hành trình để “tìm hiểu bản chất của xã hội Mỹ”. Tôi còn nhớ gần bốn chục năm về trước, sau vụ ám sát một chính khách ở Mỹ, trên trang nhất một tờ báo lớn ở ta, có in tranh châm biếm với câu lục bát: “Mỹ là một nước văn minh. Giết người như chuột, tội tình gì đâu!”. Xem phim Mỹ, có khá nhiều phim về tội phạm, toàn giết chóc, hiếp dâm, băng đảng thanh toán nhau, bắt cóc tống tiền…. Khiếp quá! Chẳng lẽ một đất nước được coi là “Tân thế giới”, thế giới của Tự do, có tượng Nữ thần Tự do, một quốc gia tự hào là có Tự do - Bình đẳng - Bác ái mà xã hội lại đồi bại như vậy ư?


Tổng lãnh sự Mỹ ở thành phố Hồ Chí Minh khi phỏng vấn để cấp visa, chỉ hỏi tôi đúng một câu: “Ông là nhà văn được mời đến Mỹ, đi một mình, ông có mục đích gì ở Mỹ?”. Tôi trả lời: “Tôi muốn hiểu được bản chất của xã hội Mỹ!”. Trong suốt hơn một tháng trời, bằng máy bay, xe hơi, xe buýt, tàu hỏa, tàu điện nổi, tàu điện ngầm (ở Mỹ gọi là subway), du thuyền và đi bộ, tôi đã đi từ Nam lên Bắc, từ Đông sang Tây, ở lại chín tiểu bang, hai mươi thành phố lớn, hòa vào dòng người cuồn cuộn trên các nẻo đường Hoa Kỳ để quan sát, hỏi, nghe, chiêm ngưỡng và suy ngẫm.


Khi tôi rời nước Mỹ thì người ta đang tiến hành kiểm kê dân số toàn Liên bang. Theo cuộc kiểm tra dân số năm 1992 thì Mỹ có 253 triệu dân. Số liệu dự báo trước cuộc kiểm kê dân số năm nay là trên 260 triệu; số dân chính thức sẽ công bố vào cuối tháng 6 tới. Với trên 260 triệu dân, 50 tiểu bang, Hoa Kỳ là một thế giới hoàn toàn khác với những gì tôi đã được đọc, được nghe, được xem qua phim ảnh!


Một vị Tổng thống Hoa Kỳ, ông John F. Kennedy đã từng nói: “Nước Mỹ là một quốc gia của dân nhập cư”. Đúng vậy, ở bất cứ nơi nào trên đất Mỹ ta cũng nhận ra điều này: Người dân bản xứ, tức là con cháu những người Indians rất ít. Người Mỹ hiện đại là con cháu của những người nhập cư (có một phần mười dân Mỹ sinh ở nước ngoài!). Tôi chọn cho mình tiêu điểm của chuyến Mỹ du là tìm hiểu xã hội Mỹ, người dân Mỹ. Họ sống và làm việc ra sao? Họ có gì phải lo lắng? Họ có được Tự do - Bình đẳng - Bác ái thật sự hay không?


Phần 1: Thung lũng Hoa vàng - miền đất lành của người lao động lương thiện


Thành phố San Francisco bên bờ Thái Bình Dương là thành phố đẹp của thế giới. Vịnh San Francisco, tiết trời đầu xuân, trời và biển xanh ngắt, cánh hải âu trắng bạc. Mỗi ngày có hàng trăm ngàn người đủ mọi sắc tộc, màu da đến chiêm ngưỡng cầu Golden Gate. Cây cầu cáp treo này người Pháp xây dựng đã lâu lắm rồi, vậy mà trong trận động đất năm 1999, cây cầu mới, hiện đại hơn thì bị sập, còn Golden Gate không hề hấn gì!


Trong chuyến tàu lướt trên vịnh thăm cầu, tôi gặp Catherine Le, một thanh nữ gốc châu Á rất xinh đẹp. Cô sinh năm 1969, định cư tại Mỹ từ 1995 nhờ chị ruột bảo lãnh. Cô lên xe hoa năm 1996, hiện có một con trai ba tuổi. Hai vợ chồng làm việc trong hãng điện tử, mà chị cô là một trong những giám đốc điều hành. Mức lương của vợ chồng cô hiện tại là mười đôla một giờ. Hai ngày cuối tuần, nếu làm thêm giờ thì mỗi giờ được tính gấp gấp rưỡi đến hai lần (mức lương thấp nhất tại đây là năm đôla rưỡi một giờ). Hai vợ chồng Catherine có tổng thu nhập bình quân 4.500 đôla một tháng; trừ các loại thuế và bảo hiểm, tiền thuê nhà, tiền ăn hàng ngày, tiền trả góp xe, tiền điện, điện thoại, tiền nước, tiền hơi đốt… còn 2.000 đôla. Hai vợ chồng vừa đi làm, vừa học thêm đại học. Họ đang học năm thứ hai đại học. Nếu có bằng cử nhân, họ sẽ hưởng lương cơ bản 1.000 đô một tuần chứ không phải 400 đô như hiện nay!


Thành phố San Jose là thủ phủ của Thung lũng Hoa vàng - tức Silicon Valley - có một trường đại học (University) và hai trường Đại học Cộng đồng (College Community, khác với University). Những người vừa đi làm vừa học đại học thường học tại các trường đại học cộng đồng. Tôi đã đến thăm cả hai trường College ở San Jose. Một trong hai trường mang tên Evergreen Community College. Mỗi trường hơn chục ngàn sinh viên đủ mọi màu da trên khắp thế giới. Người học tại đại học cộng đồng được hãng khuyến khích đi học, đến kỳ thi cử cho nghỉ làm vẫn hưởng lương. Người đi học còn được tiền phụ cấp và nếu làm thêm việc thiện nguyện, làm việc trong trường (School job) thì mỗi khóa học có thể kiếm thêm 1.000 – 1.500 đôla.


Một gia đình công nhân Mỹ ăn uống có tốn kém không? Không! Tiền ăn thấp hơn nhiều so với các khoản chi khác. So với thu nhập thì giá ăn uống ở Mỹ vào loại rẻ nhất, rẻ hơn nhiều so với ở Pháp, ở Australia. Catherine mời tôi ăn bữa cơm gia đình vào cuối tuần. Những món chính gồm tôm hùm hấp gừng, cá hồi ăn sống với mù tạt, hào nướng, thịt bò bíptết, cánh gà chiên bơ, chân giò heo nấu măng, nấm đông cô… Cánh gà 2,8 đôla một pound (gần nửa ký) trong khi phần còn lại của thịt con gà chỉ 85 xu (cent) một pound. Trứng gà thì rẻ như cho. Thịt gà Mỹ trên đất Mỹ ăn thấy ngon, gần được như gà ta, không nhạt và bở như thịt gà công nghiệp mà ta quen gọi là gà Mỹ! Riêng rau muống, rau mồng tơi về mùa đông khá mắc: rau muống ba đô một pound, rau thơm còn mắc hơn. Mùa hè, rau muống rẻ, chỉ một đô rưỡi một pound. Tại đây có đủ loại rau, quả, củ, tương, chao, mẻ, mắm tôm, nước mắm Phú Quốc…, hầu hết nhập từ Thái Lan. Catherine kể: “Cả nhà ba người ăn thoải mái, uống sữa như uống nước, mỗi tháng hết khoảng 600 đô”. Ở đây không ai phải lo đến chuyện ăn. Trong siêu thị, món gì cũng tính thuế, đánh vào người mua, nhưng thức ăn, thực phẩm là không thuế! Đồ uống rất rẻ: nước cam, nước ngọt, sữa tươi, có hàng trăm loại. Một chai bia Heineken, nếu mua cả lố về nhà uống chỉ 1,1 đôla. Uống một chai Heineken sản xuất tại Mỹ, thơm hơn, đậm đà hơn và “phê” bằng uống ba chai sản xuất tại quận 12 thành phố Hồ Chí Minh! Có gần một trăm loại bia, nước ngọt bày bán trong các siêu thị. Rượu Hennessy loại XO giá 99 đôla một chai chưa tính thuế; đắt hơn nhiều so với mua tại Việt Nam, nhưng chắc chắn không phải lo rượu giả! Người lao động không bao giờ phải lo cái ăn, gặp nhau không bao giờ hỏi Bác đã ăn cơm chưa? mà hỏi: Giá cổ phiếu của Microsoft đã giảm 14%, còn đang giảm tiếp; cổ phiếu của Oracle thì đang lên, bác có mua thêm, hay bán ra không? Hoặc: Cuối tuần này gia đình anh đi chơi ở đâu?! Catherine nói: “Chỉ cần lương thiện, chăm chỉ làm ăn là tạo dựng được cuộc sống gia đình đầy đủ, hạnh phúc. Cơ hội cho người lao động lương thiện lập nghiệp rất nhiều. Cuộc sống không bấp bênh, không có gì phải lo lắng. Sự lo lắng, nếu có là lo sao cho con mình học giỏi, mặc sao cho đẹp và có nhà riêng, đổi xe hơi BMW đời mới, mong được đi du lịch khắp thế giới!…”.


Có những khoản tiền phải chi với giá cao hơn giá ăn uống nhiều, chẳng hạn tiền gửi trẻ. Gửi một đứa trẻ từ sơ sinh đến năm tuổi với giá từ 300-700 đôla một tháng, tùy theo nơi gửi nhận nhiều hay ít trẻ! Hai đứa con học ở tiểu học tư thục một tháng hết 1.000 đôla: học nguyên ngày, ăn hai bữa, trong trường có khu vui chơi và tiện nghi học tập hoàn hảo! Nhờ có ông bà ngoại ở gần nên Catherine không phải chi khoản tiền gửi trẻ cho cậu con trai ba tuổi. Catherine khoe: Mỗi tháng, gia đình cô tích lũy được tối thiểu 1.500-2.000 đô. Đến tháng 5 này, vợ chồng cô sẽ mua một xe Toyota đời mới, thay cho chiếc xe hơi cũ!


Hôm đến nhà Catherine, tôi gặp chị ruột của cô, tên là Terry Le, một trong những gương mặt thành đạt của giới trẻ Mỹ! Đó là một người thông minh, nhạy cảm và bản lĩnh! Thu nhập của Terry Le (ở Mỹ người ta kiêng hỏi về chuyện này, tôi biết được là nhờ hỏi về mức thuế cô đóng) trừ các khoản thuế còn 6.000-7.000 đôla một tháng. Terry Le sinh năm 1962, định cư tại Mỹ từ 1979. Năm 1984, cô tốt nghiệp loại xuất sắc Đại học California (University of California), ngành tin học, chuyên về phần mềm. Ngay từ khi đang học năm cuối cùng cô đã được một hãng điện tử trong Thung lũng Hoa vàng mời đến làm việc sau khi ra trường. Nhận bằng cử nhân (Bachelor), cô có việc làm ngay, với thu nhập 55.000 đôla một năm!


Ở Mỹ, có việc làm nghĩa là có tất cả, trong cùng một tuần lễ! Terry Le lên xe hoa. Hai người quen nhau bốn năm, hẹn nhau học xong đại học mới cưới. Quà cưới của chồng tặng vợ là một chiếc xe Toyota đã chạy hơn 5.000 dặm, giá xe mua lại rất rẻ: chỉ 1.000 đôla. Trước đây họ ở nhà thuê, mỗi tháng 500 đôla, nay có việc làm, không phải ở nhà thuê nữa. Họ mua một căn nhà bốn phòng ngủ với giá lúc mua là 200.000 đôla. Nhà có bãi cỏ rộng 200 mét vuông và sân chơi trẻ con rộng 450 mét vuông. Khi tôi đến thăm thì căn nhà này có giá gấp đôi rồi! Mua nhà trả góp hàng tháng, trả trong vòng hai mươi năm thì hết! Thế nhưng, vợ chồng cô đã trả dứt căn nhà này trong tám năm! Trang trí nội thất, tiện nghi sinh hoạt trong nhà từ đồ điện gia dụng, điện tử đến dụng cụ làm bếp…. đều gọi đến trong cùng một ngày. Tất cả đều có thể trả góp!


Sức trẻ, tài cao, vợ chồng Terry Le chăm chỉ làm thêm giờ, có ngày làm liên tục mười bảy tiếng. Họ gặp may mắn, được thăng tiến liên tục, nhờ thế tích lũy rất nhanh! Năm 1994, kỷ niệm mười năm ngày cưới, vợ chồng Terry Le mua thêm căn nhà thứ hai, riêng diện tích bãi cỏ vườn cây rộng gần 1.000 mét vuông. Vợ chồng cô có hai con, con lớn học lớp sáu, con út học lớp một. Đại gia đình của cô hiện có hơn sáu mươi người gồm cha mẹ vợ, anh chị em bên vợ, anh chị em bên chồng và các con, đều sinh sống tại thành phố San Jose. Đại gia đình này khiến những gia đình Mỹ da trắng phải nể phục về sự đoàn kết thương yêu đùm bọc nhau!


Terry Le hiện làm Giám đốc Điều hành một building (mỗi building là một nhà máy rộng khoảng 15.000 mét vuông) trong 26 building của hãng Sanmina tại Silicon Valley. Cô thường phải đi công tác ở nước ngoài. Sanmina có nhiều chi nhánh ở nước ngoài. Đây chỉ là một hãng bậc trung, thành lập năm 1992, năm 1993 ra thị trường chứng khoán New York; lợi nhuận năm 1999 của Sanmina hơn 1,5 tỷ đôla.


Tôi đã tới Hãng Sanmina. Tại đây chuyên sản xuất các linh kiện: bảng, mê, mạch, chi tiết của máy computer và các loại thiết bị điện tử khác. Trong tổng số gần mười ngàn công nhân, người gốc châu Á khá đông. Đội ngũ kỹ thuật viên thì giỏi nhất và đông nhất là người gốc Ấn Độ. Đồng phục của nhân viên là áo choàng trắng, từ giày đến bao tay đều cách điện. Tôi được tự do thăm quan, hỏi han! Có bốn cặp vợ chồng là người nhà của Terry Le cùng làm việc trong hãng này. Phần lớn công nhân đi làm bằng xe hơi riêng. Chỉ có một số rất ít công nhân đi làm bằng xe park - giống như tàu hỏa nhưng chạy bằng điện.


Sao lại gọi là xe park? Từ năm 1954, trường đại học Stanford (ở Palo Alto - San Francisco), một trong năm trường đại học danh tiếng nhất của Mỹ, đã cho thuê dài hạn Công viên Nghiên cứu Khoa học rộng gần 3.250 hécta của trường để thu hút các nhà đầu tư đến xây dựng khu công nghệ cao. Công ty Hewlett Packard là doanh nghiệp đầu tiên lập nghiệp tại Công viên Nghiên cứu của Stanford. Tốc độ thu hút đầu tư tại đây nhanh đến chóng mặt, nhất là từ năm 1980 đến nay. Người ta sôi sục, đổ xô đến Thung lũng Hoa vàng tìm cơ hội làm ăn có phần còn hơn cả thế kỷ 19 khi người ta đổ xô về miền Viễn Tây Hoa Kỳ để tìm vàng! Từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Silicon Valley trở thành khu công nghệ cao, gương mặt của nền Kinh tế Tri thức, phát triển nhất ở Mỹ, và là khu công nghệ hiện đại, phát triển nhất thế giới. Công viên (park) của Stanford trở thành danh từ chung chỉ khu công nghệ điện tử. Xe công cộng chuyên chở công nhân chạy tới khu công nghệ cao này quen gọi là xe park!


Từ năm 1980 trở về trước, đoạn đường từ thành phố San Francisco về San Jose (khoảng 90 phút xe hơi, chạy với tốc độ bình quân 75 dặm một giờ, tương đương 120 km một giờ) phần lớn còn là đất nông nghiệp, vào mùa xuân rặt một loài hoa dại màu vàng bao phủ; vì thế mới gọi là Thung lũng Hoa vàng. Vậy mà nay hàng trăm ngàn doanh nghiệp đã phủ kín thung lũng này! Cho đến khi tôi tới thăm Silicon Valley, các doanh nghiệp không chỉ tọa lạc trong Công viên Nghiên cứu của Đại học Stanford mà đã bao trùm lên cả vùng Thung lũng Hoa vàng có diện tích tự nhiên rộng gần tám trăm cây số vuông thuộc quận Santa Clara, miền bắc tiểu bang California.


San Jose là một thành phố có lịch sử, có nhiều công trình kiến trúc theo lối Pháp, rất đẹp, là thủ phủ của Thung lũng Hoa vàng. Cư dân làm việc trong thung lũng điện tử sinh sống trong những khu đô thị mới xây dựng trên những đồi núi bao quanh thung lũng. Từ trên đỉnh đồi cao nhìn toàn cảnh thành phố thật tuyệt vời: nhà xây từng lớp từng lớp cao dần theo triền đồi. Diện tích xây dựng chỉ bằng một phần tư diện tích cây xanh thiên nhiên. Các công trình công cộng được quy hoạch rất khoa học và mang tính mỹ thuật cao. Ngược với ở Việt Nam, tại đây, nhà càng ở trên đồi cao, càng xa trung tâm thành phố San Jose (khu downtown) thì càng đắt tiền! Phần lớn nhà được xây như biệt thự, ít nhà cao tầng; nhà xây bằng vật liệu nhẹ để phòng động đất. Cách đánh số nhà khác với Việt Nam: cách bốn số đánh một số. Thí dụ: Biệt thự tôi ở mang số 3582 thì căn kế tiếp là số 3586. Tuy nhà làm bằng vật liệu nhẹ nhưng rất chắc chắn, bền vững. Giá nhà đất không ngừng tăng. Tôi đến thăm khu nhà mới xây dựng của tập đoàn kinh doanh địa ốc Renaissance, một biệt thự một trệt một lầu, có tám phòng, giá một triệu đôla! Tập đoàn này mua đất, xây dựng hạ tầng cơ sở trước, sau đó tìm khách hàng, ký hợp đồng, lấy tiền ứng trước rồi mới xây nhà. Nhưng họ không phải tìm khách hàng. Khách hàng tự tìm đến họ. Thung lũng Hoa vàng có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất, tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất nước Mỹ: 2,2 phần trăm; còn tỷ lệ công nhân thất nghiệp tại tiểu bang California: không có việc từ sáu tháng rưỡi trở lên hiện giảm được một nửa so với năm 1995. Bởi thế, giá nhà đất ở Silicon Valley là đắt nhất Mỹ hiện nay! Hệ thống đường giao thông và hạ tầng cơ sở tại Thung lũng Hoa vàng mới xây dựng trong vòng hai chục năm nay cho nên được coi là hoàn hảo nhất thế giới!


Tiểu bang California lập Xuân từ ngày 20 tháng 3, đúng vào ngày tôi thăm nơi làm việc của Terry Le. Trời đẹp y hệt Đà Lạt vào tháng 10. Hạ tầng cơ sở, đường giao thông, cầu vượt, cầu tránh, đường ngầm, cống thoát nước, đường cấp nước, đường ống hơi đốt, điện, điện thoại, công viên, nhà hàng ăn, tiệm cà phê, hệ thống siêu thị, trường học, bệnh viện, khu dân cư… của Silicon Valley được quy hoạch và xây dựng thật hiện đại. Môi trường được bảo vệ sạch và xanh, không khí trong lành. Terry Lee đưa tôi thăm hơn một chục hãng điện tử nổi tiếng. Silicon bắt nguồn từ chữ silic, chất bán dẫn, khởi đầu cho sự bùng nổ công nghiệp bán dẫn thay thế cho các bóng chân không to kềnh càng từ thập kỷ 50 của thế kỷ 20. Có chừng vài chục hãng điện tử khổng lồ. Microsoft là con khủng long trong lãnh vực này, dẫn đầu bốn trăm công ty lớn nhất thế giới nhưng đại bản doanh thì không ở thung lũng Silicon mà đóng ở Seatle tiểu bang Washington. Tại Silicon Valley, công ty của Bill Gates có chi nhánh sản xuất và kinh doanh. Terry Le giúp tôi thăm những công ty như Oracle, mới ra đời từ năm 1977 nhưng hiện có tài sản lên tới 50 tỷ đôla; năm 1999, giá cổ phiếu của Oracle đã năm lần tăng vọt. Trong ba tháng đầu năm 2000, Hãng Sun Microsystems Inc đạt mức tăng trưởng 49 phần trăm, đánh gục các dự báo của Wall Street khi mà tỷ giá cổ phiếu kỹ thuật giảm ào ào. Sun Microsystems Inc lời 436 triệu đôla tức là mỗi cổ phần lời 26 cent trong ba tháng qua. Hewlett Packard, IBM, Cisco System, Apples, Compaq, v.v… mỗi công ty có vài chục ngàn nhân viên. Các hãng lớn chiếm từ ba đến bảy block phố, mỗi block gồm nhiều building. Trụ sở trung tâm của hãng thì kiến trúc rất hiện đại, còn nhà máy thì chỉ làm nhà một trệt một lầu, vệ sinh công nghiệp đạt mức tối ưu! Tôi rất ngạc nhiên khi gặp giữa chốn này sừng sững cao ốc của các hãng châu Á như Hitachi, Canon, National, Hyundai và Samsung. Hàn Quốc đã chen chân vào thị trường Mỹ từ hai chục năm nay rồi.


Terry Le đưa tôi lên đỉnh đồi để quay phim toàn cảnh Thung lũng Hoa vàng. Hoa là hoa dại, không ai trồng, cây cao nhất khoảng bốn mươi phân, cứ lập Xuân là bừng nở như có phép màu, vàng rực trời đất, làm rạng rỡ cả gương mặt người! Tên loài hoa dại này tôi hỏi một đứa cháu của Terry Le, đang học đại học thì biết là hoa Poppy. Terry Le cười rất tươi, giọng nói rất vang: “Thú thật với ông, từ năm 1994 trở về trước, vợ chồng tôi ít có thời gian ngắm cảnh. Hoa hồng, hoa đào, hoa mận… nở đầy trong vườn nhưng đi làm từ năm giờ rưỡi sáng, đêm mười hai giờ mới về tới nhà thì còn ngắm hoa vào lúc nào! Vì thế mà ngày ngày sống trong Thung lũng Hoa vàng, bị ho, bị viêm họng vì phấn hoa, nhưng tên hoa, cái loài hoa dại màu vàng ấy, là gì cũng không biết! Chúng tôi đã lao động liên tục, đã “cày” liên tục trong vòng mười năm, mới có cơ nghiệp ổn định, trả hết tiền nhà, mua hai chiếc xe đời mới trả tiền một lần, mua căn nhà thứ hai cũng trả tiền một lần. Từ năm 1995, khi đã có đà mạnh mẽ về kinh tế rồi, chúng tôi mới thực hiện được ước ao là mỗi năm dành một tháng để du lịch. Tôi chưa kể cho ông nghe là Hãng Sanmina chia cổ phần cho công nhân. Người nghèo vô đây làm, nay ít nhất cũng có vài chục ngàn đôla tiền cổ phần. Những kỹ sư giỏi, những người quản lý có từ vài trăm ngàn đô đến vài triệu đô tiền cổ phần. Hãng của tôi trả lương không cao như nhiều hãng khác, nhưng bù lại, công nhân lại được chia cổ phần. Nhờ thế người lao động gắn bó chặt chẽ với Hãng, coi sự nghiệp của Hãng như của chính gia đình mình!…”.


Chồng Terry Le làm nghề thiết kế các chi tiết máy. Đó là một thanh niên rất dễ mến bởi sự thẳng thắn, sống hồn nhiên, thích tếu táo và thật tốt bụng. Công ty mà anh làm việc chỉ có ba người. Anh là người làm công, trách nhiệm, quyền lợi chẳng khác gì ông chủ! Anh tâm sự: “Gia đình chúng tôi được như ngày nay là nhờ hai yếu tố: sống lương thiện (chấp hành đúng luật pháp) và chăm chỉ. Trước hết là chăm học tập, có nghề rồi thì chăm làm thêm giờ, làm cật lực để kiếm tiền. Khi có tiền, chi xài có kế hoạch và trả nợ nhà băng thật đúng hạn! Phải chăm chỉ và phải sống đúng như luật pháp quy định”. Anh dẫn tôi thăm vườn cây kiểng quanh nhà: “Ông ngoại các cháu nhà tôi là một nhà làm vườn giỏi! Phải luôn luôn chăm sóc bãi cỏ vườn cây trước nhà, nếu không, sẽ bị cảnh sát phê bình; nếu tiếp tục phạm lỗi, sẽ bị phạt tiền. Không được để trẻ em trong nhà một mình, hoặc để trẻ lang thang trên đường phố trong giờ học! Vi phạm là bị phạt tiền. Đường phố sạch, không khí trong lành, không có bóng cảnh sát. Thế mà chỉ cần phạm luật giao thông thì ngay lập tức police xuất hiện nhanh đến mức như tàng hình. Người phạm lỗi không dám cãi, càng không dám chậm trễ dừng xe. Khi cảnh sát hô “giơ tay lên”, không đưa tay lên đầu mà lại buông tay xuống dưới tay lái hoặc sau lưng là bị bắn chết! Cảnh sát được quyền như thế!”. Tôi sẽ trở lại chuyện cảnh sát ở một phần khác trong loạt bài này.


Phần 2: Đại học Mỹ và giới trẻ





Nhà ga trung tâm Washington D.C.


Trên chuyến bay từ Los Angeles (miền Nam) đi New York (Đông bắc Mỹ), tôi ngồi cùng dãy ghế với John Adams, 25 tuổi (tên trùng với vị Tổng thống thứ hai của nước Mỹ: Tổng thống John Adams sinh năm 1735, tại Quincy, tiểu bang Massachusetts, làm Tổng thống một nhiệm kỳ từ năm 1796 đến 1800, mất năm 1826. Ông có hai con gái, ba con trai, một người về sau là vị Tổng thống thứ sáu của Mỹ). John Adams cao tới một mét chín, miệng rộng, mắt xanh biếc, nhiều râu, rất vui tính. Anh sinh ở Boston, thủ phủ của tiểu bang Massachusetts. John Adams có họ hàng gì với ông Tổng thống thứ hai của Mỹ hay không? Tôi hỏi, John chỉ cười và nói lảng sang chuyện khác. Anh kể với tôi rằng, anh tốt nghiệp MIT (Massachusetts Institutte of Technology - Học viện kỹ thuật Maassachusetts), ngành tin học. Nhờ thành tích học tập cao, năm học thứ ba John đã được học bổng của một công ty trong Thung lũng Silicon; và sau khi ra trường, anh đã được mời về làm việc cho công ty này với mức lương căn bản 1.500 đôla một tuần. Làm được một năm rưỡi thì anh được bạn bè rủ rê lập công ty riêng. Anh rời Silicon Valley bay về New York thăm mẹ đang bị bệnh, và nhân tiện thông báo với cha mẹ anh về việc bỏ hãng cũ ra mở công ty riêng! Cha của John Adams nguyên là giáo sư của MIT, còn mẹ anh nguyên là nhân viên phụ trách thư viện của Đại học Harvard, hiện hai ông bà về hưu, sống ở ngoại ô New York cùng với cô con gái út.


 



John cho biết anh cùng với nhóm bạn năm người vốn là chuyên gia phần mềm của các hãng điện tử khác nhau, có cùng sở thích nghe nhạc và xem phim tâm lý xã hội nên đã kết thân với nhau. “Chúng tôi đã thành lập công ty chuyên sản xuất phần mềm, hãng mới mở được vài tháng nhưng hợp đồng đã có đủ để sản xuất trong năm 2000”. Quen nếp tư duy như ở Việt Nam, các doanh nghiệp luôn thiếu vốn, tôi hỏi: Các anh tìm nguồn vốn ở đâu? John cười: “Vốn lớn nhất là chất xám thì đã có rồi! Còn vốn hoạt động cho hãng thì vay nhà băng, chỉ cần truy cập internet là có ngay! Chúng tôi dự định chậm nhất là hai năm sẽ đưa hãng của mình ra thị trường chứng khoán New York”! Tôi thấy John tự tin quá. Những doanh nhân trẻ ở Silicon Valley mà tôi tiếp xúc đều giống nhau ở cái đức tin. Họ tin ở chính mình, tin ở môi trường đầu tư như tin vào… Thượng đế! Hầu như không có khó khăn nào cản trở bước tiến của họ. Làm thủ tục mở công ty, vay vốn, tuyển nhân viên, thuê văn phòng…, chỉ trong vòng hai ngày là xong hết mọi việc! Vấn đề khó nhất là tìm kiếm khách hàng họ cũng chẳng lo. Ngay từ khi đang làm việc cho các hãng lớn, họ đã tiếp xúc, quen thân với những khách hàng “ruột”. Khách hàng luôn đi tìm người tài giỏi, có uy tín, chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ… để đặt hàng! Quy luật cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt nhưng thực sự trở thành động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Người tài giỏi được trọng dụng bởi chính khách hàng! Tôi thật sự ngạc nhiên khi một công ty mới ra đời đã tính ngay đến chuyện xuất hiện tại thị trường chứng khoán New York. Xuất hiện tại đây tức là trình làng với toàn thế giới! Nước Mỹ là như thế!


Trần Quốc Việt năm nay hai mươi ba tuổi, người quận Nhất, Sài Gòn, theo gia đình sang Mỹ định cư năm 1990, đang là sinh viên Đại học Harvard (Harvard University) cùng ở thành phố đại học nổi tiếng Boston, tiểu bang Massachussetts. Harvard có hàng ngàn sinh viên gốc châu Á, trong đó có hàng trăm người gốc Việt Nam. Việt đang học năm cuối cùng của hai khoa: Thiết kế và Quản lý Công trình; là một trong những sinh viên xuất sắc của hai khoa này, và được trường cấp học bổng. Việt nói: “Người Việt Nam có truyền thống ham học và học giỏi. Em noi gương anh Nguyễn Dũng nhận bảy bằng cử nhân và tiến sĩ tại Harvard; anh Nguyễn Tuệ, mới hai mươi sáu tuổi đã nhận bảy bằng cử nhân và tiến sĩ tại MIT. Trong năm nay em sẽ nhận cùng lúc hai bằng cử nhân và chắc chắn được theo học tiếp để lấy bằng tiến sĩ! Em vừa về San Jose thăm người anh ruột làm chủ một công ty chuyên viết phần mềm. Anh ấy thuyết phục em về quản lý công ty ngay sau khi lấy bằng cử nhân. Nhưng em chưa chịu. Em muốn học tiếp lấy bằng Tiến sĩ. Sau khi học thành tài, em ao ước được có cơ hội trở về xây dựng Việt Nam…”.


Ở cổng chính của Trường Đại học Harvard, gọi là Dexter Gate, khi vào ta gặp dòng chữ: “Enter to a wisdom”, khi ra gặp dòng chữ: “Depart to server better thy country and thy kind”. Đây là câu khẩu hiệu đã trở thành châm ngôn của trường do ông Hiệu trưởng C.W. Eliot nói và cho viết trên tường. Ông là Hiệu trưởng Harvard từ năm 1869 đến năm 1909 thì nghỉ hưu. Trong câu này ông dùng từ thy, ngày nay đã trở nên cổ ngữ, tương đương với từ your. Tạm dịch nghĩa: “Vào trường để trở nên thông thái. Ra đi để phục vụ tốt hơn đất nước của bạn và đồng loại của bạn”. Phải chăng Trần Quốc Việt đã và đang làm theo câu châm ngôn này?


Đại học Harvard thành lập năm 1636, nay đã 364 tuổi. Từ năm 1973 đến nay, tạp chí Mỹ Survey đã năm lần đề cử Harvard là đại học tốt nhất trong mười trường đại học nổi tiếng thế giới. Khởi đầu, trường mang tên Học viện Cambridge do kiều dân Anh sinh sống ở Mỹ nhớ quê hương mà đặt tên trùng với Đại học Cambridge ở Anh. Năm 1638, người ta đổi tên thành Harvard là tên của ông John Harvard - người có công góp số tiền lớn xây dựng trường. Năm 1780, trường chính thức mang tên Đại học Harvard. Đây là trường đại học danh giá nhất nước Mỹ, có phương tiện học tập nghiên cứu hùng hậu: một trăm thư viện với hơn mười triệu cuốn sách, tám viện bảo tàng, có khu nội trú rất hiện đại cho thầy và trò… Cho đến năm 1990 đã có ba mươi người đoạt giải Nobel vốn là cựu sinh viên của trường. Có sáu vị tổng thống đã từng học Harvard. Harvard là đại học tổng hợp dân lập với các khoa: Triết học, Văn học, Vật lý lý thuyết, Vật lý ứng dụng, Pháp luật, Giáo dục, Quản lý Thương mại, Quản lý Công cộng, Quản lý Công trình, Thiết kế, Y khoa…


Muốn vào học tại Harvard phải qua nhiều thủ tục khắt khe. Riêng học phí để lấy bằng cử nhân (bốn năm học) là hơn 70.000 đôla. Vậy nhưng nhà trường có chính sách khuyến khích nhân tài, cấp học bổng cho những sinh viên xuất sắc. Nhờ thế mà có không ít sinh viên gốc Việt Nam đang học cùng lúc hai, ba ngành khoa học.


Miền Đông bắc Mỹ gồm những tiểu bang đã tham gia thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tôi đã thăm nhiều thành phố lớn của các tiểu bang này. Ở đâu tôi cũng tranh thủ tiếp xúc với giới trẻ Mỹ. Lương thiện, ham học, ham sáng tạo để mau chóng được tách khỏi gia đình, sống tự lập - đó là nét đặc trưng của giới trẻ Mỹ ngày nay.





Trên Đại lộ Danh vọng ở Tp Los Angeles


Những ngày ở Mỹ, tôi đã dành không ít thời gian để mong tiếp xúc với những thanh niên ăn chơi, hút xách, quậy phá, nhưng quả thật, tìm họ không dễ. Đơn giản là vì họ chỉ là thiểu số! Ngay cả ở khu Harlem tại thành phố khổng lồ New York, ban đêm cũng rất thanh bình, đi bộ một mình cũng vô sự! Thế giới ngầm, bọn mafia, các băng nhóm tội phạm… ở nước Mỹ mà tôi được nghe, được đọc khá nhiều. Mỹ rộng 9,5 triệu cây số vuông, đứng thứ tư thế giới, gấp ba mươi lần diện tích Việt Nam, dân số đông gấp hơn ba lần dân số Việt Nam, tự do cá nhân được luật pháp bảo vệ; luật pháp lại cho phép công dân có quyền sử dụng súng, thì tránh sao khỏi nạn xã hội đen! Hệ thống thông tin đại chúng ở Mỹ phần lớn là của tư nhân, đất nước thanh bình, báo chí, truyền hình chỉ mong có sự kiện như giết người, hiếp dâm trẻ em, cướp của, cháy nhà, vị chính khách nào đó đi chơi gái… để tương lên kín trang nhất nhằm câu khách. Chỉ cần một vụ chạm súng, một vụ bắt cóc tống tiền, tai nạn giao thông… thì các báo đua nhau khai thác, các hãng truyền hình dùng trực thăng quay trực tiếp cho thật giật gân! Thế nhưng trong suốt một tháng sống trên đất Mỹ, trên trang nhất các báo, tôi chỉ gặp một, hai tin tức về tội phạm; những thành phố tôi ở, không thấy bóng dáng xã hội đen đâu cả!


 



(Còn một kỳ nữa)


TX


Nguồn: Đăng nhiều kỳ trên:


-       Báo Sài Gòn Giải phóng, in ba kỳ, tháng 4-2000.


-       Báo Văn nghệ, số 47, ngày 18-11-2000.


-       Báo Tuổi trẻ Chủ nhật số 46, ngày 19-11-2000.


-       Lấp lánh tình đời. Tuyển tập Truyện và ký của Triệu Xuân. 630 trang.  NXB Văn học, 04-2007.


www.trieuxuan.info 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »