tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19011285
27.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế Cuộc đời và sự nghiệp (15)

TIỄN BẠN Ở BẮC THÀNH, HẸN NHAU GẶP LẠI TẠI KINH ĐÔ


Hẹn nhau cùng đi thuyền,


Nay bác theo đường bộ,


Hành trình thiếu bầu bạn


Lênh đênh tôi một mình.


Thương mây treo đỉnh núi,


Biển buồn khi trăng lên,


Hẹn bác kinh thành đấy!


Ra bác cũng một mình!


TẠM BIỆT CHỊ


Chưa uống lòng đã say


Nâng ly bụng không đành


Sớm nay từ biệt chị


Ngày mai sẽ lâm hành


Hướng bấc gió mới nổi


Cuối thu trăng vừa sinh


Chỗ rẽ lòng đã dứt


Cần gì nghe vượng thanh


Bản dịch của Huỳnh Châu


Lời bình: Đây là bài thứ hai viết cho người chị. Bài Di tỷ khi lên đường đi du học ở kinh đô. Bài Biệt tỷ nầy có lẽ là khi đã thi đỗ, lên đường đi làm một chức quan nhỏ. Hình ảnh người chị chỉ thấp thoáng, nhưng thật sự tác giả lại toàn nói về người chị. Người phụ nữ Việt Nam đảm đang, quán xuyến cả trong hành vi xử thế của đàn ông. Bài nầy, chú ý các hình ảnh gió bấc se se, trăng còn non, hình ảnh của người mới bước vào đời. Cậu em tuy đỗ đạt, đi làm quan, người chị thấy em như con chim non mới ra ràng, mà trường đời thì đầy cạm bẫy. Người chị lo lắng dặn dò và người em cung kính hứa nghe lời. Tình chị em đằm thắm rất Việt Nam, nhưng chỉ thấy trong ca dao, mà rất hiếm trong thơ văn bác học.


 


GIẶT ÁO


Thu đến sầu quan ải,


Trống vắng phòng em đây,


Bần thần bên chày đá,(1)


Trăng xưa cũng hao gầy,


Tịch mịch sầu kéo sầu,


Tiếng chày vang nơi đâu,?


Nghe truyền ngoài hải thú,


Nam chinh lại dãi dầu.


XA NHÀ


Vui sum họp được mấy!


Xa nhau ngàn dặm trường.


Mưa dầm dề suốt tháng,


Thêm rầu khách tha hương.


Dệt mộng, không thành mộng


Thơ văn, thốt đoạn trường,


Xưa nay thân đất khách,


Anh em, đừng nhớ thương!


TRĂNG NON


Lấp ló bên gờ mây,


Mong manh ánh trăng gầy,


Núi sẫm màu tịch mịch,


Nội cỏ lạnh lùng thay!


Vụt đâu đây cánh nhạn,


Tí tách giọt sương đêm


Nhớ nơi nao buồn vậy?


Đêm thảng thốt một mình.


UỐNG RƯỢU MỘT MÌNH


Rót rót thành một mình


Một mình tỉnh tỉnh say


Ngồi ngắm hoa thật thích,


Trăng tan lại u hoài,


Vui khi chơi đồ cổ,


Buồn lúc nhớ chuyện nay


Bên hoa thật thú vị


Nỗi lòng, ai có hay?


VỊNH HOA MẪU ĐƠN TRƯỚC THỀM


Giữa bao nhiêu hoa đẹp


Chăm chút riêng Mẫu Đơn?


Mẫu Đơn khoe phú quý


Chẳng hoa nào sang hơn.


Sắc đẹp tươi mái lá


Màu gấm rực cánh hoa


Rõ tình ta yêu quí


Mỉm cười cùng Mẫu Đơn


VỊNH HOA BỤT TRẮNG


Trong chòm xanh nền nã


Vươn lên rõ dáng thu


Đơn sơ và trang nhã


Chẳng chút phồn hoa nào.


Phải chăng khác cây cỏ,


Cũng buồn như khách sao?


Lòng ta u uất lắm


Nhìn hoa lòng nao nao.


TẾ THU VĂN MIẾU(1)


Đức giáo lưu thiên cổ


Tượng đài suốt xưa nay.(2)


Quan trường dường nguội lạnh


Miếu mạo càng thâm uyên


Thành tâm dâng cỗ cúng,


Kính cẩn lễ ơn thầy


Phò vua lo trị nước,


Lòng son, kẻ mọn nầy.


 


TIỄN CỬ NHÂN VŨ QUYỀN XỨ KINH BẮC ĐI LÀM TRI HUYỆN, NHÂN TIỆN GỞI LỜI THĂM ÔNG BẠN ĐỒNG NIÊN, HÀN LÂM VIỆN BIỆN TU NGUYỄN BÁ ĐỈNH.


Kinh Bắc, nhiều nhân kiệt,


Nhà bác lắm tuấn anh


Hàng cự tộc đương đại,


Hơn nửa chiếm khoa danh.


Lữ để, ta sơ ngộ,(1)


Ly đình, tôi tiễn hành.(2)


Chuyển lời thăm Bá Đỉnh


Tiền đồ được thông hanh.


 


TIỄN TRẦN BÁ LƯỢNG ĐI TÂN BÌNH


Nam Trung đâu tuyệt nhất?(1)


Tân Bình ai cũng khen,(2)


Sĩ phong đầy hào khí


Con em tài thơ văn.


Nay may gặp ngày đẹp,


Cảnh tượng khác xưa nhiều,


Chẳng phải tốn công kiếm,


Đến đấy có bạn hiền.


TIỄN CỐ NHÂN VỀ QUÊ


Vào thu cảnh buồn thật!


Nén lòng đưa tiễn đây


Nơi nầy dễ thương quá


Bên sông cây mọc đầy


Biển tiếp trời trải rộng


Cánh buồm như nhỏ đi


Ước gì mọc đôi cánh


Bay về quê tức thì.


TIỄN ÔNG KIỂM SỰ NGUYỄN TÌNH PHONG ĐI BẮC THÀNH


Văn chương khi mạnh thế,


Ơn tri ngộ dồi dào,


Các vọng thành sơ chí


Tương vọng tình biệt ca,


Đời mấy ai tri kỷ?


Năm hết lòng nao nao


Bác xem, người đông vậy,


Giống đạo xưa đâu nào?


GỞI TÌNH PHONG NGUYỄN PHƯƠNG BÁ Ở HÀ NỘI


Thu sang, tối nhanh lắm


Đeo lò hương một mình(1)


Học cách pha trà mới


Chơi vẽ tranh cúc xinh


Trước đèn, chuông ngân mãi


Bên hoa, trăng lặng thinh


Nhờ nhạn mang lời nhắn


Hồ Tây, có nhớ mình?


SÁNG SỚM LẠNH


Kinh đô sao cô độc!


Sớm lạnh, lúc đông về


Tiếng gió dập ngoài cổng


Mái nhà mưa lê thê.


Tựa gối thèm ngủ tiếp,


Dựa lan can âm thầm,


Hoa mai chưa kịp nở,


Cuốn rèm, lại trầm ngâm.


 


MÙA XUÂN Ở KINH ĐÔ, CÙNG TRƯƠNG QUÝNH XUYÊN, TRƯƠNG LY CHI


Đất Tràng An tháng chạp


Khoa Kỷ Mão, đồng niên(1)


Tuổi thanh xuân phơi phới


Thi hứng, tứ triền miên


Ngoài trời mưa nhè nhẹ


Cầu son, liễu xanh viền


Gọi trẻ châm thêm rượu


Vui say ngày Hạnh viên(2).




 


HỌA THƠ PHÚ BÌNH CÔNG


Túi càn khôn vô tận


Xưa nay biết hết đâu!


Tao nhã thể riêng biệt


Văn chương khác càng sâu


Ngàn năm qua, phải biết


Một chữ chớ coi thường.


Chuyện San Thi còn đó(1)


Nhẫn nại thấy mà thương


 


MỪNG THƯỢNG THỌ XUÂN CÔNG


Thủy chung, xin bội phục,


Nhân dịp đến thăm nhà


Vui vầy vườn bóng rợp


Rôm rả chuyện gần xa


Hoa bay đẹp như tuyết


Bên song, dáng ngọc ngà


Trời khuya, trăng sáng lắm


Thêm thích tiếng đàn ca.


 


HOA CÚC NỞ TRƯỚC SÂN


Trước sân vài buội cúc


Thu về trổ mấy hoa,


Chỉ vì lòng háo hức,


Nên thấy hoa muộn mà


Vốn là cây chịu lạnh


Sá gì gió mưa sa,


Mong bác hãy nhẫn nại,


Vững như tùng bách mà!


 


VUI XEM HOA NỞ


Cây cỏ sau bão dữ


Ba năm cảnh tiêu điều


Một sáng hoa rộ nở


Mọi chuyện khỏe đi nhiều.


Gió mưa công nhuần thấm


Tùng mai đẹp bao nhiêu


Ai cũng thương hoa nhỉ?


Cùng ta kết bạn hiền.


 


CHỜ BẠN


Hôm qua bác đã hứa


Sao giờ chưa tới chơi


Cầu kia trông vắng ngắt


Chim bay tận chân trời


Thờ ơ bên sách vở


Khép hờ cánh cổng thôi


Lờ lửng vầng trăng sáng


Thời gian đâu ngừng trôi.


 


ĐÊM NGỒI VỚI BẠN


Tôi vốn người cả nghĩ


Đâu ngờ bác quá lo


Phong trần bao nước mắt


Trăm năm một đời người


Trần thế nhiều mơ mộng


Tthi tài đến khổ thôi


Gặp nhau cần chi nói


Ngồi chơi là đủ rồi.


 


 


THANH NINH GIANG ĐẠO


Sáng sớm mưa lây rây


Hùng vĩ thế núi nầy


Hai bờ cao chót vót


Giữa dòng sông nước đầy


Đường đời chưa mấy bước


Dân phong còn lạ thay


Mừng tình hình yên ổn


Cùng ai công tác đây?


 


NHẬN MỆNH VUA ĐI KINH LƯỢC NAM KỲ


Kế hoạch vừa xác định


Chỉnh đốn vùng Nam Kỳ


Thuyền đồng cỡi đầu sóng


Tàng lọng vén mây đi


Hoàng thân làm thơ tiễn


Xuân sang chớ trù trì


Nhân dân, sau binh hỏa


Cần sớm được an vi


 


THUYỀN QUA QUÊ NHÀ QUẢNG NGÃI


Gió xuân, cánh chim biển


Thoáng chốc, vượt sóng trào


Thuyền nhắm hướng quê trẩy


Du tử lòng nôn nao.


Quê nhà thương biết mấy!


Xóm thôn giờ thế nào?


Đầu thuyền, xa chỉ thấy


Quê mình dưới tàng cao




 


 


 


THĂM CHÙA BỬU PHONG


Chùa núi Bửu Phong đẹp


Nhân vui ghélại thăm


Đất Phật vườn cảnh vắng


Rừng cây tỏa bóng râm


Vịn cấp lên cổ tháp


Nhìn sông xuôi âm thầm


Chan chứa tình lưu luyến


Xa xa kìa phố Nam.


ĐI KINH LƯỢC XỨ THANH


Trong Nam vừa về đến


Lệnh đi ngay xứ Thanh.


Sá gì chuyện sắp Tết,


Trời yên như thuận tình


Liên đêm thay ngựa trạm


Hoa bên đường tiếp nghinh


Thánh triều uy đức khắp


Không lâu sẽ yên bình.


 


GHI CHÉP TRÊN ĐƯỜNG ĐI QUA NGHỆ AN


Mới gặp một cô gái,


Ăn mặc sao lạ lùng


Tơ xanh thắt quanh bụng


Quần lửng sắc đen hung


Khó tả phần bên dưới


Lờ mờ lúc hoàng hôn


Nếu vẽ lông mày mỏng


Ai thèm Trác Văn Quân!


 


LẦN ĐẦU ĐẾN CHÂU LƯƠNG CHÁNH


Cứ ngỡ Bồng Lai đảo


Mà đây động sách dân(1)


Chót vót núi dựng đứng


Đường đi thiếu vết chân.


Cây to dư chỗ nghỉ


Ruộng phì đủ dưỡng thân


Tương lai mạnh tích tập


Vùng biên sẽ theo dần.


 


Ở LẠI ĂN TẾT Ở ĐỘNG KHƯƠNG CHÁNH, GỞI THƯ CHO PHÓ SỨ NGUYỄN TOẢN PHU


Chiến địa sang năm mới


Bụi vàng nhuộm hết râu


Cùng nhau lên xứ Thượng


Trưởng, phó gặp được đâu.


Đầy trời núi liền núi


Khắp đất vầu lại vầu(1)


Vỗ về dân là chính


Kế sách soạn đã lâu.


 


ĐI QUÂN THỨ ĐỘNG KHƯƠNG CHÁNH


Suốt đường, rừng heo hút


Bát ngát bầu không gian


Ba bề vây suối nước


Chập chùng núi giăng ngang


Cây tiếp trời xanh biếc


Mây điểm như thạch bàn


Đồn Ninh Lương mới lập


Là bia ghi khải hoàn.


 


GHÉ THUYỀN BẾN KIM SƠN


Ghé thuyền bên sườn dốc


Sông dài, cảnh đẹp thay!


Tiếng gió lùa khe núi


Trăng soi rộn ngàn cây


Thánh thót đồng hồ thúc (1)


Le re nước chảy đầy


Việc quân đang thúc dục


Tạm vui với cảnh nầy


 


TRỞ LẠI KIM SƠN


Danh thắng vùng châu Ái,(1)


Kim Sơn đẹp làm sao!


Thuyền men sát chân núi


Mặt nước người lao xao


Tựa cửa ngâm “Ỷ thạch”(2)


“Bá trạo” tiếng hò cao(3)


Say ngắm quên trời tối


Trăng lên tự khi nào.




 


 


 


VỀ ĐẾN TRẠM THỌ MAI, GỞI THƯ CHO TOẢN PHU


Đến Thọ Mai rồi đấy


Lương Chánh bóng mờ xa


Cố nhân còn truy địch


Chốn núi rừng xông pha


Một màu cây cỏ lạnh


Nợ nước với tình nhà


Bao giờ tan bóng giặc


Khải hoàn rộn tiếng ca.


 


THÀNH NHÀ HỒ


Đi săn, theo vết thú


Lần tìm bên sườn non


Gặp thành to bằng đá


Thành nhà Hồ trống không.


Quả thật hao dân lực


Đâu phải của thần công!


Bảo làm theo Kinh Dịch


Để mang tiếng gian hùng.


 


MẮT THẤY


Chẳng phải giả sang quí


Kiều diễm khi còn thơ


Môi son tươi trái chín


Mi xanh mượt như mơ


Ăn mặc thật trang nhã


Khí sắc chút kiêu sa


Lời nào sau ánh mắt?


Tóc trái đào ngây thơ.


 


ĐÁP LỜI BẠN


Vưu vật truyền Kinh Bắc


Di trâm tưởng Hán Nam


Đăng Đồ đâu háo sắc


Tiểu Đổ chỉ bàn suông


Khi rầu ai tâm sự?


Niềm vui đâu được luôn


Cố nhân lời thăm hỏi


Xưa nay vẫn như thường.




 


 


 


ĐỀ TẶNG NGUYỄN THẬN TRAI TIÊN SINH ĐƯỢC VỀ HƯU


Cụ may được vua duyệt


Cho về sống thảnh thơi


Đừng lo công việc nữa


Nên lui gẫm chuyện đời


Mãi làm thầy hoàng tử


Con nhà thua thiệt thôi!


Vườn xưa trăng sáng lắm


Lòng tôi lại bồi hồi


 


NHÂN TẾT TRUNG THU GỞI ÔNG CHẾ PHỦ HỌ NGUYỄN- TỔNG ĐỐC SƠN HƯNG TUYÊN


Từ biệt chừng lâu lắm


Nay đà tết Trung Thu


Vùng ấy nhiều danh thắng


Biết bác vui nơi nào?


Treo đèn theo phong tục


Thưởng trăng trẻ nôn nao


Tiếc là mỹ nhân vắng


Cùng ai khúc Mạc sầu


 


NGẪU HỨNG


Gặp nhau chắc vui lắm


Xem ra vẫn khi nào


Cách bờ vang tiếng sóng


Hang sâu sắc trăng hao


Ruột sôi dường nước réo


Liếc mắt đẹp làm sao


Mây mù che kín hết


Nhớ bạn nói được nào


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. Nhóm biên soạn: NGUYỄN VĂN CHỪNG, DƯƠNG MINH CHÍNH, LÊ VĂN CÔNG, LÊ SƠN - NGUYỄN VĂN THANH. NXB Văn học. 1-2009.







(1) Chày đá: Cái chày bằng đá dùng để giặt áo thời xưa. Tây Thi gái nước Việt vốn là một cô gái dệt lụa. Lụa khi đã nhuộm xong, người ta đưa ra sông ngâm, rồi dùng chày đá đập xả cho sạch. Làng nhuộm thường ở bên giòng sông, mỗi sáng sớm, âm thanh đập xả của những cô gái nghề dệt vang âm cả một đoạn sông trong sương sớm như một bầy tiên, quang cảnh rất nên thơ. Người phụ nữ thời xưa cũng dùng chày giặt áo.




(1) Tế Văn miếu vào ngày Đinh tháng đầu mùa xuân, mùa thu.




(2) chỉ Khổng Tử




(1) Lữ để: Nhà khách, nơi cư ngụ của sứ bộ các nước, dinh, phủ của vương hầu. Ở đây có lẽ là nhà khách, nơi các người đỗ đạt cư ngụ chờ bổ nhiệm đi làm quan.




(2) Ly đình: Nơi tổ chức tiệc tùng đưa tiễn người đi.




(1) Nam Trung phủ tức Nam Bộ




(2) Tân Bình: huyện Tân Bình tức Sài Gòn Gia Định ngày nay




(1) Ngày xưa, mùa lạnh, các cụ thường đeo một cái lò than nhỏ bằng đồng, than có trộn hương liệu, vừa ấm ngực vừa thơm.




(1) Trương Đăng Quế: đỗ Hương cống năm Kỷ Mão (1819). Những người cùng thi đỗ một khoa, cũng gọi là bạn đồng môn hay đồng niên.




(2) Vườn Hạnh: Đức Khổng Tử ngồi dạy học dưới giàn hoa Hạnh, nên Hạnh viên ý chỉ chỗ học hành. Nhà Đường chiêu đãi các tân khoa Tiến sĩ nơi Hạnh viên (vườn Hạnh).




(1) San Thi: Khổng Tử san định ngũ kinh, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch. Sưu tầm Kinh Thi nguyên có đến ba ngàn thiên, Khổng Tử chỉ chọn ra được ba trăm thiên




(1) Động sách của người miền Thượng du giáp nước Lào giống như làng thôn người Kinh. Châu Lương Chánh phía tây Thanh Hóa, thời Tây Sơn, Minh Mệnh thuộc nước ta, nay thuộc Lào.




(1) Vầu: thuộc họ tre, trúc.




(1) Ngày xưa, dùng cái gáo dùi thủng một lỗ nhỏ, đổ nước vào, cho nước chảy từng giọt, nước đầy thì cái thẻ khắc thời giờ nổi lên chỉ phân số nhiều hay ít để biết sớm hay muộn.




(1) Châu Ái tức Thanh Hóa




(2) Bài Ỷ thạch thơ Đường, tả cảnh núi sông xinh đẹp,




(3) Bá trạo, điệu hò đi đánh cá của dân thuyền chài.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
Những đám khói - Võ Phiến 23.03.2017
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
xem thêm »