tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20808718
28.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế Cuộc đời và sự nghiệp (16)

KHÓC QUẢNG NINH CÔNG


Tuấn tú như cành vàng


Tư duy như cây ngọc


Tồng sao mệnh quá đoản


Từ giã đời sống thay


Cô nữ còn thơ ấu


ha mẹ già thêm cay


Than ôi thân hậu sự


Rơi lệ có bia này.


Bản dịch của Huỳnh Châu


 


ĐƯỢC CỬ GIẢNG DẠY Ở KINH DIÊN


Sách Đại học ghi tâm


Ngũ Kinh vốn uyên thâm


Luận bàn từng chi tiết


Giảng giải đạt tinh thần


Nhất là đọc Tứ thư


Tu tề đều rõ phân


Lòng vua nhiều lo lắng


Đình son lòng kính dâng


Bản dịch của Huỳnh Châu


 


TIỄN THƯƠNG SƠN CÔNG


Đức hạnh bá quan biết


Cung đình lại ưu tiên


Ủy thác dinh biệt nhgiệp


An dưỡng lúc cao niên


Đạo học như nước chảy


Thi ca tiếp thánh hiền


NHớ nhiều nhưng chẳngmộng


Xưng tụng Hiếu kinh thiên


Bản dịch của Huỳnh Châu


 


CÙNG CÁC QUAN ĐI THUYỀN


Sóng nhỏ gấp chèo thuyền


Mưa bay cách ngoài thềm


Lên đường thôi tương biệt


Quay đầu cảm khái thêm


Quân thân hai tâm niệm


Đi ở hai nỗi niềm


Đa tạ lòng lưu luyến


Gió xuân tiễn đưa thuyền


Bản dịch của Huỳnh Châu


HỌA BA BÀI THƠ NGỰ CHẾ VUI
TẾT NGUYÊN ĐÁN


*Bài 1


Đầu năm cho điềm tốt


Đồng hồ điểm ngày lành


Sương dày trời lạnh tợn


Gió hẩy cảnh trongxanh


Cung cấm màu tươi sáng


Phố xá khí thanh bình.


Cửu trùng ban đức khắp


Vui Tết với dân mình.


*Bài 2


Ba ngày đầu năm mới


Tươi sáng khắp muôn nhà


Bớt lạnh đèn cũng ít


Gió sớm tiễn xuân qua


Sân trước cây rợp bóng


Lối mòn nức hương hoa


Quẻ bói báo mùa tốt


Đàn ca khắp mọi nhà.


 


*Bài 3


Đầu năm thật yên ả


Vương đạo càng thêm dày


Vui ngắm hoàng cung đẹp


Gẫm mình còn kém thay


Cung đình sắc tươi tốt


Nhà giảng vẻ hanh thông


May có ngày vui Tết


Cùng nhau chúc tốt lành


HAI BÀI VỊNH SỬ ỨNG CHẾ.


1. Hán Cao Tổ (Lưu Bang)


Bậc vì dân trừ bạo


Tài ở chỗ dùng người


Lương, Bình lắm mưu trí(1)


Tín, Bố đáng bề tôi


Muốn nên cơ nghiệp lớn


Ban khen phải đúng nơi


Khúc “Đại Phong” khảng khái(2)


Chí lớn bốc ngời ngời.


2. Hán Chiêu Liệt (Lưu Bị)


Triều Hán vào hồi cuối


Nuôi chí cải mạng trời


Ba lần đến lều cỏ(3)


Hai phen cháy giếng khơi(4)


Họ Tào vừa soán đoạt(5)


Chương Vũ thừa mệnh trời(6)


Thật tiếc cơ nghiệp ngắn


Lưu gia đã hết thời.


THÁNG MƯỜI, THẤY MỘT ĐÓA HOA SEN NỞ TRONG AO NƠI LÀM VIỆC


Đang khi trời rét đậm


Cây cỏ thật xác xơ


Một đóa sen lại nở


Giữa mùa đông ai ngờ?


Son sắt tựa tùng bách


Trong sáng như bài thơ


Đừng lo ngày sắp hết


Tình ta thoảng hương mơ


 


KHÓC THƯƠNG CÔ EM HỌ


Mỗi mình anh ở lại.


Mới đó còn hai người,


Em theo chồng xuôi ngược,


Thật nữ Việt mười mươi


Thương chồng đâu xét nét(1)


Cúng giỗ tròn phận dâu(2)


Một sớm thành vĩnh quyết


Nhìn quanh, vạn nỗi sầu


 


THỂ NGŨ NGÔN BÀI LUẬT


ỨNG CHẾ PHỤ NỮ SIÊNG, LƯỜI


Đến như loài chim, cá


Siêng, lười đều có tên


Chim làm tổ chăm chỉ


Cá nhờ sóng đẩy lên


Phụ nữ kè bịch thuốc


Tiệc tùng suốt ngày đêm


Làm sao nghe chim giục!(1)


Dế rúc cũng đâu thèm(2)


Mặc kệ ai khinh ghét!


Lười thì làm chi nên?


Người là vật linh đấy.


Người vậy chỉ gây phiền.


 


 


ỨNG CHẾ THƠ VỊNH ĐỘNG NÚI


Chẳng mở mang kinh tế


Đóng trại nơi rừng sâu


Xế xế bên động núi


Dưới bóng tùng bách cao


Hoa rừng xuân rộ nở


Trăng thu rọi núi đồi


Ráng chiều ấm lều soái


Tiếng suối đàn không thôi


Giữa thiên nhiên hùng vĩ


Tâm hồn thật thảnh thơi.


Nhưng còn bao việc nước


Đâu thể bàn chuyện chơi.


 


ỨNG CHẾ THƠ VỊNH KIẾNG ĐEO MẮT


Chế luyện ra từ cát


Lại chẳng chút bụi nào


Hai tròng kính trong suốt


Bạn của người tuổi cao


Chữ hiện ra từng nét


Nước mắt thôi phập phào


Nhìn xem, đúng ảnh thật


Kè bên, dám quên nào!


Thấy cả vật dù nhỏ


Tinh tường chất lượng cao


Kiếng quí ơn trên tặng


Sủng ái biết dường bao!


PHỤNG HỌA THƠ VUA VÀO CUỐI XUÂN NHÂN NGÀY KHAI GIẢNG ĐIỆN KHÂM VĂN


Mùa xuân quang cảnh đẹp


Không khí vui thái bình


Nhân dân sống yên ổn


Hoa cỏ thảy tươi xinh


Cúng năm kịp lúa chín


Cai trị thuở yên bình


Ân trạch ban rộng khắp


Văn hóa sùng cao sinh


Tiếp nối gương cần mẫn


Giữ vững đạo tri hành


Xong Viên khâu hành lễ


Tâm Ngọc kính trong lành


Nghiêm túc giữ pháp độ


Đức khéo kết xa tinh


Đường ván mưa lấm tấm


Kinh diên hiện vẻ lành


Nắng rọi sáng rèm trúc


Gió nhẹ vờn qua song


Hương hoa đượm thềm bậc


Phòng ốc khí học hành


Trẻ nam sức chim hộc


Trẻ nữ vẻ chim loan


Lớp lớp người hoàng tộc


Hàng hàng chín phẩm quan


Chuyện trò thật rôm rả


Đối đáp rõ ngọn ngành


Huyền Dịch bởi hiếu thiện


Cẩn thận vì Tích Anh


Đào sâu nghĩa Kinh Dịch


Phân tích lý Xuân Thu


Đồng thanh thì tương ứng


Đồng khí thì tương cầu


Chan chứa tình vạn vật


Ngưỡng mộ đức ân sâu


Công tư việc rất nặng


Nghĩa lợi xét rạch ròi.


Học làm sáng đức sáng


Tập phong nhã hoài oanh


Lo toan theo hiền thánh


Khó nhọc trước dân mình


Rạng ngời đức sáng tụ


Dựa Huấn dịch phẩm bình(1)


Những ai vào giảng dạy


Phấn khích tự nhiên sinh.


Theo cách sư á thánh


Cống hiến lấy ý thành


Ngàn thu phỏng lối cổ


Hợp hòa ngũ vị canh


Vua, đức như Nghiêu, Thuấn


Tôi, ngưỡng mộ Khiết, Cao(2)


Luật vua vững cơ nghiệp


Tôi hiền, nước chắc nền


Quyền A, giọng sang quí(3)


Thiên Bảo, tiếng đồng thanh(4)


Yến ngon, nước trà nõn


Bao thư thái trong lòng


Trung phu, cho điềm tốt


Thảo luận chừng còn lâu


Đồng sức xây văn hóa


Là lo việc nhân dân


TRÊN ĐƯỜNG NGÀY TẾT


Việc quân, đi ngày Tết


Hấp tấp như dịch phu


Mừng xuân cùng tỉnh Nghệ


Nắng sớm, thiên lý cù(1)


Đầu năm, ngàn thứ mới


Xứ lạ, khác giọng sao!


Châu Ái, chiều nay đến


Suốt đường gió lao xao.


 


NGHE ÔNG SƯ BẢO HOÀNG VĂN DIỄN ĐƯỢC VỀ HƯU


Hơi dở chỗ ham rượu


Khỏe, ốm uống tự nhiên


Phò hai triều liêm khiết


Đến bảy mươi qui điền


Nhượng Phù Tôn tài trí(1)


Hơn Thạnh Liệt quan viên(2))


Ngàn sau công luận định


Mấy dòng góp di biên


 


THƠ THUYỀN CÂU


(Nhiều người đòi làm thơ vịnh thuyền câu, ngẫu nhiên tôi có mấy vần góp vui)


Một vùng sông nước rộng


Thuyền như chiếc lá trôi


Chèo lang thang vô định


Mênh mông với mây trời


Bềnh bồng sóng tiếp sóng


Đầy thuyền ánh trăng rơi


Ngâm bài ca Thương lãng


Quên hết chuyện trên đời.




ỨNG CHẾ ĐÀN KHÔNG DÂY


Thèm nghe Quảng Lăng tán


 


Sài Tang mỏi cánh bay(1)


Ném sầu trong chén rượu


Gởi hứng khúc cầm hay


Gần gũi cùng tố chất


Lánh xa cõi rộn này


Tự hội thật thú vị


Nhạc phổ phải chọn thôi


Lối cúc ngày về nghỉ(2)


Phục Hy đã bảo rồi


Lạc đạo nghí hy nhan


Ý thầm ai biết được


Cao tình bất khả phan


Tiếng thơm còn lưu mãi


Vinh dự vua đề ban


TRƯƠNG QUẢNG KHÊ TIÊN SINH THI TẬP


Quyển 3


Biên tập: MIÊN THẨM (THẬN MINH)


THẤT NGÔN LUẬT


CUỐI NĂM


Văn chương khoe mẽ chút hư danh


Nên nỗi một đời cực tấm thân


Hoa liễu kinh thành trông ủ rủ


Phong sương đất khách, tủi vô ngần


Tương tri họ tộc còn bà chị


Đắc ý trên đời mấy bạn thân?


Ngày hết, bên song, chiều xuống chậm


Thu qua đông lại, sắp sang xuân.


 


XUÂN THƯ TRAI


Gặp buổi tàn đông lại nhớ nhà


Đón mùa xuân đến mấy câu ca


Rau dưa nhẹ bụng qua ngày tháng


Phòng sách âm thầm nỗi khách xa


Tài kém dám từ quan chức nhỏ


Phận hèn đâu oán tướng môn nha


Rong chơi tùy lúc ta thong thả


Thắng cảnh nơi nào chịu bỏ qua?




 


THU CẢM


Sáu năm lữ thứ quá long đong


Vạn mối sầu đan lại rối bong


Trăng sáng thu về ôm khóm lá


Hồn quê thao thức dậy trong lòng


Tâm tình xin gởi cho thi phú


Thân thể lo đền nợ núi sông


Những mối thâm tri đâu bỏ được


Bên hồ sen muộn một bầu không


 


THU HOÀI


Trước sân trăng chiếu, ánh sương trong


Gió đẩy riềm hiên lạnh cả lòng


Mấy đóa cúc vàng khi vãn tiết


Đầy rừng lá úa chớm sang đông


Nhớ nhà mộng vượt thiên trùng hiểm


Ngóng bạn dài thêm nỗi ước mong


Muốn ghé sư ông bàn Diệu Đế(1)


Một bầu cây cỏ nướcxanh trong


 


THƯ GỞI QUAN HUYỆN BÌNH SƠN VÕ SÚC PHONG


Dân phong ở đó cũng phồn hoa


Rừng núi ruộng đồng non nước ta


Nghe nói bác vào trong đất ấy


Quê tôi nên giới thiệu sơ qua


Trà Bồng sông cạn cá vờn nước


Hoa Ổ rừng thưa chim hót ca


Như thử dao trâu nơi ấp nhỏ(1)


Mong sao đàn hát khắp muôn nhà


 


KHÓC ANH RỂ, LỄ SANH BÙI


Anh em gần gũi mới đây thôi


Giờ đã ngàn thu cách biệt rồi


Lương mọn mấy đồng, cam lỗi phận


Nghĩa tình một sớm, hạt châu rơi


Đêm thu đất khách mưa dai dẳng


Mộ mới quê nhà gió thổi xuôi.


Cao nghĩa như anh đâu dễ gặp!


Lòng em thương nhớ mãi không nguôi




 


 


 


KHÓC QUAN TU SOAN NGUYỄN NGỮ


Bụng to bệnh trướng đã lâu ngày


Mệnh yểu nhân tài thật tiếc thay!


Chí nguyện tang bồng chưa thỏa được


Đau lòng đôi chữ viếng thăm đây


Xương Cốc biết mình không sống thọ(1)


Cánh Lăng mới rõ tệ phô bày(2)


Trên đời ví có trường sinh thuật


Đâu cảnh phong tao vắng thế nầy!


 


KHÓC PHƯƠNG BÁ NGUYỄN TÌNH PHONG Ở NINH BÌNH


Thư sinh, nào đã thạo việc quân


Nợ nước lo đền đâu tiếc thân


Mấy túi văn chương thôi trả đất


Một bầu chí khí chẳng cầm chân


Rừng phong biên tái hồn đâu nhỉ?


Có kẻ trời nam mộng lý thân


Bạn trẻ hy sinh hơn quá nửa


Lòng ta quạnh quẽ xót vô ngần


 


TẶNG BÙI VĂN LÝ VÀO NHÀ THÁI HỌC VÀ CÁC BẠN CŨ CÒN GIẢNG DẠY Ở ĐÓ


Hai thế kỷ qua dựng đắp nền


Rừng Nho càng lúc sáng hơn lên


Vua ban bổng lộc ơn tình nặng


Minh thế văn chương giữ thật bền


Rực rỡ Ngân Hà ánh Khuê, Bích(1)


Dặt dìu Sông Tứ âm quản huyền(2)


Nhắn lời tôi gởi thăm bạn cũ


Tận lực báo đền ơn đức trên.


 


TIỄN ÔNG LÝ LÂN CHI VỀ LÀM HIỆP LÝ TỈNH QUẢNG NGÃI.


Trông về quê cũ dạ bồi hồi


Mũ lọng dập diều xem cũng tươi


Cai trị giỏi giang, tài hợp cảnh


Bình an vô sự, gởi anh tôi


Dân phong thuần hậu xưa nay vậy


Ngay thẳng đừng lo tệ đãi bôi


Ở Bộ đã lâu rành chính sự


Nay ông về tỉnh quá hay rồi!


 


TIỄN ÔNG GIẢI NGUYÊN BÙI VĂN LÝ VỀ NHẬM CHỨC TRI HUYỆN MỘ ĐỨC


Chững chạc đường mây thuận mọi bề(1)


Bốn mươi tham chính vững tay nghề


Tranh khôi đoạt giáp, nghìn người thắng


Lãnh chức làm quan, trăm dặm nghe(2)


Mẹ yếu, ông còn lo phụng dưỡng


Nhà tôi, huyện ấy cũng nằm kề


Tiễn ông về đó, nôn nao lắm


Bao nỗi u hoài thương nhớ quê


Lời bình: Một chùm thơ nhắc đến quê nhà với những xúc cảm thật thà chất phác. Đối với quê nhà, Nguyễn Đăng Quế có mối nhớ thương sâu nặng, Tôi chưa thấy có ai nhắc đến quê hương nhiều như thế với cảm xúc trìu mến như thế. Những hình ảnh, sự vật bình thường mà trở thành châu báu trong lòng tác giả, yêu quí lắm. Quê mình chỉ là một vùng đất bình thường như bao vùng quê khác.


 


NHẬN HOA CÚC, CHIA TẶNG BẠN LÀM THƠ KỂ LẠI


Nếu gọi văn chương cũng ngọc châu,


Tràng an như tớ có nghèo đâu


Chia ông mấy buội hoàng hoa cúc


Kỷ Mão đồng khoa bạn với nhau


Đã chín năm trời lưu chánh sắc


Chỉ ba ngõ cách có xa nào!


Nhắc ông đặt chỗ sương nhuần thấm


Đoá đóa tươi xinh rực sắc màu


 


TIỄN CHÂN THẦY NGUYỄN THẬN TRAI ĐI TRẤN NHẬM QUẢNG NAM


Vẫn nhớ xưa thầy chủ khảo thi


Ngày nay ra trấn có xa chi(1)


Phù dung nở trắng tươi cung điện


Dương liễu xòa che mát lối đi


Nặng nỗi việc dân nên nóng ruột


Luyến lưu kinh khuyết hóa trù trì


Hải Vân, đèo lớn thiên nhiên đẹp


Cảm xúc ngâm bài “Mộc hữu chi”(2)


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. Nhóm biên soạn: NGUYỄN VĂN CHỪNG, DƯƠNG MINH CHÍNH, LÊ VĂN CÔNG, LÊ SƠN - NGUYỄN VĂN THANH. NXB Văn học. 1-2009.







(1) Trương Lương, Trần Bình, Hàn Tin, Quý Bố, những đại công thần sáng nghiệp nhà Hán




(2) Đại Phong: là tên khúc hát hùng tráng thời đó.




(3) Lưu Bị tam cố thảo lư cầu Khổng Minh ra giúp nhà Hán.




(4) Hai lần bị nguy cấp phải trốn dưới giếng tránh hỏa công của địch




(5) Tào Phi soán ngôi nhà Hán lên làm vua lấy niên hiệu là Hoàng Sơ




(6) Lưu Bị lên ngôi lấy niên hiệu là Chương Vũ nối nghiệp nhà Hán, ngay sau khi Tào Phi soán ngôi nhà hán, lập nhà Ngụy, niên hiệu là Hoàng Sơ.




(1) Không xét nét ghen tuông khi chồng có thê thiếp.




(2) Phận dâu nặng việc nhà, mà quan trọng hơn cả là việc cúng giỗ tổ tiên ông bà ở nhà chồng.




(1) Thi cưu là loài chim bố cốc, khi lúa chín thì kéo đến ăn nên người ta nghe tiếng nó kêu như thể thúc giục nông dân đi gặt lúa.




(2) Tất suất là con dế. Tiếng dế kêu cũng có ý thúc giục con người làm việc.




(1) Huấn dịch: tức Thập dụ huấn dịch thập điều của vua Minh Mệnh ban hành năm 1834, về văn hóa giáo dục.




(2) Khiết, Cao: tức hai ông quan có công lớn thời cổ. Ông Khiết làm quan Tư đồ giúp vua Vũ trị thủy thành công. Cao Dao, người chế ra ngũ hình giúp các vua Nghiêu, Thuấn trị an thiên hạ.




(3) Quyền A: một thiên thuộc Đại Nhã, Kinh Thi nói về người hiền tài.




(4) Thiên Bảo: một thiên thuộc Tiểu Nhã, Kinh Thi nói về việc chúc phúc quân vương




(1) Thiên lý cù: tức con đường thiên lý, gần trùng với Quốc lộ 1A hiện nay.




(1) Phù Tôn: Ông Nguyễn Thận Trai, người xã Phù Tôn.




(2) ) Thạnh Liệt: Ông Bùi Đoàn, người xã Thạnh Liệt. Hai ông làm quan đồng thời với ông Hoàng Văn Diễn. Ông Diễn làm tới Thượng thư bộ Lại, sung sư bảo dạy các Hoàng tử nhỏ




(1) Kê Khang soạn bài nhạc nổi tiếng Quảng Lăng tán. Đào Tiềm bỏ quan về nơi lều cỏ ở Sài Tang, trồng hoa cúc và chơi đàn cầm. Hai câu thơ nầy nhắc đến Kê Khang và Đào Tiềm, về âm nhạc và về chuyện từ quan.




(2) Lối cúc là lối đi trồng nhiều hoa cúc, nhắc đến Đào Tiềm.




(1) Tứ diệu đế theo thuyết nhà Phật.




(1) Dao trâu: Tích xưa, Tử Du học trò Khổng Tử làm chức ấp tể ấp Vũ Thành nước Lỗ. Người tài làm chức quan nhỏ cũng giống như dùng dao mổ trâu đem mổ gà, không xứng sức, phí tài đi.




(1) Xương Cốc: tích Lý Hạ, một nhà thơ tài năng quái dị thời Thịnh Đường, nhà ở Xương Cốc, mất năm mới 27 tuổi, có “Xương Cốc tập”.




(2) Cánh Lăng: tích Chung Tinh, một nhà phê bình thời Minh, bài bác tệ hình thức mà nội dung rỗng tuếch, trong thơ văn thời bấy giờ, chủ trương đi vào thực tế.




(1) Khuê, Bích: là sao Khuê, sao Bích thuộc nhị thập bát tú, tượng trưng cho trí tuệ, người tài năng hữu dụng cho đất nước.




(2) Sông Tứ: dòng sông chảy qua Khúc Phụ, quê hương Khổng Tử, tượng trưng cho việc học. Âm quản huyền là tiếng đàn, trong lớp học thời Khổng Tử có âm nhạc làm nền




(1) Đường mây: tức thanh vân, tích xưa chỉ đường làm quan




(2) Trăm dặm: chỉ khu vực một huyện




(1) Trấn: tức là tỉnh ngày nay




(2) Mộc hữu chi: bài ca xưa nói về tính hoàn chỉnh của vạn vật. Cây có thân có nhánh, người có thầy có trò, không có thân làm sao có nhánh, không có thầy làm sao có trò.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
xem thêm »