tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20804412
Những bài báo
30.05.2014
Hà Văn Thùy
3 bài báo của Hà Văn Thùy về cuốn sách của Tạ Đức

Một kiến giải sai về nguồn gốc dân tộc


850 trang sách khổ to: Nguồn gốc người Việt - người Mường (Tạ Đức, NXB Trí thức, 2013) là kết quả mười năm làm việc của ông Tạ Đức. Thật đáng nể phục về khối tư liệu đồ sộ được đưa vào sách. Khác nhiều đồng nghiệp, tác giả chấp nhận An Dương Vương là người Thục. Những trang viết đòi lại vị trí chính thống của nhà Triệu trong sử Việt thật xác đáng và thuyết phục.


 Nhưng trong khi phản bác quan niệm phổ biến của giới học giả và dân chúng Việt Nam “coi người Việt và người Mường xưa là một, đều là cư dân bản địa và chỉ tách ra từ thế kỷ 9 – 10,”  tác giả khẳng định:


 “Người Việt và người Mường từ xưa đến nay luôn là hai tộc người khác nhau và đều là sự tổng hòa các nhóm di dân từ phương Bắc. Người Mường vốn là người Mon, Man hay Mân Việt, là di dân đường biển, đến trước, chủ nhân của các văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu và Gò Mun. Người Việt vốn là người Lava hay Lạc Việt, đến sau, là chủ nhân chính của văn hóa Đông Sơn.” (Lời cuối sách)


Cùng với nhận định này là việc chứng minh văn hóa Phùng Nguyên cũng như Đông Sơn được đưa từ phía Bắc xuống!


Thử xem điều này có đúng?


1. Về người Mường.


Muốn biết nguồn gốc của chủng người nào ở nước ta hiện nay, việc trước tiên là phải hiểu về con người từng sống trên đất Việt mà cứ liệu quan trọng nhất là di cốt người cổ. Suốt thế kỷ trước, nhiều nhận định đã được đưa ra. Nhưng vào thập niên 1970, nhận ra phần nhiều tài liệu đó không chính xác, Giáo sư Nguyễn Đình Khoa của Đại học Tổng hợp Hà Nội đã khảo sát lại sưu tập 70 sọ cổ từ Thời Đồ Đá tới Thời Kim Khí, được phát hiện ở Việt Nam. Trong tác phẩm Nhân chủng học Đông Nam Á (1) ông viết: “Thoạt kỳ thủy, hai đại chủng Australoid và Mongoloid có mặt trên đất nước ta. Họ lai giống với nhau và con cháu họ lai giống tiếp, cho ra bốn chủng Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, đều thuộc nhóm loại hình Australoid.” Và  “ Suốt Thời Đồ Đá, dân cư Việt Nam gồm duy nhất loại hình Australoid. Nhưng sang Thời đại Kim Khí, người Mongoloid xuất hiện và trở nên chủ thể của đất này. Người Australoid dần biến mất, không hiểu do nhập cư hay do đồng hóa.”


Sau 30 năm nhìn lại, trong sự đối chiếu với tư liệu di truyền học mới nhất, chúng tôi nhận thấy, đó là nhận định hoàn toàn xác đáng và là thành tựu cao nhất mà phương pháp đo sọ cổ điển có được. Chứng cứ thu được từ di cốt tổ tiên và từ ADN lấy từ dòng máu người Việt Nam hiện đại hoàn toàn khẳng định: người Phùng Nguyên là người Australoid bản địa. Như vậy, ý tưởng cho rằng người Mường là do người Mon, Man, Mân Việt từ Nam Trường Giang xuống, tạo nên vào thời Phùng Nguyên là không có cơ sở! Thực tế đã diễn ra lịch sử trái ngược: chính người Việt từ 40.000 năm trước đi lên Trung Quốc, để lại hậu duệ là người Man, Môn, Mân Việt.


2. Người Việt là ai?


Đoạn trích ở trên có một ý quan trọng: “Nhưng sang Thời đại Kim Khí, người Mongoloid xuất hiện và trở nên chủ thể của đất này.” Điều này có nghĩa là, vào cuối thời Phùng Nguyên, người da vàng Mongoloid xuất hiện, thay thế dân da đen Australoid!


Một câu hỏi: Họ từ đâu tới? Tài liệu khảo cổ học và di truyền học cho thấy, đúng như khảo cứu của Tạ Đức, họ là người Việt từ phương Bắc xuống. Câu hỏi tiếp: do nhập cư hay do đồng hóa mà mã di truyền của họ trở thành chủ thể trên đất Việt?


a. Về khả năng nhập cư.


Nhập cư là việc người từ nơi nào đó tới cưỡng chiếm địa bàn sinh sống của dân cư bản địa, tiêu diệt hay trục xuất họ đi nơi khác. Với quy mô lớn tới mức thay thế cả khối dân cư Việt đông đảo thời Phùng Nguyên thì chỉ có thể là cuộc xâm lăng tầm cỡ nhà nước. Sử sách hay truyền thuyết không hề nói tới việc này. Khảo sát di truyền học, chúng tôi cũng không thấy có sự kiện như vậy. Trong một nghiên cứu về nguồn gốc dân cư Đông Nam Á, S. W. Ballinger khám phá: “Người Việt Nam có đa dạng di truyền cao nhất trong các dân cư châu Á.” (2) Một khi người Việt Nam có đa dạng di truyền cao nhất trong dân cư châu Á thì khả năng một tập đoàn lớn người từ Trung Quốc tới chiếm đất Việt Nam, diệt chủng hay trục xuất người Phùng Nguyên rồi giữ vị trí độc tôn là không thể xảy ra! Nếu có chuyện này, thì người Việt Nam đương nhiên phải có chỉ số đa dạng di truyền thấp hơn cha ông, có nghĩa là thấp hơn người Trung Quốc. Tư liệu di truyền học đã bác bỏ, chứng tỏ khả năng nhập cư lớn dẫn đến thay thế là không có!


b. Về khả năng chuyển hóa.


Trong bốn chủng người Việt cổ xuất hiện ban đầu trên đất Việt Nam: Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid thì chủng Indonesian, sau này được gọi là Lạc Việt, chiếm đa số. Theo định luật di truyền học, thì tuy vẫn thuộc loại hình Australoid nhưng người Indonesian có tỷ lệ máu Mongoloid cao hơn cả. Vì vậy, khi người Mongoloid phương Nam tới hòa huyết với họ, thì như giọt nước làm tràn ly, chỉ cần bổ sung lượng nhỏ gen Mongoloid, lớp con lai đã trở thành Mongoloid phương Nam. Rồi lớp con cháu họ hòa huyết tiếp với dân bản địa, gây phản ứng dây chuyền, tăng nhanh nhân số người Mongoloid phương Nam. Chứng cứ tiêu biểu cho sự kiện này là di chỉ Mán Bạc tỉnh Ninh Bình 2000 năm TCN, có 30 di hài người Mongoloid và Australoid được chân chung. Đó là chỉ dấu cho thấy hai chủng này đã từng chung sống hòa bình. Khảo cổ học xác nhận, ở Việt Nam, việc chuyển hóa từ Australoid sang Mongoloid cho tới 2000 năm TCN thì hoàn tất. Điều này nằm trong quá trình Mongoloid hóa dân cư Đông Nam Á, một sự kiện nhân chủng học lớn điễn ra trên toàn bộ Đông Nam Á từ khoảng năm 2500 tới 2000 TCN. Phát hiện của Ballinger cũng chứng tỏ số người từ phía Bắc xuống không nhiều nên độ đa dạng di truyền thấp của họ không làm giảm đáng kể độ đa dạng di truyền của khối dân cư Việt đông đảo!


Vào Thời Đồ Đá, trên đất Việt Nam không chỉ có người Indonesian mà chủng đông thứ hai là Melanesian. Khi tiếp xúc với người Mongoloid phương Nam, người Melanesian cũng nhận được một lượng gen Mongoloid nhất định. Tuy nhiên, do tỷ lệ máu Mongoloid của họ thấp (so với Indonesian) nên sau quá trình hòa huyết, họ trở thành nhóm loại hình Indonesian hiện đại của chủng Mongoloid phương Nam, một nhánh của tộc Việt, như nhân chủng học xác nhận. Đó là người Chăm, người Êđê, Bana cùng nhiều tộc thiểu số cư trú trên dải Trường Sơn.


Số phận hai chủng Vedoid và Negritoid, những người da đen mang đậm dấu vết tổ tiên châu Phi ra sao? Họ là cộng đồng thiểu số, tồn tại lâu dài trên đất Việt. Nhưng tới một lúc nào đó, họ di cư ra các đảo Đông Nam Á hoặc lai giống với người Mongoloid phương Nam để hòa tan trong cộng đồng dân tộc Việt. Vết tích của họ là những bức tượng người phụ nữ châu Phi mà nhiều học giả không giải thích được xuất xứ.


Như vậy, có số lượng hạn chế người Việt từ phương Bắc xuống, hòa huyết với người Phùng Nguyên bản địa, sinh ra người Đông Sơn, tổ tiên dân cư Việt Nam hiện nay: người Việt, người Mường, các tộc ít người phía Bắc, người Chăm, các tộc người Tây Nguyên.


Ở đây cần nói rõ, “người Việt từ Trung Quốc” cũng chính là hậu duệ của những người từ Việt Nam đi lên khai phá Hoa lục từ 40.000 năm trước. (3)


3. Sự phân hóa Việt – Mường.


Từ cuối thời Đông Sơn, hầu hết dân cư Việt Nam là người Việt thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Người Chăm và các tộc thiểu số Tây Nguyên sống ở miền Trung và Tây Nguyên. Trong khi đó, số đông sống từ Thanh Nghệ ra Bắc Việt Nam và miền Nam Dương Tử. Từ đầu Công Nguyên, dân cư đồng bằng sông Hồng tiếp xúc nhiều hơn với văn hóa phía Bắc nên đạt được những tiến bộ nhất định. Do chữ Nho du nhập nên ngôn ngữ đơn âm hóa mạnh. Ở thời điểm nào đó (nhiều học giả cho là khoảng thế kỷ IX-X) người miền xuôi và kẻ mạn ngược tách thành hai nhóm, được gọi là người Việt, người Mường. Đó chỉ là sự phân chia theo ngôn ngữ và tập tính sinh hoạt, còn mã di truyền là một! Việc dùng danh xưng “người Việt” cho dân cư đồng bằng sông Hồng là không thỏa đáng. Chính xác phải gọi là người Kinh, còn Việt là danh xưng chung của cộng đồng tộc Việt xuất hiện từ khi văn hóa đá mới Hòa Bình sáng tạo chiếc rìu (việt).


 


4. Kết luận & bài học


 


Từ phân tích trên, có thể nhận định:


-           Người Phùng Nguyên mang mã di truyền Australoid, là dân cư bản địa, hậu duệ của người Hòa Bình, Bắc Sơn, không phải từ phương Bắc di cư xuống, cũng không phải là người Mường.


-           Người Đông Sơn hình thành do số lượng nhỏ người Việt chủng Mongoloid phương Nam từ phương Bắc di cư xuống, hòa huyết với người Phùng Nguyên. Đó là tổ tiên chung của người Việt hiện đại.


-           Văn hóa Phùng Nguyên là văn hóa bản địa. Văn hóa Đông Sơn được phát triển từ văn hóa Phùng Nguyên, cũng là văn hóa bản địa, mang đậm bản sắc của văn hóa Việt.


-           Quan niệm “coi người Việt và người Mường xưa là một, đều là cư dân bản địa” của giới học giả Việt Nam là hoàn toàn chính xác.


Bài học được rút ra:


Suốt thế kỷ XX, học thuật Việt Nam ngột ngạt vì quan niệm “Hoa tâm” cho rằng, Trung Quốc là trung tâm của châu Á. Từ đây con người cùng văn minh Hoa Hạ tỏa ra khai hóa các dân tộc man di. Tuy nhiên, trong màn đêm tăm tối đó vẫn ló ra vài tia sáng. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, học giả người Pháp H. Frey, trong cuốn L'Annamite, mère des langues; communauté d'origine des races celtiques, sémitiques, soudanaises et de l'Indo-Chine (Tiếng Việt, mẹ của các ngữ; cộng đồng có nguồn gốc của các chủng tộc Celtic, Do Thái, Sudan và Đông Dương - Paris, 1892, 248p) cho rằng tiếng Việt Nam là mẹ của các tiếng nói phương Đông. Vào tháng Giêng năm 1932, Hội nghị khoa học về Tiền sử Viễn Đông họp ở Hà Nội, đưa ra nhận định: "Văn hóa Hòa Bình là trung tâm phát minh nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp cùng chăn nuôi gia súc đầu tiên trên thế giới. Trung tâm nông nghiệp Hòa Bình có trước vùng Lưỡng Hà 3000 năm." (Encyclopédia d’Archeologie). Năm 1952, học giả Hoa Kỳ C. Sauer trong cuốn Cội nguồn nông nghiệp và sự phát tán (Agricultural Origins and Dispersals) khẳng định: "Ðúng là nông nghiệp đã tiến triển qua hai giai đoạn mà giai đoạn đầu là văn hóa Hòa Bình. Lúa nước đã được trồng cùng lúc với khoai sọ." “Tôi đã chứng minh Ðông Nam Á là cái nôi của nền nông nghiệp cổ nhất. Và tôi cũng chứng minh rằng văn hóa nông nghiệp có nguồn gốc gắn liền với đánh cá bằng lưới ở xứ này. Tôi cũng chứng minh rằng những động vật gia súc xưa nhất bắt nguồn từ Ðông Nam Á, và đây là trung tâm quan trọng của thế giới về kỹ thuật trồng trọt và thuần dưỡng cây trồng bằng cách tái sinh sản thực vật…"


  Nhưng đáng tiếc là những tiếng nói sáng suốt này không được các học giả Viện Viễn Đông Bác Cổ lắng nghe. Họ vẫn lái học thuật Việt Nam theo đường cũ.


Vào thập niên 1970, từ những khai quật khảo cổ ở Thái Lan, Giáo sư Đại học Hawaii W. Solheim II trong bài báo gây chấn động Ánh sáng mới soi vào vùng bị quên lãng (New light on Forgotten Past. National Geographic, Vol. 139, No. 3, 3. 1971) đã viết:


   "Tôi cho rằng khi chúng ta nghiên cứu lại nhiều cứ liệu ở lục địa Ðông Nam Á, chúng ta hoàn toàn có thể phát hiện ra rằng việc thuần dưỡng cây trồng đầu tiên trên thế giới đã được dân cư Hòa Bình (Việt Nam) thực hiện trong khoảng 10.000 năm TCN..."


  "Rằng văn hóa Hòa Bình là văn hóa bản địa không hề chịu ảnh hưởng của bên ngoài, đưa tới văn hóa Bắc Sơn."


  "Rằng miền Bắc và miền Trung lục địa Ðông Nam Á có những nền văn hóa tiến bộ mà trong đó đã có sự phát triển của dụng cụ đá mài nhẵn đầu tiên của châu Á, nếu không nói là đầu tiên của thế giới và gốm đã được phát minh..." "Rằng không chỉ là sự thuần hóa thực vật đầu tiên như ông Sauer đã gợi ý và chứng minh mà thôi, mà còn đi xa hơn, nơi đây đã cung cấp tư tưởng về nông nghiệp cho phương Tây. Và sau này một số cây đã được truyền đến Ấn Ðộ và châu Phi..."                           


Hơn 20 năm sau là công trình Địa đàng ở phương Đông của S. Oppenheimer, Giáo sư Đại học Oxford nước Anh (4). Bằng nhiều cứ liệu xác thực cùng óc tượng tượng siêu việt, ông trình bày một cách thuyết phục rằng, thềm Biển Đông từng là lục địa, là vườn ươm dân cư cùng văn hóa phương Đông. Trước khi bị biển nhấn chìm, nó đã kịp tạo ra dân cư cùng nền văn hóa nông nghiệp tiên tiến của nhân loại.


Đặc biệt là vào năm 1998, nhóm công tác do Giáo sư gốc Hoa J.Y. Chu của Đại học Texas lãnh đạo, sau nhiều năm thực hiện Dự án Quan hệ di truyền của dân cư Trung Quốc (Genetic Relationship of Population in China) (5) với số tiền 1.000.000 USD do Quỹ phát triển khoa học tự nhiên Trung Quốc tài trợ, đã công bố:


“Người hiện đại Homo sapiens xuất hiện đầu tiên ở châu Phi, khoảng 160 tới 200.000 năm trước.


-           70.000 năm trước, người tiền sử theo bờ biển Nam Á tới Việt Nam. Tại đây, họ hòa huyết, tăng nhân số để 50.000 năm trước di cư ra các đảo Đông Nam Á, tới Ấn Độ. Khoảng 40.000 năm trước, khi khí hậu phía Bắc tốt hơn, người từ Việt Nam đi lên khai phá vùng đất nay là Trung Quốc và 30.000 năm cách nay vượt eo Bering, chinh phục châu Mỹ…”


Nhiều tờ báo của người Việt tại Hoa Kỷ hồ hởi loan tin này. Từ năm 2001 học giả người Việt ở Úc tiếp thu và phổ biến trên tạp chí Tư Tưởng. Tiếp đó, nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước được thực hiện, khẳng định tiến trình lịch sử chân thực của phương Đông với chiều hướng: Con người xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam rồi đem văn hóa đá mới, văn hóa nông nghiệp lan tỏa ra châu Á và thế giới.


 


Thiết tưởng, trong hoàn cảnh một đất nước trải hơn ngàn năm nô lệ, rồi những cuộc chiến tranh liên miên, sách sử vốn đã hiếm lại bị cướp phá, thiêu hủy và xuyên tạc thì những thông tin quý giá trên phải được người trí thức nhiệt tâm đón nhận, biến thành ngọn đuốc dẫn đường đưa dân tộc đi tới. Thật khó hiểu là vì sao các nhà khoa bảng trong nước dường như không biết đến chuyển biến động trời này, để vẫn tự cầm tù trong những quan niệm vừa thực dân vừa ngu dân của quá khứ?!


Ông Tạ Đức nói rằng, ý tưởng thiên di-truyền bá là ông nhận được từ Đào Duy Anh và Bình Nguyên Lộc. Ta có thể thấy, vào thập niên 1940-1970 do hạn chế về tư liệu, đề xuất của các vị trên là những giả thuyết có tính tìm tòi. Nhưng nay, sau thập niên đầu của thế kỷ XXI, khoa học nhân loại đã đi những bước dài. Không chỉ cổ nhân chủng học mà cả di truyền học đều xác nhận, dân cư trên đất Việt Nam hình thành sớm và liên tục từ Sơn Vi, Hòa Bình tới Bắc Sơn, Phùng Nguyên… Do vậy, thuyết của Đào Duy Anh và Bình Nguyên Lộc không còn đất đứng. Kéo dài thêm sai lầm của những người đi trước, sách của ông Tạ Đức không chỉ trái ngược với thực tế lịch sử mà còn đẩy khoa học nhân văn Việt Nam thụt lùi một nửa thế kỷ! Không những thế, do phủ định nguồn gốc bản địa của con người và văn hóa Việt, nó gây hoang mang, làm nản lòng những ai đang gom nhặt chắt chiu từng mảnh vụn của quá khứ, khôi phục gia tài lịch sử chân thực của dân tộc.


Phải chăng đó là bài học lớn mà chúng ta cần chiêm nghiệm?                                                                                                        Ngày 10.3. 2014


______                  


1.         Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB DH&THCN, 1983.


2.         S.W. Ballinger&et al. Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration. Genetic 1992, N.130 ps.139-45).


3.         Hà Văn Thùy. Tìm cội nguồn qua di truyền học. NXB Văn học, 2011


4.         Stephen Oppenheimer. Địa đàng ở phương đông. Lục địa Đông Nam Á bị chìm. NXB Lao Động, 2004.


5.         J.Y. Chu & et al.  Genetic Relationship of Population in China


      www.pnas.org/content/95/20/11763


 


 


“NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT-NGƯỜI MƯỜNG” VÀ THỰC TRẠNG HỌC THUẬT VIỆT NAM


Sau khi nắm quyền, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chủ trương xây dựng nền khoa học xã hội và nhân văn của quốc gia độc lập với phương châm Dân tộc - Khoa học - Đại chúng. Là những người macxit, từ các lãnh tụ như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng tới các học giả của nhà nước đều theo quan niệm duy vật lịch sử. Trụ cột của quan niệm này là vai trò quyết định của yếu tố nội tại đến sự phát triển của dân tộc: văn hóa Việt Nam tuy có tiếp thu nhân tố bên ngoài nhưng về bản chất vẫn là văn hóa bản địa, do chính người dân từng sống trên đất Việt Nam trong quá khứ làm nên. Mặt khác, cũng do trải nghiệm những tiêu cực của thuyết thiên di-du nhập, những người đề xướng nền học thuật mới dị ứng gay gắt chủ trương này, coi đó là sản phẩm của thực dân, tư sản phản động.


Vào thập niên 1970, với ý chí chính trị của cả hệ thống, nhà nước Việt Nam đã tập trung khám phá văn hóa Đông Sơn để từ đó khẳng định thời Hùng vương trong lịch sử dân tộc. Từ sau toàn thắng năm 1975, khi tổng kết thành tựu xây dựng đất nước, các báo cáo chính thức đều khẳng định hai thành tựu trên của học thuật xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Tuy nhiên, từ thập niên 90 thế kỷ trước, xuất hiện nhiều ý kiến của học giả trong và ngoài nước phản biện những đánh giá trên, phủ nhận thời Hùng Vương trong lịch sử Việt và cho rằng, học thuật Việt Nam tuân theo mục tiêu chính trị, mang tinh thần chủ nghĩa dân tộc cực đoan, duy ý chí.


Vấn đề cần làm hôm nay là nghiêm túc đánh giá một cách khách quan, khoa học xem quan niệm phát triển nội tại của lịch sử văn hóa Việt Nam có phù hợp với thực tế?


Muốn làm việc này, điều tiên quyết là phải xác định xem dân cư trên đất Việt Nam thời tiền sử là người bản địa hay nhập cư?


Chứng cứ trực tiếp và vững chắc nhất để xác định chuyện này là khảo di cốt người cổ từng sống trên đất Việt Nam.


Năm 1983, từ giám định một cách hệ thống và chính xác sưu tập 38 cốt sọ thời Đá Mới và 32 cốt sọ thời Đồng-Sắt được tìm thấy ở Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Đình Khoa trong sách Nhân Chủng Học Đông Nam Á (1) nhận định:


-           Vào thời đại Đá Mới, cư dân trên lãnh thổ Việt Nam thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó Indonesien và Melanesien là hai thành phần chủ yếu.


-           Sang thời Đồng- Sắt, người Mongoloid đã là thành phần chủ thể trong khối cư dân ở Việt Nam, người Australoid mất dần đi trên đất nước này, hoặc do thiên cư, hoặc do đồng hóa (trang 106)


Như vậy, dân cư trên đất Việt Nam suốt thời Đồ Đá, từ Con Moong, Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn tới Phùng Nguyên là người bản địa, loại hình Australoid, thống nhất và liên tục. Cũng do dân cư bản địa, thống nhất và liên tục cho nên các văn hóa trên đất Việt Nam cũng là văn hóa bản địa. Từ đó, đưa tới kết luận: cả dân cư và văn hóa trên đất Việt từ xa xưa tới cuối thời Phùng Nguyên là dân cư và văn hóa bản địa!


Giờ ta bàn tới nhận định thứ hai: sang thời Đồng-Sắt, người Mongoloid là thành phần chủ thể. Điều này là rõ ràng qua các cốt sọ. Nhưng vấn đề là, họ từ đâu tới và do nhập cư hay do đồng hóa? Đó là câu hỏi mà khoa học thế kỷ XX không có câu trả lời!


May mắn là sang thế kỷ này, với hàng loạt nghiên cứu di truyền học được công bố, cho thấy: người Khôn ngoan Homo sapiens từ châu Phi di cư tới Việt Nam 70000 năm trước. Sau khi gặp gỡ, hòa huyết tăng nhân số, họ đã tỏa ra khắp châu Á và từ 40.000 năm trước đã chiếm lĩnh đất Trung Hoa.


Bằng khảo cứu của mình, được công bố trong ba cuốn sách: Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (NXB Văn Học, 2007), Hành trình tìm lại cội nguồn (NXB Văn học, 2008) và Tìm cội nguồn qua di truyền học (NXB Văn Học, 2011) và hàng trăm bài viết, chúng tôi đã chứng minh rằng, 5000 năm TCN, tại trung lưu Hoàng Hà, người Việt (Australoid) lai giống với người Mông Cổ (North Mongoloid) sinh ra người Việt chủng Mongoloid phương Nam, là chủ nhân văn hóa Ngưỡng Thiều. Khoảng giữa thiên niên kỷ II TCN, người Việt vùng Núi Thái-Sông Nguồn di cư về Việt Nam, đem nguồn gen Mongoloid hòa huyết với người Phùng Nguyên mã di truyền Australoid, sinh ra người Mongoloid phương Nam, chủ nhân văn hóa Đông Sơn và là tổ tiên người Việt Nam hiện đại. (2)


Để trả lời câu hỏi: dân cư Đông Sơn hình thành do nhập cư hay do đồng hóa, ta xét những sự kiện sau:


Chứng cứ khảo cổ học cho thấy, quá trình hình thành chủng Mongoloid phương Nam trên đất Việt kéo dài khoảng nửa thiên niên kỷ, hoàn tất vào khoảng 2000 năm TCN. Dấu vết của việc chung sống, hòa huyết còn để lại rất rõ trong văn hóa Hạ Long, đặc biệt ở di chỉ Mán Bạc tỉnh Ninh Bình với ngôi mộ có 30 thi hài người Australoid và Mongoloid được chôn chung. Điều này chứng tỏ, không có sự xâm nhập lớn với mục đích tiêu diệt hay trục xuất người bản địa để độc chiếm địa bàn mà là sự chung sống hòa bình. Từ đó, cuộc hòa huyết trong thời gian dài dẫn tới chuyển hóa dân cư về di truyền học.


Một chứng cứ khác cũng xác nhận điều này. Đó là nghiên cứu của S. W. Ballinger và đồng nghiệp (3) cho thấy, Người Việt Nam hiện đại có chỉ số đa dạng di truyền cao nhất trong các dân cư châu Á. Chỉ số đa dạng di truyền là một phẩm tính của sinh vật. Càng gần tổ tiên, chỉ số đa dạng di truyền càng cao. Việc người Việt Nam có chỉ số đa dạng di truyền cao nhất trong dân cư châu Á nói lên rằng, người Việt Nam gần tổ tiên hơn bất cứ dân tộc châu Á nào. Điều này có nghĩa, Việt Nam là nơi phát tích của các dân tộc châu Á. Một hệ quả khác là nó chứng tỏ không hề có cuộc nhập cư lớn, ồ ạt người từ phương Bắc để thay thế cư dân Phùng Nguyên. Bởi lẽ, nếu sự nhập cư mang tính thay thế xảy ra thì người Việt Nam hiện nay, là con cháu những người nhập cư, buộc phải có chỉ số đa dạng di truyền thấp hơn người Trung Quốc hiện đại! Phát hiện của Ballinger là chứng cứ cho thấy: người từ Trung Quốc xuống với số lượng đủ để chuyển hóa dân cư Phùng Nguyên sang Mongoloid phương Nam nhưng không lớn tới mức làm giảm chỉ số đa dạng di truyền dân cư Đông Sơn xuống thấp hơn hay bằng dân cư Trung Quốc. Điều này có nghĩa là, người Phùng Nguyên không bị thay thế bằng người nhập cư phương Bắc! Từ phân tích trên, ta có quyền khẳng định: dân cư Đông Sơn vẫn là người bản địa!


Bây giờ xét về mặt văn hóa: văn hóa Đông Sơn là văn hóa bản địa hay du nhập? Đây là điều phức tạp vì việc giám định niên đại các nền văn hóa còn bị tranh cãi. Nhưng ta biết rằng, người Hòa Bình đã đưa công cụ đá mới lên văn hóa Ngưỡng Thiều. Khảo cổ học cho biết, việc nấu đồng xuất hiện ở Phùng Nguyên trước lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử. Phần lớn hiện vật Đông Sơn như rìu, búa, thạp đồng, đồ gốm… là sự tiếp tục các motip văn hóa Phùng Nguyên. Như vậy, văn hóa Đông sơn cũng là văn hóa bản địa. Khi con người chủ thể là người bản địa thì đương nhiên văn hóa do họ tạo dựng cũng là văn hóa bản địa. Người nhập cư phương Bắc chắc chắn đã góp sự khôn ngoan của mình vào sự khôn ngoan chung của người Việt Nam. Có thể thấy điều này qua Ngọc phả Hùng Vương: “Những người từ biển vào, họ rất hiền lành, giúp dân nhiều việc tốt. Dân đã chọn người giỏi nhất trong số họ làm vua!” Đó là sự thật. Nhưng cho rằng người phương Bắc nhập cảng văn hóa tạo nên thời Đông Sơn là không có cơ sở!


   Như vậy có thể kết luận: suốt thời tiền sử, từ thời Đồ Đá tới thời Kim khí, con người và văn hóa trên đất Việt Nam đều là bản địa.


 Kết luận trên cho thấy, dù bị gọi là “phục vụ chính trị”, mang tinh thần “chủ nghĩa dân tộc” hay “duy ý chí” thì việc xác định cái nền bản địa của con người và văn hóa Việt Nam là hoàn toàn chính xác. Và đó chính là thành tựu cơ bản của khoa học nhân văn Việt Nam thế kỷ XX.


Tới đây, một câu hỏi cần được trả lời một cách công bằng và khoa học: vì sao những người chủ trương phát triển nội tại đã đúng? Nếu cho rằng do họ mù quáng theo thuyết macxít nên may mắn đúng thì quá đơn giản! Theo chúng tôi, chính bởi lẽ họ là người Việt Nam yêu nước, có tư duy độc lập. Từ trong tâm cảm họ đã nhận ra người Việt có một nguồn cội sâu xa và văn hóa Việt từ nguồn cội ấy phát triển lên.


Từ nhận thức như thế, chúng tôi thật ngạc nhiên khi đọc Nguồn Gốc Người Việt-Người Mường của ông Tạ Đức. Trong đó, theo quan niệm thiên di-du nhập, tiếp tục những sai lầm của Đào Duy Anh, Bình Nguyên Lộc, tác giả cho rằng, cả con người cùng văn hóa Phùng Nguyên và Đông Sơn đều là sản phẩm nhập cảng từ Trung Quốc. Về chuyện này chúng tôi đã phản bác bằng bài viết Một Kiến Giải Sai Về Nguồn Gốc Dân Tộc.


   Thiết tưởng không còn gì để nói nếu trong sách không in kèm hai bài viết, một là Lời Giới Thiệu của Giáo sư Sử học Lê Văn Lan và Nhận Xét 2 của Tiến sĩ Nguyễn Việt, Giám dốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á. Sau khi đánh giá cao khối tư liệu đồ sộ của cuốn sách “hứa hẹn sẽ khuấy lên những cuộc tranh cãi, nhằm góp phần đánh thức tình trạng như có vẻ ly bì, mệt mỏi, bế tắc của nền học thuật nhân văn nước nhà,” phải chăng vì không thể phân biệt chân ngụy, vị tiến sĩ, như người khách qua đường, vô tư bỏ đi mà không hề bộc lộ chính kiến?! Đáng chú ý là bài viết của sử gia họ Lê:


  “Khi trao tay bản thảo cuốn sách này, Tạ Đức đã hẹn và tôi đã nhận: đọc xong trong một tuần!


Nhưng một tuần, rồi gấp đôi thế, tôi vẫn chưa thể đọc xong. Bởi quá nhiều vấn đề. Lại toàn là những “chuyện tày đình” cả! Tuy nhiên thật mừng là khá lâu rồi, bây giờ mới thấy có người đủ sức, đặc biệt là đủ gan để làm những chuyện này.


Cái gan đầu tiên, chính là việc không những chê, mà còn gỡ bỏ, điều mà tác giả gọi là “vòng kim cô” của những học thuyết một thời chính thống về sự phát triển bản địa tuyệt đối (liên quan đến các vấn đề tự lực tự cường, độc lập tự chủ…) của dân tộc, về sự coi nhẹ, thậm chí phủ nhận, các tác động và ảnh hưởng quyết định ngoại lai, đặc biệt là các cuộc và kiểu thiên di (liên quan đến sự nghiệp chống ngoại xâm, chống can thiệp từ bên ngoài…) của lịch sử.


Tôi – từ cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thế kỷ trước, khi đi khai quật lần thứ nhất Phùng Nguyên, tham gia phát hiện Núi Đọ, sớm tìm kiếm thêm được nhiều trống đồng v.v… cũng ở trong số những người đầu tiên đội và truyền những “vòng kim cô” như thế, đồng thời, cũng nhiều lần giật mình nhận ra là sự thể là kẻ “sống sót” được từ ấy cho tới tận bây giờ.


   Vì thế, mấy tuần liền đọc bản thảo cuốn sách này, thấy tác giả nói khơi khơi về nguồn gốc phương Bắc của Phùng Nguyên, Đông Sơn; về các cuộc di dư từ đủ các miền phương Bắc để không những thành ra người Việt, người Mường mà còn thành ra cả các đấng bậc từ Hùng Vương đến nhà Lý, nhà Trần, nhà Nguyễn v.v… thì đầu tiên không khỏi thấy lạ và ái ngại nữa!


   Nhưng rồi qua từng trang, từng mục, đọc rất hấp dẫn, thấy tác giả, khi nói ra những điều này, là nói với cái gan dạ từ một tinh thần khoa học thực sự cầu thị, từ một ý chí và tấm lòng kiên định, nhiệt thành vì sự phát triển-đổi mới của khoa học lịch sử; và nhất là cái hệ thống mà Tạ Đức xây dựng nên ở đây, là sản phẩm của một qúa trình tìm tòi, khám phá, đặc biệt là tổng hợp, công phu, rộng lớn và có phương pháp; đồng thời thăng (cân) bằng rành rẽ trên nền của bước phát triển khoa học và công nghệ thông tin hiện đại.


    Tôi thấy - như tác giả đã tâm sự - vấn đề chỉ còn là xem xét, coi những luận cứ và bằng chứng được trình bày ở sách này có đủ độ xác tín, đã đủ sức thuyết phục hay chưa.


Vì thế cuốn sách này cần được đọc kỹ. Nó rất dày, với nhiều thông tin và vấn đề, nhưng dễ đọc, thậm chí còn lôi cuốn người ta chăm chú đọc. Và rồi: nghĩ.


Hà Nội, đầu Hạ, 2014. Nhà sử học Lê Văn Lan.”


 


    Đọc bài viết, trong đầu tôi vẩn vơ suy nghĩ: Phải chăng cuốn sách của ông Tạ Đức có sức mạnh ma mị khiến cho nhà sử học lão thành bỗng chốc tỉnh ngộ, ly khai với lý tưởng từng đeo đuổi gần suốt cuộc đời?! Không phải vậy. Có lẽ, vị sử gia già lão, nói như Tiến sĩ Nguyễn Việt, đang trong “tình trạng như có vẻ ly bì, mệt mỏi, bế tắc trước nền học thuật nhân văn nước nhà”; nghĩa là đang trong trạng huống hoang mang, mất lòng tin thì cuốn sách là giọt nước tràn ly, khiến ông, một cách vô thức, bước qua lời nguyền, dứt bỏ “vòng kim cô”, đã từng một thời là vòng nguyệt quế mà ông góp sức làm nên!


    Nhưng thật đáng tiếc, hành động này đã biến sử gia thành kẻ đào ngũ trong ngày chiến thắng! Không chỉ hôm nay mà mười năm rồi, khoa học nhân loại đưa ra hàng tấn chứng cứ khẳng định sự đúng đắn của thuyết phát triển nội tại: Việt Nam là nơi phát tích của các dân tộc châu Á và cũng là cái nôi của văn hóa châu Á! Một câu hỏi được đặt ra: tại sao những chuyện động trời như vậy trong chính lĩnh vực chuyên môn của mình mà Giáo sư không biết?! Người xưa thường nói: giấy rách giữ lấy lề! Thảm thương thay, cuốn sách Khoa Học Nhân Văn Việt Nam đã rách tả tơi mà bây giờ những vị trụ cột của nó lại xé bỏ luôn cả cái lề!


    Điều đáng mừng là, không lạc điệu như sử gia, hàng vạn trí thức bình dân Việt đã biết về cội nguồn đích thực của con người cùng văn hóa Việt, dù rằng tri thức mà họ thâu lượm được hầu như chỉ từ “lề trái!” Họ kỳ vọng có một ngày, những người như Giáo sư đứng lên dõng dạc tuyên bố: “Dù cho ai nói ngả nói nghiêng thì chúng tôi vẫn kiên trì quan điểm về sự phát triển nội tại của lịch sử, văn hóa Việt Nam! Thực tế đã chứng tỏ rằng đó là điều đúng đắn. Mặc dù có những sai lầm không tránh khỏi nhưng việc đề xuất và kiên trì chủ trương phát triển nội tại là thành tựu cơ bản của khoa học nhân văn Việt Nam. Nó là hòn đá tảng để chúng ta xây dựng nền khoa học nhân văn Việt Nam thời đại mới!” Điều mơ ước đó không xảy ra. Tiếc cho sử gia! Cũng tiếc cho tác giả Tạ Đức. Là người có lẽ có tài và có gan muốn tạo lập lâu đài tri thức hoành tráng in dấu ấn của riêng mình nhưng do sai ngay từ khâu thiết kế nên công trình thế kỷ chỉ còn là đống vụn tư liệu!


    Một cuốn sách lạc đường, đẩy học thuật Việt thụt lùi hơn nửa thế kỷ cùng những Giáo sư, Tiến sĩ mất phương hướng, bộc lộ thảm trạng của khoa học nhân văn Việt Nam. Bên trong, không đủ tâm và trí để nói với nhân dân về cội nguồn cùng văn hóa đích thực của dân tộc; thậm chí vẫn ca những bài ca mốc meo về “ngã tư đường giao lưu quốc tế,” về “tiếp biến văn hóa,”  về “tiếng Việt mượn 70% từ ngôn ngữ trung Hoa”… Bên ngoài, nó câm nín trước những đòn tấn công hiểm ác không chỉ xuyên tạc chính nghĩa dân tộc trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm mà cả những mưu toan nhân danh khoa học phủ định tới cỗi rễ dân tộc Việt! (K. Taylor: Tôi đã bắt đầu giảng dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào? L. Kelley: “Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại).


 


     Một nền khoa học nhân văn như thế thực sự là thảm họa của dân tộc!


 


Tài liệu tham khảo:


1.         Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB DH&THCH, 1983


2.         Hà Văn Thùy. Tìm cội nguồn qua di truyền học. NXB Văn học, 2007


3.         S.W. Ballinger et al. Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration. Genetic 1992, N.130 ps.139-45).


 


TRAO ĐỔI VỚI PGS.TS BÙI XUÂN ĐÍNH


Từ thông tin trên mạng, được biết PGS.TS Bùi Xuân Đính là người quyết liệt ngăn cản buổi ra mắt sách Nguồn Gốc Người Việt-Người Mường của tác giả Tạ Đức; sau đó đọc bài viết Bàn Về “Nguồn Gốc Người Việt- Người Mường” của ông đăng trên tạp chí Dân Tộc Học số 1.2014, tôi xin trao đổi với ông đôi điều.


1.


Ngăn cản việc ra mắt cuốn sách nào đó là quyền của ông Bùi Xuân Đính. Tuy nhiên, cái quyền này lại vi phạm quyền của nhiều người: ông Tạ Đức, Nhà xuất bản Trí thức và Nhà văn hóa Pháp. Về nguyên tắc, là thiểu số, quyền của ông bị phủ nhận. Nhưng do điều kiện cụ thể của đất nước, dựa vào cơ chế, ông là người thắng cuộc. Buổi ra mắt sách bị hủy bỏ. Chiến thắng của ông là thất bại của dân chủ, nhân bản và văn minh.


Là người đọc và nhận ra cái hỏng trong cuốn sách của ông Tạ Đức, tôi đã có thư trao đổi với tác giả, sau đó viết bài đăng trên mạng (Một Kiến Giải Sai Về Nguồn Gốc Dân Tộc, trannhuong.com). Tuy nhiên, tôi vẫn muốn cuốn sách được ra mắt như một chuyện bình thường. Tin vào lương tri người đọc, tôi cho rằng, nếu được thực hiện, cùng với sự trình bày của tác giả, chắc chắn có những ý kiến phản biện. Hy vọng qua hội thảo dân chủ, thân tình, chân lý sẽ dần dần phát lộ. Thực tế đã diễn ra như vậy: bên cạnh người ủng hộ cuốn sách như sử gia Lê Văn Lan, Tiến sĩ Nguyễn Việt, PGS.TS Đỗ Lai Thúy… là ý kiến phản biện của TS Trần Trọng Dương, của Ông và nhiều người khác. Như mọi cuốn sách khác, khi ra đời, Nguồn Gốc Người Việt-Người Mường đã là tài sản xã hội. Phán xét nó không chỉ là quyền của hôm nay mà còn là của thời gian. Việc làm của ông dường như là sự nối dài cái dớp đen tối thời Nhân văn-Giai phẩm.


2.


Việc ông Bùi Xuân Đính chỉ ra những bất cập trong phương pháp luận của cuốn sách, như thao tác tìm kiếm tài liệu tham khảo, việc dùng những chứng cứ thiếu chuẩn… là đúng. Tuy nhiên, toàn bộ những lý giải của ông vẫn loanh quanh trong tri thức thế kỷ XX mà chưa có sự đột phá cần thiết. Vì thế, độ tin cậy của nó cũng tầm tầm, chưa thuyết phục.


Tìm nguồn gốc tộc người là công việc của sinh học, trong đó hai yếu  quyết định là di cốt tổ tiên và AND của con cháu. Thế kỷ trước, do chưa đủ chứng cứ sinh học nên học giả phương Tây buộc phải đi đường vòng, mong tìm nguồn gốc con người qua văn hóa, ngôn ngữ. Tuy nhiên, những chứng từ gián tiếp đó nhiều khi không chính xác, dẫn tới sai lầm nguy hiểm. May là ở Việt Nam, từ năm 1983, Giáo sư Nguyễn Đình Khoa, trong Nhân Chủng Học Đông Nam Á, bằng khảo sát 70 sọ cổ Việt Nam đã giải quyết phần cơ bản của công việc: suốt thời Đồ Đá, dân cư trên đất Việt Nam là người da đen thuộc loại hình Australoid. Nhưng sang thời Kim Khí, người da vàng Mongoloid xuất hiện và thay thế người da đen. Tuy biết rằng người Mongoloid từ Trung Quốc xuống nhưng Nguyễn Đình Khoa thận trọng nêu nghi vấn: không hiểu do nhập cư hay do đồng hóa? Một câu hỏi vượt quá tầm tri thức thế kỷ XX. Nhưng sang thế kỷ này, nhiều khám phá di truyền học cho thấy, khoảng 5000 năm TCN, người Việt Australoid tại văn hóa Ngưỡng Thiều và Hà Mẫu Độ hòa huyết với người Mông Cổ (North Mongoloid) sinh ra người Việt chủng Mongoloid phương Nam (south Mongoloid). Chính từ hai nền văn hóa này, người Việt vùng Núi Thái-Sông Nguồn di cư về Việt Nam, mang nguồn gen Mongoloid hòa huyết với người Việt bản địa da đen Australoid để sinh ra người Đông Sơn, tổ tiên trực tiếp của chúng ta. Điều này suốt 10 năm qua tôi đã trình bày trong ba cuốn sách và hàng trăm bài viết, ở đây không nhắc lại.


Như vậy, trên thực tế, có hai giai đoạn hình thành người Việt Nam: 40.000 năm trước, người Việt cổ (Australoid) từ Việt Nam đi lên khai phá Trung Hoa. Khoảng 4700 năm TCN, cùng với cuộc xâm lăng của Hiên Viên (lúc này người Hoa Hạ chưa ra đời), người Việt Mongolid phương Nam từ Trung Quốc trở về, góp phần sinh ra người Việt hiện đại.


Bằng con đường sinh học, chỉ cần 1% lượng giấy ông Tạ Đức đã dùng, vấn đề nguồn gốc người Việt-người Mường được trình bày một cách chính xác, khoa học.


Nhân đây xin nói một chút về thuyết thiên di-du nhập. Không có cơ sở để cho rằng học giả phương Tây từ bỏ thuyết này. Thực tế, chuyện thiên di là có thật. Homo sapiens từ đất tổ châu Phi đi ra toàn thế giới. Đó là cuộc thiên di vĩ đại. Chính người tiền sử từ châu Phi đã tới Việt Nam rồi từ đây thiên di không chỉ ra châu Á mà còn sang châu Âu, châu Mỹ. Cái sai của Đào Duy Anh, Bình Nguyên Lộc, Tạ Đức là sự vận dụng máy móc thuyết thiên di-du nhập, ngụy tạo một lịch sử lộn ngược.


3.


Do không hiểu quá trình hình thành dân cư Việt Nam, tưởng lầm Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân là người Hán nên PGS.TS Bùi Xuân Đính lại mắc thêm sai lầm đáng tiếc khi phủ định những vị thủy tổ của tộc Việt. Thực tế, truyền thuyết Kinh Dương Vương-Lạc Long Quân là âm ba của câu chuyện từng xảy ra ngót 5000 năm trước, trong cộng đồng Việt rộng lớn, từ Núi Thái-Sông Nguồn tới Ngũ Lĩnh, đất Thục và Việt Nam. Ở địa vực nước Sở cũ, nó hóa thân thành Liễu Nghị truyện. Ở Việt Nam nó được người Việt từ Núi Thái-Sông Nguồn mang về rồi truyền lưu trong dân gian, sau đó được ghi trong Lĩnh Nam chích quái. Tại các tộc thiểu số của người Việt như Mường, Thái… nó thành Đẻ Đất Đẻ Nước, Chim Ây-Cái Ứa… Vua Dịt Dàng chính là tiếng Việt cổ của danh xưng Việt Yang = Việt vương…


Căn cước của Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân là vấn đề quan trọng bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Tôi đã hơn một lần viết về chủ đề này. Mới đây là hai bài: “Tôi khẳng định Kinh Dương Vương là thủy tổ người Việt” và “Học giả Mỹ viết gì về sử Việt?” Đáng tiếc là PGS.TS Bùi Xuân Đính không hề đọc!


Tôi không nghĩ là mình đúng hoàn toàn nhưng xin PGS.TS hãy đọc và phản biện. Không gì hân hạnh cho tôi là nhận được lời chỉ giáo của PGS.TS.


 


Sài Gòn, 27. 5. 2014


HVT.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Võ Hồng Anh, một nhà khoa học chân chính - Tư liệu sưu tầm 21.10.2017
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 19.10.2017
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
xem thêm »