tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19002025
30.06.2014
Nhiều tác giả
Ba bài nên đọc về Liên Xô- Nga/ Trung Quốc

Liên Xô 1979: chặn bàn tay xâm lược Việt Nam


35 năm trước, Liên Xô đã biết cách tỏ rõ sẽ không ngần ngại áp dụng những biện pháp tột cùng để “khôi phục hòa bình và công lý”, báo ‘Phòng thủ đường không và vũ trụ’ của Nga viết.


Đầu 1979, tại biên giới Trung quốc - Việt Nam hình thành mặt trận gồm 15 sư đoàn thê đội 1, 6 sư đoàn dã chiến quân thê đội 2, và 3 sư đoàn dự bị. Tổng quân số cụm quân được động viên để tham chiến chống Việt Nam lên tới 29 sư đoàn…


3h 30 ngày 17/2/1979 trên một số hướng, sau 30 -35 phút pháo hỏa chuẩn bị, quân Trung quốc đã đột nhập qua 20 đoạn biên giới Trung - Việt vào lãnh thổ Việt Nam.


… Kế hoạch (dùng xung đột quân sự) của ban lãnh đạo Bắc Kinh nhanh chóng đập tan sự kháng cự của quân đội Việt Nam và buộc Việt Nam phải từ bỏ đường lối đối ngoại không lệ thuộc vào Trung quốc, trước khi Liên Xô kịp can thiệp, đã bất thành. Ý đồ của Bắc Kinh đảo ngược tình hình ở Campuchia cũng không đạt được.


Diễn tập biểu dương lực lượng


Trong thời gian từ 12 đến 26/3/1979 kiên quyết tạo áp lực quân sự lên Trung quốc  (nước đang tiến hành cuộc xâm lược chống Việt Nam), theo chỉ thị của  BCH TƯ Liên Xô, các Quân khu biên giới phía Đông (các vùng đất tiếp giáp với Trung quốc của Liên Bang xô viết), tại lãnh thổ Mông Cổ, và Hạm đội Thái Bình Dương, đã tiến hành các cuộc tập trận của Quân đội và Hải quân Liên Xô.


Năm 1979, các trung đoàn tiêm kích từ lãnh thổ Ukraina và Belorussia được điều động sang các sân bay Mông Cổ.


 Trong các cuộc diễn tập, tổng cộng đã có 20 sư đoàn binh chủng hợp thành và không quân tham gia, với tổng quân số lên tới hơn 200 ngàn sĩ quan và chiến sĩ, hơn 2 ngàn 600 xe tăng, gần 900 máy bay, 80 tàu chiến các loại.


Diễn tập bắt đầu bằng lệnh động viên, và chuyển các đơn vị quân đội và hải quân vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Đã động viên 52 ngàn quân nhân dự bị, huy động hơn 5 ngàn xe máy của nông nghiệp sang phục vụ yêu cầu sẵn sàng chiến đấu.


Các cuộc diễn tập quy mô lớn nhất diễn ra trên lãnh thổ Mông Cổ, huy động tới 6 sư đoàn bộ binh cơ giới và sư đoàn tăng, trong đó có 3 sư đoàn được điều động tới Mông Cổ từ Sibir và Zabaikal. Trong khuôn khổ cuộc diễn tập này còn góp mặt gần ba sư đoàn không quân, hai lữ đoàn độc lập và một số liên binh đoàn và đơn vị tăng cường.


Cùng kỳ, tại các cuộc diễn tập ở Viễn Đông và Đông Kazakhstan (có đường biên giới với Trung quốc), ngoài các đơn vị cấp sư đoàn trở lên bộ đội hiệp đồng binh chủng, còn có các đơn vị bộ đội biên phòng Liên Xô tham gia.


Tại các vùng có đường biên giới với Trung quốc, đã diễn tập các phương án tổ chức phòng ngự, đánh trả đội hình tiến công của đổi phương, phản kích, và chuyển sang phản công.


Trong tiến trình các cuộc diễn tập đã thực hiện các hoạt động phối hợp hỏa lực của các binh quân chủng. Cuộc hành binh từ Sibir sang Mông Cổ được thực hiện với các quy mô đội hình khác nhau, đội hình đơn vị từ cấp sư đoàn trở lên, và từ cấp trung đoàn trở xuống cấp phân đội. Đã thực hành tập kết đội hình đến cả bằng đường sắt, cả bằng đổ bộ đường không.


Tại các vùng có đường biên giới với Trung quốc, đã diễn tập các phương án tổ chức phòng ngự, đánh trả đội hình tiến công của đổi phương, phản kích, và chuyển sang phản công.


Từ lãnh thổ Ukraina và Belorussia, các trung đoàn không quân chiến đấu đã sang triển khai lực lượng tại các sân bay của Mông Cổ.


Đồng thời với các cuộc diễn tập, đã điều động các trung đoàn không quân ra phía đông (phía khu vực tiếp giáp hai lục địa Á – Âu) không chỉ từ các quân khu lân cận, mà cả từ vùng Prikarpatia, nằm cách xa các quân khu của Liên Xô có biên giới với Trung quốc tới 7000 km, chỉ nội trong hai đêm.


Đơn cử, chỉ trong hai đêm đã di chuyển từ Tula toàn sư đoàn không vận từ Tula đến tập kết tại Chita (Chỉ huy sở Quân khu Sibir) qua khoảng cách tới 5,5 ngàn km, chỉ bằng một chuyến bay.


Các cuộc chuyển quân trên của không quân xô viết không chỉ liên quan đến đội hình chiến đấu cấp trung đoàn, với các phi công được huấn luyện tốt nhất, mà là cuộc di chuyển của toàn trung đoàn, kể cả các đơn vị và phân đội bảo dưỡng kỹ thuật trên không và mặt đất. 5 quân khu đã tham gia tiếp dầu cho cuộc diễn tập này.


Trong tiến trình diễn tập, có những khoảng thời gian trong không trung có tới mười trung đoàn không quân tuyến 1 (đội hình chiến đấu) hoạt động. Các kíp bay đã bay tổng cộng 5000 giờ, đã sử dụng tới 1000 trái bom và tên lửa (trong diễn tập bắn đạn thật).


Tại biển Đông, và biển Hoa Đông gần 50 chiến hạm của Hạm đội Thái Bình dương, trong số đó có 6 tàu ngầm đã trực chiến sẵn sàng chiến đấu, và tiến hành tập trận đánh tiêu diệt hải quân đối phương. Tại vùng Primorie (ven biển Viễn Đông) đã thực hiện các cuộc đổ bộ của thủy quân lục chiến Liên xô.


Trợ chiến


Không quân xô viết còn cử các đơn vị của mình sang công tác tại Việt Nam để giải quyết vấn để trinh sát đường không chống quân xâm lược trên lãnh thổ Việt Nam. Các đơn vị thuộc không quân vận tải Liên Xô (các phi đội AN – 12, AN – 26, MI – 8…) làm nhiệm vụ vận chuyển đường không trong lãnh thổ Việt Nam.


Rất có kết quả, và có thể nói là khó hình dung nổi với thực lực trang bị lúc đó của Không quân chiến thuật Liên Xô (ý nói còn hạn chế), đã vận hành Cầu hàng không giữa Liên Xô và Việt Nam. Trong khuôn khổ diễn tập tại Liên Xô và chuyên chở vũ khí, trang thiết bị cho Việt Nam, đã vận chuyển tổng cộng 20 ngàn quân, hơn 1000 đơn vị trang bị xe máy, 20 máy bay và trực thăng, 3 ngàn tấn quân dụng, đạn dược.


Viện trợ


Riêng về mặt quân sự, viện trợ cho Việt Nam là một nhiệm vụ trọng đại, nhằm mục tiêu gia tốc gấp tiềm lực quân sự cho Việt Nam, nhờ các cuộc chuyển giao khẩn trương thiết bị và vũ khí. Chỉ trong giai đoạn từ khi cuộc xung đột bắt đầu (giữa tháng 2) đến cuối tháng ba, bằng đường thủy đã đưa sang Việt Nam được hơn 400 xe tăng và xe bọc thép, xe chở quân; 400 cỗ pháo và súng phóng lựu, 50 dàn phóng đạn phản lực 40 nòng, cỡ 122 mm “Grad”, hơn 100 cỗ pháo cao xạ, 400 đồng bộ cao xạ di động cùng hàng ngàn tên lửa đi theo, 800 súng chống tăng của bộ binh, 20 máy bay tiêm kích. Dù việc chuyển giao là gấp rút, các vũ khí và trang bị này đã qua thẩm định về chất lượng sẵn sàng chiến đấu bởi một ủy ban gồm các chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm sử dụng các trang bị này của quân đội xô viết.


Đòn cân não


Thái độ kiên quyết ủng hộ Việt Nam của Liên Xô; phản ứng của công luận thế giới; kháng cự kiên cường của quân đội Việt Nam buộc địch phải chịu tổn thất to lớn; tổ hợp hành động quân sự - chính trị của Liên Xô được thực hiện dưới dạng bước chuẩn bị cho hành động tiến quân vào lãnh thổ Trung quốc; mâu thuẫn trong giới cẩm quyền Trung quốc, các khuyết điểm, sai lầm nghiêm trọng trong chỉ đạo và trong tác chiến của quân Trung quốc… đã đem lại kết quả mong đợi, bài báo kết luận. Ngày 5/3/1979 Bắc Kinh đã phải ra quyết định rút quân, và 20/3/1979 phải thực hiện rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Nhưng quân Trung quốc vẫn ngoan cố đóng tại một số phần đất (sâu 1km vào lãnh thổ và rộng 2 km), mà trước đó Trung quốc gán ghép là “đất tranh chấp” , ở vùng biên giới hai nước, bài báo nhấn mạnh.


Bài báo cũng chỉ ra Liên Xô đã chơi rắn đến cùng như vậy, vì Trung quốc xâm lược vùng biên giới phía Bắc của Việt Nam khơi dậy nguy cơ chiến tranh lớn trên “hai mặt trận” (tức là gây chiến với Nga), do vừa ký kết Hiệp định hợp tác toàn diện Việt – Xô.


Phương châm trong chiến tranh “Phòng ngự tốt nhất là tiến công”, cũng được áp dụng trong còn điều kiện Liên Xô còn hòa bình, nhưng thế lực bành trướng, bá quyền trong khu vực đang tìm cách khơi lò lửa chiến tranh.


Nhìn lại, tướng Vũ Xuân Vinh, nguyên thủ trưởng kỳ cựu của ngành đối ngoại quân sự vào năm 2009 chia sẻ, ông vẫn vô cùng ấn tượng về cách Liên Xô đã chọn đầu 1979, bằng ý chí và hành động, cảnh báo “không được đụng đến Việt Nam”.


Năm 1979, Liên Xô đã tỏ rõ sẽ không ngần ngại áp dụng những biện pháp tột cùng, kiên quyết khôi phục hòa bình và công lý, không để địch thủ mơ tưởng “được đằng chân lân đằng đầu”. 


Lê Đỗ Huy lược thuật từ: http://www.vko.ru/strategiya/naglyadnaya-demonstraciya-voennoy-moshchi/vanhoanghean


“Liên minh chống Xô” và hiện đại hoá quân sự Trung quốc


Bài của  Lê Đỗ Huy


Từ giữa thập kỷ 70, chạy theo các lợi ích trước mắt, che đậy bằng hư chiêu “chống Liên Xô”, giới buôn bán vũ khí và những chính khách thiển cận phương Tây đã mặc giáp đeo gươm cho cựu thù trong chiến tranh Triều Tiên. Các nguồn cũng chỉ ra sự sành sỏi của Trung Nam Hải trong chơi “con bài Liên Xô” để hiện đại hoá quân sự. Nhiều nguồn sử liệu của Liên Xô và phương Tây phản ảnh cuộc “nuôi ong tay áo” tầm cỡ thế kỷ này.


“Địch” lùi “ta” tiến


Với cả hai bên chiến tuyến “chiến tranh lạnh”, dường như Liên Xô được xem là đắc lợi nhất trong cuộc Mỹ phải triệt thoái khỏi Đông Dương[1]. Điều này làm cho “Rồng” Trung quốc và “Diều hâu” trời Tây chia sẻ sự hậm hực. Trước đó, đã lập loè đèn xanh từ Washington, “mơi” Thiên An Môn sử dụng mọi phương tiện chính trị, quân sự, kinh tế, và văn hoá – tư tưởng thâm nhập vào Nam Á và Đông Nam Á, choán lấy khoảng trống (vacuum), sau khi Mỹ buộc phải rút đi[2].


Đến cuối thập kỷ 70, ảo ảnh bức tranh “các nước đế quốc phương Tây chia chiếc bánh ngọt Trung quốc” lại làm mê mẩn các chính khách ó diều, và các tài phiệt vụ lợi của công nghiệp chiến tranh. Lợi ích trong “bốn hiện đại” được che đậy bằng hư chiêu “bài Xô”, được “Rồng đỏ” và phương Tây đồng diễn.


Dự trữ ngoại tệ và vàng ở Trung Nam Hải thời ấy chỉ khoảng 4 tỉ USD (năm 2011 dự trữ ngoại hối TQ là khoảng hơn 3000 tỉ USD, dự trữ vàng khoảng hơn 1 ngàn tấn[3]), chỉ như một giọt nước dành cho cơn khát hiện đại hoá quân sự (được đánh giá lúc đó lên tới 600 tỉ Mỹ kim).


Phiền muộn thực sự sẽ đến nếu để Rồng thức dậy (Real trouble will come with the Wake).


Tranh vẽ thời kỳ “bán thuộc địa” triều Mãn Thanh, năm 1900.


Khoản tiền còn thiếu sẽ tìm được nhờ cơn “đổi giận làm lành” (nguyên văn: quay ngoắt 180 độ). Khoản đặt cược là cuộc tiến công phản phúc (вероломный/perfidious- chữ chuyên dùng cho sự kiện Đức phát xít xé Hiệp ước, bất ngờ đánh Liên Xô năm 1941) được học giả Liên Xô dùng lại trong sự kiện “dạy cho một bài học”), nhằm vào một đồng minh từng được Bắc Kinh ví “như môi với răng”, tháng 2/1979.


Năm 1979 là bài học đảo ngược cho kẻ “dạy”, đau đớn, nhưng “có ích” cho Rồng. Nó càng chỉ rõ một quân đội đông người, nhưng trang bị thô sơ, cách đánh cũ kỹ, không thể làm mũi nhọn bành trướng. Từ năm 1980, một quân đội là chỗ dựa trong Văn cách, nay lĩnh ấn tiên phong trong Bốn hiện đại, với sự trợ giúp từ cựu thù phương tây (!)


Hoà giọng vào luồng sát khí mới của chiến tranh lạnh, trước đó, tháng Giêng 1979, là tuyên bố của Đặng đồng chí trước khi bay sang Tây bán cầu: “Sau khi thiết lập các quan hệ bang giao với Nhật Bản và Mỹ, cần ra sức phát triển các quan hệ ấy cả về chiều rộng và chiều sâu. Nếu chúng ta thực sự muốn kiềm chế Con Gấu Trắng (polar bear), thì con đường hiện thực duy nhất để đạt được điều đó là sự thống nhất của chúng ta”[4].


Cơn giận lâu đời với “tàu sân bay không chìm” của Mỹ, là Đài Loan, cũng được nuốt ngược vào bụng. Đặng Tiểu Bình chia sẻ, giải quyết vấn đề Đài Loan “có thể kéo dài một trăm năm, một nghìn năm”[5]. Kho đạn pháo dùng trong cuộc đấu pháo với Đài Loan đã vài chục năm, tới đầu thập kỷ 80 chuyển sang “xài” tại mặt trận biên giới Trung - Việt.


Chiến thuật “hai gọng kìm”


Thực ra, “tuần trăng mật” giữa Diều hâu và Rồng đã bắt đầu sớm hơn nhiều. Năm 1971, kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ từ Trung quốc chỉ gần 5 triệu USD, thì sau Thông cáo chung Thượng Hải, “con đẻ” của Mao - Nixon, năm 1973 trao đổi thương mại hai chiều đã lên hơn 800 triệu USD[6]. Từ 1979 đến 1985, Mỹ phóng tay cho Trung Nam Hải, đang hăng hái hiện đại hoá quân sự, vay tới 20,3 tỉ USD[7].  Sau khi Trung quốc mua các máy bay Boing 474 của Mỹ chính bằng tiền đi vay, nhiều nguồn cho rằng khả năng vận chuyển quân sự bằng đường không của Trung quốc đã tăng lên tới gần 1/3[8].


Quan sát hậu chiến của cựu sĩ quan Sài Gòn nhắc nhở rằng chiến lược trên biển Đông mà Tư lệnh Hải quân Hoa Kỳ Zumwalt công bố tại Guam năm 1970, đã thể hiện “xu thế mới” của Wasshington là hoà hoãn với cựu thù của Mỹ, từng “kháng Mỹ - viện Triều”, trên biển Đông.


Cuộc chơi lớn của phe Mỹ ở Đại lục nhằm chống Liên Xô có nhiều đích nhắm. Trước hết, đây là đòn bẩy gây sức ép với Breznev trên bàn thương lượng về hạn chế vũ khí chiến lược. Thứ nữa, Mỹ nhìn thấy một thị trường tỉ người, cho dù trước mặt chưa có khả năng thanh toán. Cuộc “đội mũ, đi hia” về quân sự cho Trung quốc, ít nhất, sẽ kéo được lực lượng trên hướng đối diện với NATO của Liên Xô chuyển dịch về hướng nam, để đảm bảo an ninh dọc đường biên giới Xô – Trung dài dằng dặc. Và nếu thành công trong việc lôi được hơn một tỉ người (TQ) ra khỏi quỹ đạo của Moscow, thì thật đáng khích lệ với “thế giới tự do”.


Nửa cuối thập kỷ 70, tiền đồn chống Liên Xô (!?) ở Đại lục đã tua tủa những khí giới tân kỳ như trực thăng Super Frelon (Pháp), BO – 15 (Tây Đức), tên lửa phòng không Crotale (Pháp), máy bay vận tải lưỡng dụng Trident (Anh)[9]… Ở Washington, sau chuyến cố vấn an ninh Brezinsky thăm Bắc Kinh cuối 1978, một số hạng mục cấm đối với “Trung Hoa đỏ” được tháo cũi sổ lồng, như hệ trinh sát điện tử từ trên không, thiết bị phóng vệ tinh nhân tạo…


Những quan ngại về việc phương Tây can dự vào thiết kế, chế tạo, và thử nghiệm tên lửa tầm trung, phát triển nghiên cứu hạt nhân và kỹ thuật hạt nhân ở Trung quốc… đã làm cho không chỉ ban lãnh đạo Liên Xô lo âu.


Đầu thập kỷ 80, những lĩnh vực mà “con rồng ăn thịt” thèm muốn là: tàu chiến các kiểu, tên lửa hành trình, tên lửa bắn máy bay bay thấp, thiết bị ngắm, máy bay hiện đại, như F - 15, F- 16. Bắc Kinh khẩn khoản đòi mua 300 tiêm kích loại cất cánh thẳng đứng Harrier của Anh, thác là để triển khai ở các sân bay gần biên giới Xô Trung. Nhưng thương vụ này đã bị London tốp lại[10] sau khi 60 vạn quân, 580 máy bay, 480 cỗ pháo và 1260 khẩu cối, cùng 550 tăng và xe bọc thép định tràn ngập tam giác Lào Cai – Hà Nội - Lạng Sơn chỉ trong Tết 1979, vẫn theo các học giả Liên Xô.


Nhưng ánh mắt, bàn tay “chú Chiệc” vẫn háo hức trùm lên lĩnh vực vệ tinh viễn thông, lò phản ứng hạt nhân, thiết bị lade, tàu ngầm, tên lửa mang nhiều đầu đạn, nhiều lượng nổ của Mỹ và NATO. Danh sách này còn dài, nhưng đáng ngại hơn là sự thèm thuồng công nghệ chế tạo những gì mà “hổ” Mỹ muốn giấu làm bửu bối. Thèm muốn vô độ này sẽ biến thành “nạn đạo chích công nghệ Trung Hoa” mà FBI sẽ la hoảng, ở ngưỡng cửa thế kỷ 21.


Đối nội, với hư chiêu cũ rích “(thế giới chia làm) ba phe, bốn mâu thuẫn”, bằng mọi giá động viên nguồn lực của đất nước vẫn còn nhiều vùng nghèo, xây dựng quân đội và hạm đội mạnh, hòng giành lại “triều cống”từ các “chư hầu”, tiến lên bá chủ thế giới.


Đánh đu với tinh


Ngày 1/7/1978, Nhân dân Nhật báo hoan hỉ đưa tin tại Trung quốc lắp đặt máy gia tốc proton đầu tiên, công suất 50 tỉ electronvolt,nhờ sự giúp đỡ của “các bạn nước ngoài”.


Cơ hội giây máu ăn phần trong “bốn hiện đại” của Trung quốc làm làm mờ mắt bầy diều hâu tham lam phương Tây. Những món lợi đáng ngờ trong “thương vụ Tàu”, tư cách “khó chơi”, bán trời không văn tự, sự lươn lẹo, luôn tìm cách thay đổi điều kiện, áp đặt lợi ích của mình trong cuộc chơi “Tàu – Tây” từ cuối thập niên 70 chỉ có kẻ mù mới không thấy.


Năm 1965, phát biểu tại hội nghị BCT tháng 8, Mao chỉ rõ: “Sau khi chiếm được Đông Nam Á, chúng ta có thể tăng cường lực lượng trong khu vực này… Gió đông sẽ thổi bạt gió tây”[11]. Cương lĩnh này của Mao tới nay vẫn có vai trò kim chỉ nam, căn cứ vào các ý kiến trên các diễn đàn mạng ở Đại lục, và nhất là vào cách cư xử của Bắc Kinh với ASEAN. Gió mùa đông bắc hiện vẫn vần vũ ở bất lỳ thời tiết chính trị nào trên biển Đông. Những luồng khí độc Đông phong làm cả thế giới rát mặt.


Vương quốc ở giữa đâu cam phận con nghiện trong cơn khát dầu mỏ, vật vã thụ động trong các khủng hoảng năng lượng, đa phần do các tài phiệt ở phố Wall ngụy tạo ra. Ngay cuối thập lỷ 80, từ Vạn lý Trường Thành, đã định dạng khối đường dẫn vào các nguồn dầu hoả bằng cả thương mại, xung đột quân sự, hay mánh khoé ngoại giao[12]. Cùng lúc đài báo Bắc Kinh vẫn ru hời điệu “trỗi dậy hòa bình”…


Rồng Bắc Kinh hôm nay


Bộ mặt thật


Khá dè dặt so với phương tây trong cuộc chơi con bài Trung quốc chống Xô Liên, Nhật Bản chỉ hợp tác kinh tế, công nghệ. Nhưng giới quân sự Nhật Bản vẫn cho rằng tính “thuần tuý kinh tế” của quan hệ Nhật – Trung là “giả dối”. Cựu giám đốc Học viện quân sự Nhật cảnh tỉnh từ đầu những năm 80: “Giúp Trung quốc hiện đại hoá kinh tế, khoa học - kỹ thuật có khác nào hiệp trợ họ trong hiện đại hoá quân sự”.


 


Báo Nhân đạo của Pháp thời đó cũng nhận định: “Những người theo chủ nghĩa Mao đã đứng vào hàng ngũ của bọn phản động cực đoan nhất: ở châu Âu - với các phần tử hiếu chiến NATO chống hoà dịu, ở châu Á - với bọn tội phạm Pôn Pốt”[13].


Hội nghị toàn thể tháng 6/1980 của TƯ ĐCSLX cho rằng “sự câu kết của chủ nghĩa đế quốc (phương Tây) và chủ nghĩa bá quyền Bắc Kinh” không chỉ là đòn đánh vào tương lai phát triển XHCN của đất nước Trung quốc, mà còn là mối đe doạ toàn cầu. Rằng cuộc tiến công vào nước láng giềng “vừa đồng chí vừa anh em” tháng 2/1979 là bằng chứng rõ ràng rằng Bắc Kinh vũ trang để xâm lược.


Học giả Liên Xô cảnh báo, trong cố gắng xâm nhập vào các nước châu Á bằng các biện pháp kinh tế hoặc bằng xung đột vũ trang, sớm muộn Trung quốc sẽ đụng chạm thô bạo đến quyền lợi của Mỹ.


Muốn hay không, phải thừa nhận rằng Bắc Kinh đã diễn khá tròn vai kịch bản “NATO phương Đông chống Liên Xô”. Các liên minh ma quỷ dù được thần thánh hoá, như lịch sử muôn đời chỉ ra, bao giờ cũng quả báo khốc hại kiểu “gieo gió gặt bão”. Điều đáng buồn là tính hai mặt của chạy đua vũ trang vẫn đem lại lợi ích cho những thế lực vụ lợi, và đầu độc đời sống nhân loại. Và những ca khúc khải hoàn cho cuộc công phá khối Xô – Trung (Sino – Soviet bloc), một bloc tồn tại chủ yếu trong sương mù, đến nay vẫn là thuốc an thần cho những kẻ đã chót nâng đỡ con Rồng.


Lại nhớ thư ngỏ “Bộ mặt thật của bè lũ Maoist”[14] của Đảng cộng sản Mỹ gửi BCH TƯ Đảng cộng sản Trung quốc năm 1979. Những người cộng sản Mỹ cảnh báo:“Việc các người (ban lãnh đạo TQ) ve vãn và thương thuyết với chủ nghĩa đế quốc nhằm thành lập các liên minh quân sự. việc các người tuyên truyền chiến tranh, là những nhân tố mới, làm tăng nguy cơ của một cuộc đụng đầu hạt nhân và một thảm hoạ toàn thế giới”.


Sớm hơn nữa, năm 1900, một hoạ sĩ phương tây đã vẽ bức tranh, cảnh báo nếu vực dậy con Rồng Trung Hoa thì sẽ thực sự phiền toái. 100 năm sau, truyền thông Mỹ nhận diện sự trỗi dậy mãnh liệt của Quân đội, Hạm đội Trung quốc trong hiệu ứng Con rồng Trung Hoa thức dậy[15].


LĐH.


_____


[1]The Soviet Union and the Vietnam war, Ilya Gaiduk, Chicago 1996, Chapter 11.


[2]Học thuyết Nixon (cũng gọi là Học thuyết Guam) năm 1969, để đáp lại sự “ủng hộ ngầm” (молчливая поддержка–  chữ dùng của học giả Nga) của Bắc Kinh (giành cho Mỹ), chủ trương “bảo vệ Trung quốc chống Liên Xô”, thậm chí dùng ô hạt nhân của Mỹ để “che” cho Trung quốc trong cuộc đối đầu đột ngột với phe Liên Xô,


http://www.homelandsecurity.org/journal/Default.aspx?t=315&AspxAutoDetectCookieSupport=1. Cũng theo học thuyết Nixon, một số lượng lớn quân Mỹ sẽ rút không chỉ khỏi Việt Nam, mà khỏi cả các nước như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Thái lan, Philippin. Học giả xô viết cho rằng Mỹ thả cho Trung quốc vào Nam Á để chặn ảnh hưởng của Liên Xô (Quân đội Trung quốc – vũ khí của chính sách phiêu lưu của bè lũ Maoist, NXB Bộ Quốc Phòng Liên Xô, 1980, tiếng Nga, tr. 118).


[3]http://tintuc.xalo.vn/00-627822939/Vang_con_tang_gia_do_lam_phat.html


[4]If we really want to be able to place curbs on the polar bear, the onlyrealistic thing is for us to unite”. Tuyên bố của Đặng Tiểu Bình.


http://www.guardian.co.uk/world/1979/jan/30/china.usa


[5]Theo Nhân dân Nhật báo, “Một đất nước, hai chế độ”. http://english.peopledaily.com.cn/dengxp/vol3/text/c1210.html


[6]http://www.jstor.org/pss/20039560


[7]http://en.wikipedia.org/wiki/History_of_trade_of_the_People%27s_Republic_of_China


[8]Quân đội Trung quốc – vũ khí của chính sách phiêu lưu của bè lũ Maoist, NXB Bộ Quốc Phòng Liên Xô, 1980, tiếng Nga, tr. 127.


[9]Theo wikipedia


[10]http://news.bbc.co.uk/onthisday/hi/dates/stories/february/17/newsid_2547000/2547811.stm


[11]КНР: тридесятилетия— три политики (CHND Trung Hoa: ba thập kỷ - ba đường lối), của M.S. Kapitsa, tiếng Nga, Moskva 1979, tr. 388


[12]http://www.washingtontimes.com/news/2005/jun/26/20050626-122138-1088r/


[13]Армия Китая-орудие авантюристическойполитики маоистов(Quân đội Trung quốc – vũ khí của chính sách phiêu lưu của bè lũ Maoist), NXB Bộ Quốc Phòng Liên Xô, 1980.


[14]Real face of Maoists : open letter of CPUSA to CP of China, by Communist Party of the United States of America; 1979.


[15]http://www.washingtontimes.com/news/2005/jun/26/20050626-122138-1088r/ 


Nga và Trung Quốc liệu có liên kết với nhau hay không?


Chuyến thăm Trung Quốc hai ngày 20-21/5/2014 của Tổng thống Putin, việc ông chứng kiến lễ ký hợp đồng “khủng”  mua bán khí đốt kéo dài 30 năm trị giá 400 tỷ USD và tham gia lễ khai mạc cuộc tập trận chung hai nước kéo dài 7 ngày trên biển Hoa Đông của Trung Quốc… đang được cả thế giới quan tâm.


Trước chuyến thăm, ông Putin từng nói “Trung Quốc là người bạn đáng tin cậy của chúng tôi. Mở rộng hợp tác với Trung Quốc chắc chắn là ưu tiên ngoại giao của Nga”. Bởi vậy dư luận quốc tế đang bàn thảo nhiều về khả năng hai cường quốc này liệu có liên kết thành đồng minh với nhau để chống Mỹ và phương Tây hay không. Người Việt Nam chúng ta rất muốn biết Nga có thái độ như thế nào trước việc Trung Quốc ngang nhiên đặt giàn khoan trongvùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Tiếc rằng ông Putin hoàn toàn không nói một lời về mối nguy cơ này.


Lẽ dĩ nhiên người Nga và Trung Quốc cũng rất quan tâm vấn đề phát triển mối quan hệ giữa hai nước họ. Mối quan hệ đó sẽ ảnh hưởng tới Việt Nam, vì thế chúng ta hãy xem họ nói gì.


Tờ Thời báo Hoàn cầu (Trung Quốc) ngày 22/5 trích dẫn nguồn tin từ Nga cho biết, Alexander Konovalov cán bộ Viện nghiên cứu đánh giá chiến lược Nga nói chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Putin và các thỏa thuận ký trongchuyến thăm này đã được chuẩn bị từ lâu trước khi mối quan hệ Nga-phương Tây xấu đi do vấn đề Crimea. Nga rất quan tâm tới Trung Quốc, vì hai nước có chung đường biên giới rất dài và kinh tế Trung Quốc đang tăng trưởng cao. Ông nói : “Chúng tôi là láng giềng cạnh nhau. Nga có thể lợi dụng Trung Quốc để phát triển kinh tế vùng Viễn Đông và vùng biển. Cho dù quan hệ với các nước khác như thế nào thì mở rộng sự hợp tác Nga-Trung đều là nhiệm vụ cấp thiết của chúng tôi”.


Alexei Arbatov Giám đốc Trung tâm An ninh quốc tế Viện Nghiên cứu kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế thuộc Viện Khoa học Nga cho rằng Nga và Trung Quốc khôngthể liên kết thành đồng minh quân sự chính trị kiểu như khối NATO hoặc khối Varsava. Nga sẽ không chiến đấu vì lợi ích của Trung Quốc tại vùng eo biển Đài Loan hoặc biển Nhật Bản, và Trung Quốc cũng không chiến đấu vì Nga tại Crimea. Tuy rằng lập trường chính trị của hai bên trên nhiều mặt đều phù hợp nhau, như trên vấn đề Iran và Syria, và hai bên đang đẩy mạnh các dự án hợp tác kinh tế quy mô lớn, nhưng lượng buôn bán Trung Quốc - Mỹ và Trung Quốc - châu Âu thì lớngấp 5-6 lần lượng buôn bán Trung Quốc - Nga. Đây cũng là một trongcác nguyên nhân Nga và Trung Quốc khó có thể liên kết với nhau để chống lại phương Tây.


Alexei Voskresenskii - Trưởng khoa chính trị Học viện Quan hệ quốc tế Moskva nói, Trung Quốc và Nga khôngmuốn phát triển quan hệ theo hướng liên kết quân sự chính trị, nhất là Trung Quốc. Ông nói: “Chúng ta (Nga) có lẽ còn phải tranh cãi về vấn đề trọng điểm ngoại giao nên là gì, nhưngTrung Quốc thì khác; mục tiêu của họ trên sân khấu quốc tế là mở rộng sự tồn tại kinh tế trên toàn cầu, nâng cao tỷ lệ của họ trong thương mại quốc tế nhằm trong tương lai trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Chẳng ai muốn buôn bán với quốc gia quân phiệt cả”.


Dư luận Trung Quốc rất quan tâm tới chuyến thăm của Tổng thống Putin. Nhân dịp này Thời báo Hoàn Cầu có phỏng vấn Thiếu tướng Vương Hải Vận nguyên Tùy viên quân sự Sứ quán Trung Quốc ở Moskva, phó Hội trưởng Hội Nghiên cứu lịch sử quan hệ Trung Quốc-Nga của Trung Quốc.


Trả lời câu hỏi cuộc tập trận chung Trung Quốc-Nga tại vùng biển Tây Bắc đảo Điếu Ngư (Nhật gọi là Senkaku) thuộc biển Hoa Đông có ý nghĩa trả đũa Mỹ-Nhật hay không, tướng Vương nói : Xét về mặt chiến lược quốc tế thì đúng là có ý nghĩa đáp trả liên minh quân sự Mỹ-Nhật, nhưng không thể nói đó là sự đáp trả chuyến thăm 4 quốc gia châu Á của Tổng thống Obama. Bởi lẽ tập trận khôngphải là chuyện đơn giản, ít nhất phảichuẩn bị trước nửa năm, lúc đó chưa thể dự kiến Obama sẽ nói gì trongchuyến thăm đó. Cũng không cần thiết phải gắn cuộc tập trận này với đảo Điếu Ngư, vì nơi tập trận còn khá xa đảo ấy. Mục đích chính của cuộc tập trận chung này là tìm hiểu nhau, học tập lẫn nhau và tập luyện sự hiệp đồng hành động khi gặp một số vấn đề an ninh.


Trả lời câu hỏi Nga có thái độ thế nào đối với việc Trung Quốc - Nhật tranh chấp biển đảo, ông Vương nói : Chính sách của Nga đối với Nhật về tổngthể là ổn định tình hình, tăng cường hợp tác nhằm cân bằng ảnh hưởng của Mỹ. Chưa thể nói Nga không hoàn toàn xét tới lợi ích của Trung Quốc, vì Nhật rất muốn Nga ủng hộ họ trên vấn đề đảo Điếu Ngư nhưng Nga không ủng hộ Nhật. Mặt khác, Nga khôngthể công khai đứng về phía Trung Quốc, vì họ không muốn trả giá vì chuyện ấy. Nga còn hy vọng ở Nhật mấy vấn đề. Thứ nhất, Nhật là nước phát triển, Nga muốn Nhật giúp vốn đầu tư. Thứ hai, Nhật là thị trường tiêu thụ năng lượng và có thể chịu trả giá cao, Nga muốn bán dầu khí cho Nhật, vừa được lợi hơn vừa không quá ỷ lại vào thị trườngTrung Quốc. Đây là sự lựa chọn ưu tiên lợi ích quốc gia. Tôi phản đối Trung Quốc - Nga hiện nay liên kết với nhau, nhưng tôi chủ trương phải tạo điều kiện cho sự liên kết trongtương lai.


Trả lời câu hỏi ông đánh giá thế nào về việc TT Putin mới đây nói “Trung Quốc - Nga không liên kết với nhau”, tướng Vương nói : Thứ nhất, Trung Quốc trường kỳ theo đuổi phương châm ngoại giao “Ba không”, tức “Không liên kết, không đối kháng, không nhằm vào nước thứ ba”, hiện nay cũng khôngthay đổi phương châm này, đó là nhu cầu giảm trở lực cho công cuộc trỗi dậy hòa bình. Thực ra Nga có tư duy liên kết (với Trung Quốc) nhưngTrung Quốc  trường kỳ kiên trì không liên kết, (vì thế) Nga cũng dần dần hạ giọng. Putin nói “không liên kết” là có liên quan tới phương châm chiến lược của Trung Quốc. Thứ hai, hiện nay muốn liên kết cũng chưa có điều kiện, hơn nữa còn có thể đem lại hậu quả nghiêm trọng. Vì bây giờ liên kết với Nga thì chỉ có thể kết thành một “liên minh thế yếu”, sẽ làm cho thế giới hình thành cơ cấu lưỡng cực — Trung Quốc, Nga, lôi kéo thêm vài tiểu huynh đệ làm thành một cực; đồng minh Mỹ - phương Tây làm thành một cực. Như vậy, trong tình hình hiện nay cục diện quốc tế chủ yếu do phương Tây chủ đạo, điều đó sẽ làm cho sự phát triển hòa bình của Trung Quốc - Nga càng thêm bất lợi.


Bởi thế rõ ràng không thể mù quáng đưa ra vấn đề liên kết Trung Quốc - Nga; dù có muốn liên kết cũng phảicó quá trình từng bước chuẩn bị. Không có bạn thì sao có bạn đồng minh ? Hiện nay Trung Quốc có bạn, nhưng bạn vào thời điểm quan trọng có thể thực lòng chìa tay giúp đỡ thì quá ít.


Thứ ba, liên kết hay không là vấn đề sách lược chứ không phải chiến lược. Coi “không liên kết” là chiến lược không thể động chạm thậm chí không thể bàn luận thì là sai lầm. Trong lịch sử Trung Quốc từng ba lần liên kết với Nga. Tôn Trung Sơn, Tưởng Giới Thạch từng làm; Trung-Xô từng liên kết với nhau. Cho nên không thể coi đó là thứ bất biến.


Mỹ hiện nay mạnh như vậy mà còn kéo bè kéo cánh; một kinh nghiệm rất quý của Mỹ là hệ thống liên minh. Mỹ khôngđánh nhau một mình thì vì sao chúng ta lại đánh nhau một mình ? “Mặt trận thống nhất quốc tế” là hoàn toàn cần thiết, nghĩa là mối quan hệ chuẩn đồng minh là hoàn toàn cần. Hiện giờ tôi phản đối Trung Quốc - Nga liên kết thành đồng minh nhưng tôi chủ trương phải tạo điều kiện cho sự liên kết trongtương lại. “Quan hệ bạn bè hiệp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-Nga” trên thực tế là mối quan hệ chuẩn đồng minh; chỉ có điều chúng ta chưa hoàn toàn thực hiện nội dung đó; giờ đây chúng ta cần cố gắng thực hiện.


Trả lời câu hỏi về chính sách của Nga đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Vương Hải Vận nói : Nga hiện đang đứng trước vấn đề chuyển sang khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Nga rất tích cực để trở thành nước lớn của khu vực này. Từ chỗ là trung tâm kinh tế thế giới, tất nhiên khu vực Châu Á - Thái Bình Dương sẽ trở thành trung tâm chính trị, an ninh của thế giới, các nước lớn đều kéo về đây. Hiện khu vực Châu Á - Thái Bình Dương còn chưa có cơ chế an ninh tập thể. Trên thực tế trong các khu vực chỉ có Đông Bắc Á cho tới nay chưa có cơ chế an ninh tập thể, tính nguy hiểm về an ninh của vùng này vẫn tồn tại. Tất nhiên Nga phải chuyển lực lượng quân sự sang khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; chính vì thế mà họ phải tăng cường xây dựng hạm đội Thái Bình Dương. Chính phủ Nga đã lập Bộ Viễn Đông, công ty phát triển Viễn Đông, đầu tư rất lớn. Muốn khai thác phát triển Viễn Đông thì phải hợp tác với Trung Quốc. Hiện nay Nga hạn chế dùng lao động Trung Quốc nhưng sớm muộn thì hai bên phải bàn vấn đề này.


Nga chuyển sang khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, về tổng thể là tốt đối với Trung Quốc. Sức mạnh Nga cũng là sự cân bằng đối với sự “tái cân bằng” của Mỹ, có thể giảm sức ép Trung Quốc đang phải chịu, là đối kháng với việc Mỹ trở lại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.


Trả lời câu hỏi Trung Quốc xử lý mối quan hệ tam giác “Trung Quốc- Nga-Mỹ” như thế nào, ông Vương nói : Quan hệ Trung Quốc-Mỹ rất quan trọng. Mỹ là đối thủ chiến lược chủ yếu, đối tác buôn bán kinh tế chủ yếu của Trung Quốc, Mỹ có ảnh hưởnglớnnhất, trực tiếp nhất, lâu dài nhất với môi trườngquốc tế trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc. Nhưng nếu về lâu dài bắt quan hệ với Nga phảiphục tùng quan hệ với Mỹ thì là sai lầm. Hiện nay Trung Quốc đề xuất mối quan hệ nướclớnkiểu mới. Thật không dễ làm được mấy điều về mối quan hệ này — “khôngđối kháng, không xung đột”, Mỹ có thể tiếp thu nhưng thực tế không làm được. Mỹ là kẻ chủ yếu gây ra các rắc rối xung quanh Trung Quốc. “Tôn trọng lẫn nhau”, Mỹ càng không làm được. “Cùng có lợi, cùng thắng” cho đến nay vẫn chưa làm được.


Tôi cho rằng có thể dùng quan hệ ba bên để hình dung Trung Quốc-Nga-Mỹ. Trong đó Trung Quốc có cự ly đều gần nhất với hai nướcMỹ-Nga, nhưngquan hệ Nga-Mỹ lại xa nhất; nếu nói đó là một tam giác cân thì Trung Quốc là đỉnh tam giác đó. Trung Quốc phảilợi dụng thật tốt quan hệ với Mỹ, tranh thủ ổn địnhmối quan hệ này; mặt khác phảikinh doanh mạnh mối quan hệ với Nga. Từ thời Xuân Thu chiến quốc, Trung Quốc đã liên hợp ngang dọc, đếnthời Tam Quốc thì (liên hợp) Thục Ngô kháng Tào, (kinh nghiệm ấy) đều có thể tham khảo. Thục và Ngô mâu thuẫn nhau sâu sắc thế, Trung Quốc vẫn có thể liên hợp họ lại để chống Tào Tháo. Mâu thuẫn giữa ta với Nga có sâu như thế không ? Hiện nay có người lớn tiếng chửi Nga trên vấn đề Ukraine, bênh Mỹ, thực là ngu xuẩn, khôngbiết mối quan hệ quốc gia ở đâu — thiếu tướng Vương Hải Vận kết luận.


Nguyễn Hải lược thuật từ:


- http://mil.huanqiu.com  俄媒:中俄都不会为对方打仗不愿建立事同盟


- http://mil.huanqiu.com  少将:俄其想与中国盟但可能重后果


vanhoanghean

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ủy ban kiểm tra Trung ương đề nghị kỷ luật ông Đinh La Thăng - Nhiều tác giả 27.04.2017
Kết luận về một số sai phạm của lãnh đạo Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam PVC - Tư liệu sưu tầm 27.04.2017
Cuộc tấn công Quyến rũ của Trung Quốc đã kết thúc? - Tư liệu 27.04.2017
Tình cảnh những cựu binh Mỹ trở về từ Việt Nam - Kyle Longley 27.04.2017
Báo cáo về vụ nổi dậy ở Thái Bình 1997 - Tương Lai 27.04.2017
Trao đổi với Giáo sư Phan Huy lê về Sử Việt - Hà Văn Thùy 27.04.2017
Chuyện ít biết về cơn bão từng làm chết 3.000 người ở Sài Gòn - Nhiều tác giả 26.04.2017
Cuộc chiến đã qua đi: Hồi ức và bài học lịch sử - Drew Gilpin Faust 22.04.2017
22/04/1994: Richard Nixon qua đời - Tư liệu sưu tầm 22.04.2017
Thần thoại Hy Lạp (8) - Nguyễn Văn Khỏa 22.04.2017
xem thêm »