tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20787092
Những bài báo
06.05.2014
Nhiều tác giả
Bí mật chiến thắng Điện Biên Phủ


Nhà văn Triệu Xuân thăm Điện Biên Phủ, 13-10-2012



Trong hầm chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh chụp ngày 13-10-2012.


Kỳ 1: Chuyện ‘bếp núc’ tiếp sức chiến thắng


Ông Trần Thịnh Tần năm nay 83 tuổi. Ông bước chân vào cuộc kháng chiến chống Pháp từ những ngày đầu tiên của tuổi 20. Sau chiến dịch Hòa Bình, ông lên Điện Biên Phủ, tham gia vào trận đánh lớn lịch sử khi làm việc ở Tổng cục Cung cấp (sau này là Tổng cục Hậu cần, trực thuộc Bộ Quốc phòng).


Không trực tiếp cầm súng lao lên phía trước, nhưng những trải nghiệm và công việc của ông - như hàng chục ngàn người trẻ khác - khi đong từng lon gạo, góp từng đợt xe, đã góp phần làm nên một chiến dịch thắng lợi.


5.000 tấn gạo cho “đánh nhanh, thắng nhanh”


Ông Tần chỉ vào tấm ảnh cũ, kể: “Khi chúng tôi vào trường sĩ quan, làm gì có súng, chỉ có xài súng tre tập thay. Đi lính mà phải mang quần áo từ nhà đi. Mua thêm đôi dép cắt từ lốp cao su đi cho bền. Sau đi lính mới được 2 bộ quần áo một năm, mà quần áo lót thì chưa có. Tóm lại là mình nghèo lắm”.


Ông Trần Thịnh Tần làm ở Tổng cục Cung cấp của chiến dịch Điện Biên Phủ khi ông mới 23 tuổi. Sau Điện Biên Phủ, ông mang hàm đại tá, Cục trưởng Cục Quân trang - Tổng cục Hậu cần, làm việc cho đến khi nghỉ hưu và sống với các cháu nội ở TPHCM. Những lần quay về Điện Biên Phủ, gặp gỡ lại bạn bè, người trong cùng chiến dịch, với ông lại là một vùng kỉ niệm tuổi trẻ đáng nhớ và xúc động.


Khi ấy, 3 điểm vận tải ở đèo Cò Nòi, Lũng Lô, Pha Đin là những điểm nóng của người làm việc cung cấp, hậu cần. Ô tô chở hàng chỉ chở được 1,5 tấn, đi qua không biết bao nhiêu điểm đánh phá, đánh sập đường của Pháp. Những chiếc xe không chịu nổi đường xá, chỉ còn chở được 1 tấn hàng/chuyến.


Những người ở Tổng cục Cung cấp nghĩ ra chuyện xài đến tre, chặt ra, dằn vào gầm để chống sóc. Thùng xe cũng được phủ bởi các thanh tre chặt rải ra để đảm bảo cho hàng hóa. Xe đạp mỗi chiếc chở 1- 2 tạ.


Trên không là của Pháp, bên dưới người Việt hoạt động. Ông Tần kể: “Cứ đến 4 giờ chiều, sương mù phủ kín là mặt đường râm ran hết cả. Đi ngoài đường từ Cò Nòi lên các trọng điểm cứ nghe tiếng cười nói, đùa giỡn của những chuyến thồ hàng, mang vác. Một chặng như thế khoảng 25 km, từ 16 giờ chiều đến 10 giờ sáng là của ta, còn sau đó lại ẩn nấp”.


Sau giai đoạn chuẩn bị cho “đánh nhanh thắng nhanh” đầu tháng 1.1954, đến ngày 26.1.1954, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp tuyên bố chuyển sang “đánh chắc thắng chắc”, hàng loạt “chuyển động” khác phải diễn ra ở hậu tuyến và trung tuyến để chuẩn bị cho một đợt chiến dịch với quy mô khác hẳn.


Ông Tần kể: “Ban đầu chỉ nghĩ chiến dịch 3 ngày nên chúng tôi chỉ chuẩn bị 4.000 - 5.000 tấn gạo. Khi thay đổi chiến lược, phải đau đầu tìm cách huy động gạo cho chiến dịch”.


... giữa trái tim nhân dân


Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chuyến đi khảo sát các công việc của Tổng cục Cung Cấp. Đại tướng đang tham quan chiếc máy sấy khô khoai mì do các nhân công, thanh niên xung phong tự chế ra  - Ảnh chụp lại từ tư liệu do ông Trần Thịnh Tần cung cấp


Chiếc máy ép khoai mì thành sợi như sợi mì là sáng kiến để bộ đội có thể có bữa ăn dễ chịu hơn trong hoàn cảnh thiếu thốn - Ảnh chụp lại từ tư liệu do ông Trần Thịnh Tần cung cấp


Ông Trần Thịnh Tần trong chuyến đi trở lại thăm Điện Biên Phủ sau 55 năm chiến thắng - Ảnh chụp lại từ tư liệu do ông Trần Thịnh Tần cung cấp


“Lúc đầu chúng tôi định vận động bà con Tây Bắc khoảng 6.000 tấn thôi, vì đồng bào Tây Bắc mới giải phóng, nghèo lắm. Khi đánh Điện Biên, ở trên có chủ trương đi vận động chứ không ép buộc bà con vì dân Tây Bắc nghèo lắm. Cuối cùng, hóa ra bà con các dân tộc ủng hộ đến 10.000 tấn lúa”.


“Chiều đến cứ ra mặt đường tôi thấy đông như hội, dân công, bộ đội xay xát, hát hò như một công trường khổng lồ. Pháp đi trên không quan sát, tiếp tế bằng máy bay, còn ta ở dưới này cứ xay gạo. Đi chiến dịch mà như đi trẩy hội. Xay xát cả ngày đêm tại mặt trận như thế mới hết được 10.000 tấn lúa chứ” - ông Trần Thịnh Tần nhớ lại.


Theo ông, đồng bào Tây Bắc chỉ có lúa, không có gạo vì ở đó họ dùng cối xay nước giã suốt ngày, ăn ngày nào chỉ giã ngày đó, sàng sảy ra rồi ăn cho hôm sau. Lúc tụi tôi đi vận động, bà con nói: “Bộ đội xin gạo thì không có, nhưng lúa thì sẵn lắm”. Vậy thì mình đành lấy lúa, 10.000 tấn lúa rải rác ở các kho trong rừng”.


Các đội thanh niên xung phong và dân công hàng chục ngàn người đã gọi nhau, thu gom những người có nghề, biết đóng cối xay gạo lại. Giữa rừng, hàng trăm điểm xay xát, giã gạo lần lượt mọc lên. Mặc dù cách Điện Biên Phủ chỉ 5 - 6 km đường chim bay nhưng những công trường này là bí mật khổng lồ của chiến dịch.


Ông Tần nhớ lại: “Chiều đến cứ ra mặt đường tôi thấy đông như hội, dân công, bộ đội xay xát, hát hò như một công trường khổng lồ. Pháp đi trên không quan sát, tiếp tế bằng máy bay, còn ta ở dưới này cứ xay gạo. Đi chiến dịch mà như đi trẩy hội. Xay xát cả ngày đêm tại mặt trận như thế mới hết được 10.000 tấn lúa chứ”.


10.000 tấn lúa đã trở thành 7.000 tấn gạo cung cấp cho chiến dịch. Tình thương của người dân tộc Tây Bắc đã khiến thương vong và hiểm nguy giảm đi gấp ngàn lần.


Cứ mỗi chuyến xe 1 tấn từ Việt Bắc, Thanh Hóa đi lên, qua 600-800 km là bao nhiêu công sức, xương máu, giờ đã có hẳn những cót gạo khổng lồ nằm giữa núi, trong hẻm núi, trong rừng... của người dân tộc cho, chỉ cần tập kết lại các kho và đợi bộ đội đến giờ tới lấy.


Nỗ lực của những người ở trung tuyến, hậu tuyến, không giáp mặt đánh nhau, nhưng phải mưu mẹo, tháo vát, nghĩ ra rất nhiều thứ giúp sức cho bộ đội.


Gạo người Tây Bắc cho là gạo nếp, nấu cơm nếp ăn mãi bị nóng cổ, gạo tẻ trở thành quý hiếm, chỉ dành cho người bệnh. Lúc ấy, nhà bếp lại nghĩ ra dùng lá chuối quây nồi cơm lại thành cái chõ đồ xôi giống nhà đồng bào, nếp nấu ra ăn ngon hơn hẳn và không bị nóng rát cổ nữa.


Khoai sắn có trong kho, người của Tổng cục Cung cấp phải nghĩ ra máy sấy khoai mì cho khô để cho bộ đội có lương khô ăn dần trên đường đi. Xong máy sấy, người của ông Tần lại phải nghĩ ra máy ép sợi, biến khoai mì thành sợi như mì gói bây giờ, xong sấy khô qua lò, khi ăn chỉ cần chan nước vào là ăn được.


Cái đói khổ, nghèo nàn vây lấy chiến dịch, nhưng những con người quen chịu khổ, quen suy nghĩ lại tìm được cách để tồn tại trong sự khắc nghiệt lớn nhất.


Ở Tây Bắc hồi ấy, có nhiều chỗ là “quán tự giác”, bà con dân tộc để chuối, xôi, đồ ăn ra ngoài rìa đường, ai đi ngang qua ăn thoải mái, ăn xong thì cứ trả tiền theo ý mình thích, chẳng ai lấy cắp của nhau.


Ông Tần kể: “Bộ đội chúng tôi đến ngủ nhờ lúc nào bà con cũng có chỗ, trên vách lúc nào cũng có sẵn 3 cái “típ” (giỏ) xôi, có nắp đậy, tụi tôi đến là được có ăn. Bộ đội với bà con thân thuộc như người nhà vậy. Mỗi khi tụi tôi bị sốt rét, lại xin vào nhà bà con dân tộc ngủ. Bà con chăm sóc chu đáo, dùng lá thuốc cứu chữa bệnh sốt rét, chứ họ đâu có thuốc tây gì đâu, có gì ngon cũng moi ra cho người ốm ăn. Họ không giàu có gì nhưng hết lòng giúp đỡ”.


Những chuyện “bếp núc” hết chiến dịch thì cũng xong. Hàng chục ngàn dân công và thanh niên xung phong khi ấy đã là “cái giá đỡ” sức bền cho bộ đội trong chiến dịch. (còn tiếp)


Khải Đơn         


Bí mật chiến thắng Điện Biên Phủ - Kỳ 2: ‘Tai, mắt’ tướng Giáp phủ trận địa


Bộ phận thông tin dù hoạt động rất thầm lặng nhưng lại góp công lớn trong chiến thắng lừng lẫy Điện Biên Phủ, nơi ghi dấu ấn của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp.


“Trong chiến đấu, ai nắm được chính xác thông tin coi như giành được 50% chiến thắng”, đại tá Đặng Đình Vinh, nguyên cán bộ phụ trách thông tin của Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ nói.


Rải 1.500 km dây cáp thông tin


Năm 1950, ông Vinh học khóa 6 Trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn ở Thanh Hóa. Sau đó ông được điều động đi học về thông tin, rồi trở làm cán bộ phụ trách thông tin của Bộ Tổng tham mưu, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.


Ông Vinh nhớ lại bộ phận thông tin của ta lúc đó chỉ có hình thức là hữu tuyến, vô tuyến và chuyển đạt (con người chuyển thông tin).


Về thông tin hữu tuyến, khác với các đường dây bắt trên cột cố định như bây giờ, ở thời kháng chiến chống Pháp và chiến dịch Điện Biên Phủ, mỗi chiến dịch, bộ phận thông tin phải có nhiệm vụ rải dây cáp để kết nối thông tin giữa Bộ Tổng tham mưu với các đơn vị bên dưới.


Một lần không liên lạc với cơ sở vì đường dây cáp bị đứt, Đại tướng gọi anh Hoàng Đạo Thúy lúc đó là trưởng ban 3 tới nói: Các anh có định cho tôi làm chỉ huy chiến dịch nữa không. Đại tướng nói nhẹ nhàng nhưng anh em thấm thía vì thấy được tầm quan trọng của bộ phận thông tin, nhất là trong thời chiến


“Trong chiến dịch, bộ phận thông tin phải có nhiệm vụ rải trung bình 1.500 km dây cáp. Việc vận chuyển số dây cáp này chủ yếu bằng các phương tiện thô sơ như xe thồ, mang vác theo người, vất vả gian nan vô cùng. Tuy nhiên ưu điểm của liên lạc hữu tuyến là gần như bảo đảm bí mật nên thường được sử dụng”, ông Vinh nói.


Về thông tin vô tuyến, lúc này quân ta cũng đã có một số máy thu phát tin như R109 của Liên Xô. Tuy nhiên hình thức thông tin này dễ bị địch bắt sóng lộ bí mật nên ít khi sử dụng. Hình thức truyền tin vô tuyến thường được sử dụng khi trận chiến đã xảy ra. Lúc này nếu địch có bắt được sóng cũng đối phó không kịp


Hình thức truyền tin cuối cùng là chuyển đạt, thường được sử dụng trong trường hợp đường dây điện thoại chưa rải tới hoặc khi thông tin hữu tuyến, vô tuyến không thể kết nối được. Lúc đó, người có nhiệm vụ đưa tin sẽ đưa thông tin hay chỉ thị tới cho bên cần nhận tin.


Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, có ba ban trực thuộc Bộ Tổng tham mưu là ban tác chiến (ban 1), quân báo (ban 2) và thông tin (ban 3). Đại tướng Võ Nguyên Giáp coi ban 3 như tai mắt Sở Chỉ huy chiến dịch, đi đâu làm gì cũng yêu cầu phải có ban 3 bên cạnh mình.


“Một lần không liên lạc với cơ sở vì đường dây cáp bị đứt, Đại tướng gọi anh Hoàng Đạo Thúy lúc đó là trưởng ban 3 tới nói: Các anh có định cho tôi làm chỉ huy chiến dịch nữa không. Đại tướng nói nhẹ nhàng nhưng anh em thấm thía vì thấy được tầm quan trọng của bộ phận thông tin, nhất là trong thời chiến”, ông Vinh nói.


Nghi ngờ tướng De Castries trá hàng


Đại tá Lê Huyến, nguyên trung đội trưởng thuộc ban 3 của chiến dịch Điện Biên Phủ nhớ lại: 15 giờ ngày 7.5.1954, lệnh tổng công kích vào Mường Thanh được phát đi từ Sở chỉ huy mặt trận.


17 giờ 30 phút, tin báo về là toàn bộ địch ở Mường Thanh đã đầu hàng. Đáng chú ý là tin tướng De Castries đầu hàng được Sư đoàn 312 báo về.


Lúc này thông tin trên các đài quan sát của ta cũng báo ở trung tâm Mường Thanh có tiếng nổ và khói, xuất hiện nhiều cờ trắng và tốp người từ Mường Thanh đi ra.


Nghe tin, Tướng Giáp yêu cầu bộ phận thông tin nối máy gặp ông Lê Trọng Tấn (lúc này đang là Sư trưởng 312). Ban 3 yêu cầu tất cả các máy điện thoại có khả năng gây nhiễu phải ngừng hoạt động tránh làm gián đoạn cuộc gọi quan trọng của Đại tướng.


Tướng Giáp hỏi ngắn gọn: “Có chính xác là De Castries bị bắt không?”.


Sư đoàn trưởng Lê Trọng Tấn im lặng một lúc rồi báo cáo: “Thưa anh, anh em báo cáo lên là đã bắt được De Castries”.


Đại tướng nhắc cần đối chiếu nhân dạng với thẻ sĩ quan của De Castries, kiểm tra cả chữ ký, đảm bảo chính xác.


“Anh phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc này. Tôi sẽ cho ngay người mang ảnh và chữ ký De Castries xuống để đề phòng chúng đánh tráo tên chỉ huy. Thi hành rồi báo cáo gấp”, Đại tướng lệnh.


Ngay sau đó, ban 3 đã cử một người chạy bộ xuống Sư đoàn 312, trực tiếp đưa ảnh và chữ ký De Castries để đối chiếu.


Một lát sau, ông Tấn phấn khởi báo với Đại tướng: “Chính xác đã bắt được De Castries và toàn bộ bộ tham mưu.  Hiện chúng đang xếp hàng trước mặt tôi. De Castries vẫn đội mũ đỏ, tay cầm cả can”.


Lời ông Tấn vừa dứt, cả Sở Chỉ huy chiến dịch như vỡ òa.


Trung Hiếu


thanhnien.com

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 19.10.2017
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
Hãy tha cho hai chữ “nhân dân”! - Ngô Minh 11.10.2017
xem thêm »