tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20549092
Tiểu thuyết
16.04.2014
Triệu Xuân
Giấy trắng

bốn


Sau khi đề nghị bệnh viện đưa xe Hồng thập tự lên đón Sáng về thành phố, Thịnh, Lộc đến xã Bình Minh. Trên đường, các anh gặp đoàn xe chở cỏ. Anh em lái xe xuống kể cho Thịnh và Lộc nghe về vụ nổ.


Giám đốc và Phó giám đốc nhà máy Hy Vọng vào bệnh viện. Các anh xúc động nhìn gương mặt người kỹ sư trẻ đang nằm thiêm thiếp trên giường bệnh. Xe Hồng thập tự vừa tới, Sáng thức dậy. Bàn tay Thịnh và Lộc nắm chặt bàn tay trái của Sáng. Mắt họ nhìn nhau như đã hiểu hết những điều cần nói. Trước mắt hai thủ trưởng của mình, Sáng gắng gượng đứng dậy tự đi ra xe, nhưng anh chóng mặt phải ngồi xuống. Lộc và Thịnh đỡ Sáng lên xe. Lệ Thy đi theo xe nhanh nhẹn đỡ cho Sáng nằm xuống băng ca, rồi cô ngồi xuống bên cạnh Sáng. Xe êm ái chuyển bánh. Thịnh và Lộc cám ơn các bác sĩ và nhân viên bệnh viện, rồi Lộc hối hả qua làm việc với công an huyện, Thịnh đến với đội khai thác.


Trong phòng riêng của thiếu tá Trung, trưởng công an huyện, đồng chí thiếu tá vốn là bạn của Lộc từ ngày còn ở vùng mỏ Quảng Ninh, thân mật tiếp Lộc. Tại đây, Lộc được Trung cho biết là mảnh lựu đạn thuộc loại mỏ vịt của Mỹ. Lộc đã yêu cầu thiếu tá Trung tìm hỏi xem ngày hôm trước xảy ra vụ nổ, ở huyện có cuộc họp nào mà thành phần là chủ tịch xã hoặc xã đội trưởng không. Thiếu tá Trung hỏi lại Lộc:


- Anh có ý gì mới chăng?


- Có, nhưng chưa tiện nói, vì tôi mới có ấn tượng thôi, chưa đủ coi là chứng cớ.


- Cứ nói với tôi đi.


- Tất nhiên. Anh thì tôi chẳng còn ngại gì nữa. Tôi đã hỏi cậu Mạnh về đồng chí chủ tịch xã. Mạnh cho hay là ngày hôm trước xảy ra vụ nổ, chủ tịch Hài nói với vợ là đi họp ở huyện đêm đó không về. Nhưng ngay khi vụ nổ xảy ra, Hài đã có mặt ở hiện trường.


- Chờ tôi một lát. 


Thiếu tá Trung tiến đến bàn đặt máy điện thoại. Anh quay máy hỏi bên văn phòng Ủy ban huyện và một vài phòng ban khác. Sau cùng anh trở lại nói với Lộc:


- Suốt ngày hôm đó không có cuộc họp nào ở huyện ngoài cuộc họp của phụ nữ mà thành phần dự là phụ trách hội phụ nữ của các xã.


- Còn đêm đó?


- Không.


- Vậy là có chuyện rồi!


- Anh nghi cho Hài?


- Chưa biết thế nào. Nhưng đôi mắt của Hài làm cho tôi không tin được. Còn anh?


- Đó là một cán bộ có năng lực. Từ khi được đề bạt làm xã đội trưởng, tình hình xã Bình Minh yên ổn lắm!


- Nhưng, anh đã trực tiếp nói chuyện với người đó bao giờ chưa? Chưa à? Hãy thử tiếp xúc coi. Nếu có thể, hãy cùng nhậu một bữa với ông ta. Ổng uống rượu dữ lắm đó.


- Được. Anh yên tâm. Tôi sẽ tìm cho ra vụ này.


Lộc bắt tay Trung:


- Tôi vẫn tin anh, tin ở năng lực của anh như hồi ở Quảng Ninh, Trung ạ!


- Này, bài báo anh viết về tôi, về cuộc tiễu phỉ ở Quảng Ninh hồi đó, tôi còn giữ được đến giờ đấy.


- Vậy sao!


- Có gì, anh cứ điện cho tôi.


- Chắc chúng ta còn gặp nhau nhiều.


*


*           *


Đã mấy ngày nay, sau vụ lựu đạn nổ, bà con giáo dân lo sợ, không ai dám đi cắt cỏ nữa. Nhiều người mang gạo đến trả lại cho đội khai thác. Suốt ngày, Thịnh và Lộc chia nhau đi vận động từng nhà. Các anh lại tìm đến nhà thờ. Vị linh mục tiếp Thịnh và Lộc rất vui vẻ. Ông đã nhận lời của các anh, vận động bà con yên tâm đi cắt cỏ. Lộc nói một cách đầy tự tin:


- Thưa cha, các biện pháp an ninh sẽ được tăng cường. Chúng tôi xin hứa như vậy.


- Chúa sẽ trừng phạt những kẻ phá hoại sự an bình. - Vị linh mục làm dấu rồi tiễn các anh ra cửa - Mong được quí anh lui tới cho vui.


- Dạ. Cám ơn cha!


Những biện pháp an ninh của chính quyền cùng những lời nói của giám đốc nhà máy, những lời của cha đã mang lại lòng tin cho mọi người. Năm ngày sau, số người đi cắt cỏ lại đủ mặt như trong danh sách. Theo sáng kiến của Thịnh, anh em trong đội khai thác thay nhau canh gác khu vực chất cỏ suốt ngày đêm. Với bà con giáo dân, cứ mười người đi cắt cỏ cử ra một người gác đêm cùng anh em. Người gác đêm được trả công bằng một ngày công cắt cỏ. Lực lượng công an huyện theo yêu cầu của Lộc, có một tổ ba người do Trung cử về thường trực ở Bình Minh. Liên lạc giữa tổ ba người nối với huyện bằng vô tuyến bộ đàm. Đâu lại vào đó. Thịnh giao mọi việc lại cho Lộc, anh trở về nhà máy.


Về tới thành phố, Thịnh bảo người lái xe đến thẳng nhà Sáng. Bà Năm cảm động khi thấy giám đốc nhà máy đến thăm.


- Tôi vừa ở nơi khai thác cỏ về, tới đây ngay. Nếu chị rảnh mời chị lên xe đến bệnh viện thăm Sáng.


- Dạ quí hóa quá! Cám ơn chú, tôi mới ở chỗ cháu về.


- Sáng đã tỉnh hẳn chưa chị?


- Dạ, nhờ Trời Phật phù hộ, cháu đã ngồi dậy được rồi. May phước cho tôi. Nếu có bề nào, tôi sống sao nổi. - Vừa nói, bà mẹ vừa lấy khăn thấm nước mắt.


- Chị yên lòng, chúng tôi sẽ chăm sóc cậu ấy. Đó là một kỹ sư cưng của nhà máy đó chị.


- Cám ơn chú đã có lời khen cháu. - Bà mẹ vẫn sụt sùi khóc - Thế cái lũ phá hoại ấy, chúng đã bị bắt chưa?


- Thế nào rồi công an cũng truy ra thôi chị ạ. Thôi, xin phép chị, tôi đến với Sáng đây.


Thịnh tới bệnh viện. Sáng đã ngồi dậy được, giơ tay bắt tay giám đốc. Vừa lúc đó, Hải và Lệ Thy tới, mỗi người mang một giỏ quà. Lệ Thy nói:


- Đây là của nhà máy. Còn giỏ này là của chúng em. Anh Sáng ráng ăn cho mau lại sức nghe.


- Cám ơn Lệ Thy. Ngồi xuống đi Hải.


Cô gái lấy sữa, đường, cam, chuối trong giỏ ra xếp vào tủ đồ ăn đầu giường. Xong xuôi, cô bóc cam. Những múi cam vàng ươm, mọng nước được bàn tay khéo léo của Lệ Thy tách ra từng múi đặt vào đĩa. Thịnh nhìn ba công nhân của mình, bao nỗi lo lắng ưu tư như tan biến hết. Anh hỏi Hải:


- Thế nào, lên rừng thay Sáng được chứ?


- Cháu sẵn sàng ạ. - Hải nhỏ nhẹ.


- Cho cháu đi với chú? - Lệ Thy nhanh nhảu.


- Còn tôi xuống thường trực giúp cô chắc? - Thịnh đùa.


- Dạ, thì cháu đi vài bữa thôi mà!


- Được, để coi đã. Trước mắt, cứ lo cho cậu Hải đi trước đi. Đừng có kềm chân cậu ta lại nghe.


- Đâu có! Chú cứ chọc cháu hoài à. Ảnh đi luôn cũng được.


- Ghê nhỉ. Chỉ tài nói dóc thôi.


*


*           *


Ngày nào Thịnh cũng vào bệnh viện thăm Sáng dù chỉ năm mười phút. Có quá nhiều việc khiến người giám đốc ăn ngủ không yên. Vợ anh đã khỏi nhưng vì bị té lúc xe đang chạy nhanh nên ngực vẫn còn đau. Vết xây xát trên cánh tay đã để lại cái sẹo lớn. Ông Phát thì lấy vụ lựu đạn nổ làm bàn đạp tấn công anh. Tư Phát đã nói thẳng với anh là sẽ kiện lên cấp trên.


Tổng giám đốc Xí nghiệp Liên hiệp, ông Quang Chính gọi điện thoại tới nhà máy. Không có Thịnh ở đó. Ông gọi về nhà riêng của Thịnh. Đứa con gái lớn của Thịnh, giống cha như hai giọt nước, cầm ống nghe:


- A lô. Dạ. Dạ đúng ạ. Cháu là Trinh, con gái của ba cháu.


- Cho bác gặp ba đi cưng.


- Dạ, bác chờ một lát, ba cháu đang tắm. Ba cháu vừa về xong bác ạ...


- Thôi được, cháu nói với ba lên chỗ bác liền nhé. Bác chờ ở văn phòng đây.


- Dạ.


Người lái xe đã về nghỉ. Thịnh tự lái xe đến gặp tổng giám đốc. Vừa đi anh vừa nghĩ. Chắc là có chuyện rồi. Anh bước lên lầu một. Phòng làm việc của ông Chính ở ngay đầu cầu thang. Anh gõ nhẹ vào cánh cửa.


- Cứ vào đi. Cửa mở đó!


- Chào anh.


- Ngồi xuống đi. Tôi mới nhận được chiều nay… - Ông Chính đưa cho Thịnh một xấp giấy trắng đánh máy sạch sẽ.


Thịnh nhìn dòng chữ lớn trên đầu trang giấy: Thông báo số 1: Về tình hình phức tạp đã và đang xảy ra ở nhà máy in Hy Vọng.


Thịnh lật trang cuối cùng có ký tên và đóng dấu đàng hoàng. Người viết là phó giám đốc Lê Phát. Anh đặt xấp giấy xuống bàn, nhìn tổng giám đốc. Ông Chính có gương mặt vuông chữ điền, cằm bạnh ra, râu mọc lởm chởm. Ông Chính không giấu được vẻ lo lắng cho anh. Đôi mắt đến thời kỳ bão hòa khỏi phải mang kính của ông nhìn Thịnh đầy vẻ cảm thông. Ông nói:


- Cậu nên đọc đi. Chắc rằng anh ấy không chỉ gửi một bản lên đây cho tôi đâu. Anh Học có nói cho tôi biết là Lê Phát còn gởi cho giám đốc Sở, Ủy ban thanh tra nữa.


- Anh ấy đã chính thức tuyên chiến với tôi. - Thịnh bực tức kêu lên. Anh đứng dậy, mắt nhìn trừng trừng vào ông Chính như thể đó là Lê Phát.


- Kìa, ngồi xuống, bình tĩnh lại chứ!


- Tôi muốn biết ý kiến của anh.


- Cậu hãy đọc đi đã.


Thịnh kiên nhẫn đọc nhanh mười hai trang đánh máy với lối trình bày khá mạch lạc, lối lập luận tỏ ra khá sắc sảo. Những tiêu đề nhỏ đập vào mắt anh: “Tình hình nhà máy trước khi quốc hữu hóa” -  “Những việc làm của giám đốc Thịnh” - “Hậu quả của nó” - “Vấn đề cán bộ” - “Ai cho phép sản xuất bột giấy” - “Những nghi vấn về việc vay vốn và sử dụng vốn”. Và cuối cùng là “Những kiến nghị”. Trong mục này Lê Phát viết:


Để nhà máy in Hy Vọng khỏi sa vào lối làm ăn của tư sản, tôi đề nghị cấp trên:


1- Đình chỉ công tác của giám đốc, giao công việc điều hành nhà máy cho một đồng chí khác.


2- Tiến hành điều tra những công việc giám đốc đã và đang làm. Khi có đủ chứng cứ sẽ xử lý theo pháp luật.


3- Dùng biện pháp hành chính để chấm dứt việc khai thác cỏ làm bột giấy.


Những người Cộng sản chân chính ở nhà máy mong đợi cấp trên nhanh chóng nắm được tình hình nguy cấp ở Hy Vọng và cứu vớt nhà máy...


Thịnh cảm thấy bị xúc phạm quá đáng. Mặt anh nóng bừng bừng, tim đập mạnh. Trước mặt tổng giám đốc, anh cố kìm cơn giận. Anh cầm ly nước trà uống cạn. Trong óc anh, gương mặt của Tư Phát với vết thẹo bên má hiện ra. Kỳ lạ vậy. Con người mà anh luôn nể trọng, có lẽ nào lại đối đầu với anh, cố tình hại anh nhằm mục đích gì kia chứ? Giọng điệu này chắc chắn là của Học mớm cho rồi. Anh, trong thâm tâm, vẫn tin vào sự trung thực của Lê Phát. Con người đó khó mà biết cách bịa đặt thâm hiểm được.


- Một sự xúc phạm quá đáng. - Thịnh nói - Không chỉ xúc phạm tôi, mà cả tập thể cán bộ công nhân nhà máy.


- Ý của cậu thế nào?


- Tôi muốn được nghe anh trả lời cũng câu hỏi đó trước.


- Cậu hiểu rõ tôi ủng hộ ai rồi!


- Nhưng phải bằng việc làm kia.


- Cậu bảo tôi phải làm gì?


- Im lặng không thể là vàng. - Thịnh nhìn thẳng vào mắt Chính.


- Tất nhiên, làm sao tôi có thể im lặng được! Nhưng cho đến lúc này, tôi chưa thể có hành động gì cụ thể, bởi vì mọi việc dường như mới chỉ bắt đầu.


- Anh định hành động vào lúc nào? Phút hạ màn chăng? - Nhìn Chính, Thịnh không kìm nổi sự bực tức. Câu nói của anh hàm ý mai mỉa không phải lúc.


- Ồ! Đừng có kích tôi. Với tôi, không có trạng thái sốc đâu!


- Tôi hiểu. Anh cũng thông cảm cho. Tôi bực quá. -Ngưng giây lát, Thịnh nói tiếp - Tôi đề nghị anh cho tôi công bố cái gọi là Thông báo số một này cho toàn nhà máy Hy Vọng biết. Sẽ còn những cái số hai, số ba nữa. Phải để cho tập thể hiểu rõ ý đồ của anh Phát...


- Không nên...


- Tại sao?


- Chưa nên...


- ...


- Có nhiều điều tế nhị trong chuyện này? Không nên làm rùm beng, to chuyện. Chúng ta chỉ nên làm trong nội bộ!


- Anh sợ Thành ủy và các ban ngành nghĩ xấu về đơn vị ta?


- Cũng có thể. Cậu biết đấy, có nhiều điều tế nhị lắm...


- Nói tóm lại, anh là thế nào? Anh im lặng khi tôi bung ra sản xuất bột giấy. Và anh cũng im lặng khi có người ngăn cản tôi?


- Cậu hiểu cho. Cái thế của mình...


- À, anh cho rằng, anh phải giữ thế cân bằng? Vậy anh lo cho ai? Cho sản xuất, cho sự phát triển hay là...




 


Thịnh ngưng lại, không nói hết câu. Anh tính nói rằng “Anh chỉ lo cho cái ghế của anh” nhưng kìm lại được. Dù sao, tổng giám đốc cũng là người ủng hộ, dù chỉ ủng hộ ngầm, việc anh làm bột giấy. Anh cần sự ủng hộ đó.


Sài Gòn về đêm mát mẻ. Thịnh không về nhà, cho xe chạy chầm chậm qua các đường phố. Thành phố bộc lộ những khó khăn của mình ngay cả khi đã vào đêm. Ở các tụ điểm ăn uống, người ta nhậu nhẹt và hò hét ầm ĩ. Những vỏ chai Hennessy, Remy Martin, Martell, Ông già đi bộ(1) nhãn hiệu xanh… vứt lăn lóc cạnh những vỏ bao thuốc 555, Capstan v.v... Người ta xài phí cả ngàn đồng bạc trong mỗi bữa nhậu. Cán bộ công nhân làm sao có tiền mà hưởng những bữa ăn kéo dài năm sáu tiếng đồng hồ như vậy. Ở các tụ điểm vui chơi như các vườn hoa Văn Lang, Tao Đàn, Ngã sáu Cộng Hòa, Công trường Con Rùa, Công trường Quách Thị Trang và ngay ở công viên lớn cạnh quảng trường nhà thờ Đức Bà... đầy rẫy các cô gái làm tiền. Ngay từ năm giờ chiều, lúc còn nhìn rõ mặt người, đường phố chưa lên đèn, họ đã xuất hiện, công khai giở đồ nghề ra bôi phấn trét son trang điểm. Qua ánh đèn pha xe hơi, Thịnh thấy họ đứng dài dài bên lề đường chào mời khách. ngã tư đường Xô Viết Nghệ Tĩnh2 và Cách Mạng Tháng Tám thì họ tràn cả ra lề đường làm cản trở giao thông. Đêm nào cũng xảy ra những vụ trộm cướp đánh đá nhau, thậm chí gây án mạng ở những nơi này. Đây là tệ nạn của chế độ cũ để lại ư? Đúng, nhưng không phải đúng hoàn toàn! Một cán bộ ở Sở Công an cho Thịnh biết những con số đáng kinh ngạc: Tám chục phần trăm số gái mại dâm bắt được mỗi đêm là các cô gái từ mười bảy đến hăm hai tuổi, con các gia đình đi kinh tế mới trốn về thành phố. Lúc đầu công an mang xe tải đi gom họ về, đưa đi cải tạo lao động. Họ trốn sạch, chỉ có một số ít chịu lao động cải tạo. Đồng chí đó kết luận: Các loại tệ nạn xã hội tất nhiên là diễn ra từ trước năm bảy mươi lăm. Nhưng sau ngày giải phóng, tệ nạn xã hội gia tăng nhanh chóng. Vì sao? Có nhiều nguyên nhân làm tệ nạn xã hội gia tăng, cần phải được phân tích, nhìn nhận một cách khoa học, thì mới mong làm lành mạnh xã hội. Nhiều cô gái mới bước vào nghề mại dâm do nhiễm phải lối sống buông thả, thích hưởng thụ nhưng ngại lao động. Nhưng phần lớn gái mại dâm xuất phát từ hoàn cảnh gia đình quá nghèo đói! Các khu kinh tế mới được quy hoạch vội vàng, không tính đến những nhu cầu tối thiểu của con người, những vấn đề quyết định đối với đời sống, như nước sinh hoạt, dịch vụ văn hóa, thương nghiệp v.v... Đào giếng sâu tới hai mươi ba mét mà chưa thấy nước! Trồng tỉa một hai vụ thất bại, đói quá, đói đủ thứ... Người ta phải bỏ về Sài Gòn, sống lang thang trên vỉa hè, bám vào các tụ điểm giao thông, chợ búa mà kiếm sống. Con đường Lê Lai và khu ga xe lửa Sài Gòn3 trở thành trung tâm bọn cướp giật hoành hành. Nạn buôn bán ma túy ngày một gia tăng, nạn trộm cướp, xì ke, gái mại dâm hoạt động công khai. Chính quyền thành phố đã có nhiều biện pháp hạn chế đến mức thấp nhất tệ nạn đó nhưng chưa tìm ra biện pháp giải quyết tận gốc rễ. Tòa án nhân dân thành phố vừa xử mấy vụ án cướp của giết người mà tội phạm là những thanh niên con nhà giàu có. Chúng giết người  theo kiểu bọn cao bồi găngxtơ trong phim Mỹ. Giải phóng thành phố, điều đó đã làm được bằng cuộc chiến đấu, hy sinh kéo dài suốt mấy mươi năm. Nhưng xây dựng thành phố này lại là một cuộc chiến đấu mới. Trong cuộc chiến này ai dám chắc là không quyết liệt, không có hy sinh?


Điều oái oăm thay, trong cuộc chiến đấu này, kẻ thù mà ta phải đương đầu rất phức tạp. Họ có thể là người đã góp phần làm nên thắng lợi mùa xuân năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm. Họ đã hy sinh cả tuổi trẻ, chịu nhiều mất mát đau thương. Họ có thể là người đã có nhiều năm công tác, cống hiến. Khi họ nhân danh Chủ nghĩa Xã hội, để vô tình hay hữu ý cản trở sức sản xuất phát triển, đi ngược lại quy luật tiến hóa thì thật là nguy hiểm. Thịnh tự nhủ: Ta sẽ không lường hết được những khó khăn gặp phải nếu như những người như Lê Phát không sớm tuyên chiến, đối đầu. Phải làm gì? Phải làm thế nào? Bằng cách nào? Trước mặt anh, mới có Lê Phát và Học. Nhưng sau họ, bên cạnh họ còn những ai nữa?


Cơn nóng giận đã dịu xuống. Thái độ của tổng giám đốc làm Thịnh hơi thất vọng nhưng không làm anh hoang mang. Anh hiểu việc mình đang làm. Anh tin vào ý định tốt đẹp đó. Anh tin vào Lộc, vào tập thể cán bộ công nhân của nhà máy anh. Anh nhủ thầm: Tấm lòng của ta, tấm lòng của cán bộ công nhân nhà máy trong sáng. Không điều gì có thể bôi nhọ được những tấm lòng như vậy...


Thịnh cho xe chạy theo đường Bạch Đằng4. Bên phải anh là dòng sông ăm ắp nước, bát ngát ánh trăng. Mảnh trăng non trôi lơ lửng trên trời không một áng mây. Ngày mai trời nắng dữ lắm đây. Bên phía Nhà Rồng, những chiếc tàu lớn của nước ngoài thả neo, điện sáng chan hòa như những tòa nhà trên mặt nước. Gió từ phía ấy thổi lại, ùa qua cửa kính xe hơi. Thịnh hít thật sâu mấy hơi dài, khoan khoái.


 


năm


Thấm thoắt đã hơn một năm từ ngày nhà máy Hy Vọng được thành lập. Nhìn lại một năm đã qua, linh mục Đạt thấy lòng mình thanh thản. Cùng với từng ngày qua đi, trong tâm trí ông đã loại bỏ được nhiều ưu tư, lo lắng và mặc cảm. Trong nhận thức của một linh mục được thụ phong ở miền Bắc, đã từng được du học ở Tây Đức về ngành in và hóa chất, chế độ xã hội chủ nghĩa và những người Cộng sản luôn luôn có một cách bức tâm lý. Ông luôn luôn coi mình là bản thể của Chúa, chỉ biết việc đạo, không màng đến việc đời, không làm chính trị. Ngay cả khi ông là một kỹ sư hóa chất, giỏi về các vấn đề in ấn và máy in hiện đại, ông vẫn coi mình làm những việc ấy là theo ý Chúa, để sáng danh Chúa. Vả chăng, cơ sở in mà ông phục vụ hồi đó là một cơ sở của giáo hội, chuyên in nhưng ấn phẩm của giáo hội, tất nhiên, có nhận in thuê cho khách hàng nữa. Ngày nhà máy quốc doanh in Hy Vọng ra đời, linh mục Đạt đã tính nghỉ làm. Ông biết lúc đó thái độ của ông sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến một trăm giáo dân và nữ tu trong nhà máy. Ông đã suy nghĩ, cả chục đêm không ngủ. Rồi câu chuyện với giám đốc Thịnh đã mang đến cho ông một quyết định: Ông chấp nhận làm một công nhân của nhà máy in quốc doanh.


Ngay từ ngày đầu, Thịnh đã mời ông làm trợ lý kỹ thuật. Mọi việc liên quan đến sản xuất, đến kỹ thuật, Thịnh và Hảo đều hỏi ý kiến ông. Từ chỗ được tôn trọng, ông thấy mình phải bày tỏ ý niệm của mình. Thế là từ đó, ông chủ động giải quyết những công việc mà trước đó, ông chờ người ta nhờ rồi mới làm. Thái độ hợp tác đầy thiện chí của ông tất nhiên được hơn một trăm công nhân là tín đồ Thiên Chúa giáo noi theo. Ông cũng như họ đã hòa nhập vào cái tập thể sáu trăm người của nhà máy. Những ngày thử thách đến với số phận của họ. Lương thực thiếu, nhiều gia đình công nhân đói. Đồng lương vốn đã ít ỏi, lại càng ít hơn khi máy in không có giấy, sản lượng trang in giảm xuống còn bằng một nửa so với trước khi quốc doanh. Ông nhớ đến cuộc họp toàn thể nhà máy, giám đốc Thịnh nói về việc phải tự làm ra giấy để có giấy in:


... “Chúng ta phải làm ra giấy. Không thể bó tay. Phải có giấy trắng. Giấy trắng bây giờ không chỉ liên quan đến việc làm, đến đồng lương. Giấy trắng thể hiện tấm lòng của chúng ta - sáu trăm con người khoác áo công nhân nhà máy in Hy Vọng, tấm lòng của chúng ta đối với cuộc sống hôm nay của đất nước...”.


Linh mục Đạt nhớ, rất nhớ đêm hôm ấy. Sau cuộc họp toàn nhà máy, được nghe những lời nói đó của Thịnh, ông đã gặp Thịnh. Câu chuyện xung quanh ý kiến về “nhuộm đen” và “nhuộm đỏ” mà một vài người e ngại. Thịnh đã cười ầm lên, nụ cười sảng khoái bộc bạch tấm lòng mà anh thường cất lên những lúc thật sự thoải mái:


- Thế theo cha, ý của cha thế nào? Cha nói là cha không hề bắt người khác khoác áo choàng đen, cái áo không làm nên thầy tu mà! Cha không có ý “nhuộm đen” cán bộ. Nhưng cha có sợ cán bộ “nhuộm đỏ” không?


- Không! Tôi là một người Việt Nam. Và sau đó, tôi mới là một linh mục. Tôi hiểu bổn phận của tôi.


- Tôi hiểu. Xin cám ơn lòng thành của cha. Tôi tôn trọng những người trung thực.


- Tôi cũng cảm ơn ông. Tôi sẽ cố gắng để góp phần cùng với nhà máy của các ông.


- Sao lại của các ông? Của chúng ta chứ! Tôi, cha, và toàn thể sáu trăm người, chúng ta là người Việt Nam. Như cha vừa nói đó. Cha là người Việt Nam trước khi là một linh mục cơ mà! Chúng ta có một Tổ quốc Việt Nam cơ mà! - Ngừng một lát, Thịnh nói tiếp giọng xúc động - Mỗi người chúng ta nhìn Tổ quốc qua cửa sổ nhà mình. Nhưng chúng ta không thể chỉ yêu Tổ quốc bằng lời nói, mà phải bằng việc làm. Yêu nước cũng như yêu người, phải bằng việc làm cụ thể. Tôi nghĩ vậy có đúng không, thưa cha?


- Tôi hiểu!


Linh mục Đạt ngước đôi mắt lộ rõ vẻ thân mật nhìn Thịnh. Người cán bộ cách mạng trẻ hơn ông hai chục tuổi, mà sao suy nghĩ và phong độ lại có thể để cho ông tin tưởng. Hình ảnh của Thịnh, quả là có một sức thu hút đối với ông.


Càng ngày, cái mà Thịnh nói: Yêu bằng việc làm cụ thể đã củng cố thêm lòng tin của ông. Thịnh tỏ ra là một người có óc quản lý giỏi, có chí làm ăn lớn. Hóa ra, anh không chỉ giỏi ở chỗ thu hút người ta, mà còn giỏi cả việc hướng dẫn cho người ta phát huy sở trường của họ. Linh mục Đạt thầm phục Thịnh ở chỗ đó. Ông đã trắc nghiệm điều đó bằng chính bản thân ông. Từ chỗ nhận lời hợp tác, đến chỗ ông nhiệt tình trong công việc, đem tâm trí ra mò mẫm sáng chế bộ matríc đồng mô cho máy Monophoto. Đây là máy sắp chữ hiện đại của Anh, cho đến năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm cả Sài Gòn chỉ có hai chiếc. Bộ matric chữ đồng của máy đang bị hư. Một năm rồi, ông chưa thâu được kết quả như ý muốn. Thất bại và tốn kém, ông chưa hề thấy giám đốc kêu ca. Ngược lại, Thịnh vẫn giao cho phòng tài vụ chi tiền, động viên ông tiếp tục nghiên cứu. Con người đó hiểu được giá của những việc mà anh ta làm! Linh mục Đạt nghĩ vậy.


Một bộ chữ đồng nếu nhập của Anh bây giờ phải mất hàng ngàn đô la. Trong hoàn cảnh này, đô la đâu mà nhập. Nhà nước phải mua chịu xăng dầu của nước ngoài vì thiếu ngoại tệ. Nếu không tự chế tạo được bộ chữ đó, máy sắp chữ sẽ nằm một xó. Sắp chữ bằng máy vừa đẹp, vừa nhanh, chính ông là người đi mua máy về, không thể để máy nằm đó được. Ông sẽ làm, làm thành công bộ chữ này, để cho giám đốc Thịnh hiểu rằng: Ông cũng biểu lộ tấm lòng mình bằng việc làm cụ thể của ông.


Sau giờ làm việc, quản đốc phân xưởng chế bản bước vào phòng đặt máy Monophoto, nơi linh mục Đạt làm việc. Hai Bảng lễ độ:


- Thưa cha.


- Anh Hai! - Linh mục Đạt gỡ kính đặt xuống mặt bàn - Anh ngồi đi. Vẫn chưa thẳng hàng! Kỳ quá!


Linh mục Đạt đưa cho Hai Bảng coi mảnh phim chụp thử bằng bộ chữ mới chế tạo.


- Dạ. Có khá hơn đợt trước.


- Ừ. À, thế nào, nghe nói kỹ sư Hải đi lên khu khai thác cỏ?


- Dạ. Giám đốc điều cậu ấy đi thế cho Sáng.


- Lạ thật. - Linh mục nói như có một mình.


- Thưa cha nói sao?


- Con người ấy...


- Cha nói giám đốc?


- Ừ, cái gì cũng làm được. Nói cho đúng hơn, anh ta thành công vì anh ta biết dùng người.


- Dạ, lúc đầu con cũng lừng khừng, không ham mấy. Nào ngờ bây giờ con thấy vui cái vui của nhà máy, lo cái lo của nhà máy, cha ạ.


- Dễ hiểu thôi. Làm việc với người biết trọng con người, ai cũng ham. - Linh mục Đạt đưa cặp kính lên mắt, nhìn Hai Bảng - Anh có thấy không, nền nếp mà anh ta tạo ra từ khi về nhà máy này. Hay thiệt. Anh ta biết tiếp nhận cái hay của lối quản lý của tư bản, biết phát huy nó, và khắc phục cái dở của nó.


- Dạ, con hiểu điều đó, giám đốc Thịnh biết làm cho mỗi người lo làm thật tốt bổn phận của mình và tiến tới lo lắng chung cho cả người khác.


- Ừ. Nhưng cũng tùy giám đốc. Có người dám đốc mà không dám làm, quan liêu và hách dịch chẳng kém gì ông chủ ngày trước...


- Dạ, tránh sao khỏi người thế này, người thế khác, thưa cha!


*


*           *


Suốt đêm Tư Phát không ngủ. Từ phòng ngủ dòm qua phòng làm việc của chồng, vợ ông lại thở dài. Đã ba giờ sáng rồi, thức miết như vầy lại bịnh mất thôi. Chị Tảo rất thương chồng. Ngay từ những năm còn cùng nhau ra vô hoạt động bí mật trong nội thành Sài Gòn, ngày ngày đương đầu với kẻ thù, với hiểm nguy, chị Tảo đã được Tư Phát dìu dắt, rèn luyện. Hồi đó, chị coi anh Tư như người anh của mình. Và trong thâm tâm, Tư Phát cũng coi Tảo như đứa em gái cưng. Ngày được tin vợ và con Tư Phát hy sinh, Tảo khóc ròng. Chị đã động viên anh Tư vượt qua nỗi đau quá lớn giữa những ngày chiến tranh ác liệt.


Sài Gòn được giải phóng, Tảo được cử về công tác tại Ủy ban nhân dân quận. Sau một thời gian, chị được bầu làm chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, nơi mà trong chiến tranh, chị đã bám trụ và hoạt động. Công việc bộn bề, sáng nào chị cũng phải dậy từ năm giờ lo việc nhà và cơm nước. Ăn sáng xong, chồng đến nhà máy, vợ đến Ủy ban phường. Tối về, nhiều khi chị chờ cơm đến chín mười giờ mới thấy chồng về. Cả hai cùng bù đầu với công việc, nên chẳng ai hờn trách ai. Trong tư tưởng của Tảo, vấn đề làm chị áy náy nhất là việc chị chưa có con. Mong có một đứa con để chứng tỏ chị rất thương chồng, để vợ chồng có hạnh phúc gia đình thực sự. Niềm mong mỏi đó đã trở thành một ước mơ lớn khi mà thời gian từ ngày cưới cứ lặng lẽ trôi không để lại một dấu hiệu gì trong chị. Những đêm thao thức không ngủ được, chị nhìn chồng ngủ say, giấc ngủ mệt, nặng nề. Những lúc đó, trong lòng chị xốn xang tình thương yêu. Chị lùa những ngón tay của mình vào mái tóc điểm bạc của chồng. Còn đêm nay, có chuyện chi mà chồng không ngủ.


Ngồi ở xa lông uống trà và hút thuốc liên hồi, Tư Phát nhìn chăm chăm vào chiếc gạt tàn. Chiếc gạt tàn thuốc lá bằng sứ tráng men có in hình tờ giấy bạc lưu hành trước giải phóng. Nghĩ cũng kỳ thiệt, làm gì mà phải quảng cáo dữ vậy, - Tư Phát nghĩ - ngân hàng thì tất phải có tiền, làm chi mà phải tốn kém đặt làm giỏ xách, làm gạt tàn thuốc lá biếu đến từng thân chủ mỗi năm như vậy? Đúng là cái lối làm ăn chạy theo hình thức màu mè của tư bản... Tư Phát dừng lại ở ý nghĩ đó. Ông chê, rất chê lối làm ăn của tư bản. Từ đó, ông kịch liệt phản đối những ai, hôm nay, tiếp thu phương thức của tư bản. Ông có cái lý của ông. Chủ nghĩa Tư bản là kẻ thù của Chủ nghĩa Xã hội. Nó bóc lột người ta, nó mới giàu có chứ có giỏi giang gì mà phải học! Ông căm thù nó. Ông đã hiến dâng cả tuổi trẻ của mình. Ông đã mất mát cả hạnh phúc gia đình, quê hương ông đã bị tàn phá, ông đã hy sinh cả tuổi trẻ để chiến đấu tiêu diệt nó. Vậy mà, bây giờ lại có những kẻ nhắm mắt làm càn, làm ẩu. Họ tính chạy theo gót chân của bè lũ tư bản à? Họ tính biến nhà máy in của ông thành nơi làm ăn của tư bản à? Đâu có được! Là người Cộng sản, ông đâu có chịu để cho ai muốn làm gì thì làm. Ví dầu ông có vì tuổi tác mà về hưu đi nữa, thì còn những người khác chứ. Sức mấy mà chả làm được những việc tầm bậy như vậy. Chả ở đây là Thịnh. Tư Phát đang nói về Thịnh. Tờ trình của ông về giám đốc Thịnh đã được gửi lên cấp trên, gửi cho nhiều cấp trên! Ông quyết không chịu qui hàng khuynh hướng xét lại của Thịnh. Ông sẽ làm tới cùng...


Người vợ ở phòng trong nhẹ nhàng xếp lại mền mùng. Chị Tảo mở cửa sổ, rồi mở cửa phòng bước vào phòng làm việc của chồng. Chị nhìn chồng. Đôi mắt ông trũng sâu thêm sau đêm thức trắng.


- Suốt đêm mình không ngủ sao?


- Hừ.


- Có chuyện chi vậy?


- ...


- Có chuyện chi mà mình giấu em?


- ...


- Hay là... hay là mình hết tin em rồi?


Tư Phát ngước nhìn lên. Ông âu yếm dang tay đón vợ ngồi xuống bên mình. Chị Tảo nép sát người vào chồng. Tay chị vòng qua lưng chồng, nắm lấy cánh tay của chồng. Giọng chị như hờn trách:


- Vợ chồng, có gì vui buồn cho nhau hay. Chẳng lẽ em không đáng để cho anh thổ lộ sao?


- Đâu có chuyện gì đâu em. Chuyện công tác thôi.


- Lại chuyện với anh Thịnh phải không?


- Ừ.


- Anh chống anh ta, coi chừng anh  lầm đó!


- Em nói sao?


- Em nghĩ rằng chúng ta đã mất mát quá nhiều để có được sự thanh bình mà làm ăn. Ngày nay, ai tìm cách làm giàu cho dân, cho đất nước thì người đó cần được ủng hộ. Anh biết không, ngày ngày tiếp xúc với bà con trong phường, em hiểu được nguyện vọng của dân. Họ nói: Dân giàu thì nước mạnh. Ông nhà nước không để cho dân giàu thì nước làm sao mà mạnh, không mạnh mà còn khó yên! Câu nói của họ hàm ý phê phán công cuộc cải tạo tư sản hiện nay đó. Phê phán là trật rồi phải không? Phải cải tạo. Không cải tạo không được. Nhưng cải tạo bằng cách nào mới là quan trọng! Cải tạo cách nào để rồi sản xuất phát triển hơn lên, của cải vật chất ngày một nhiều hơn. Đằng này, chẳng biết làm ăn ra sao mà cải tạo xong là mọi cái lụi đi liền hà. Cứ làm miết theo điệu này, có ngày các cơ sở sản xuất đóng cửa hết, không ai muốn làm nữa. Thành thử khi bà con phê phán việc nhà nước cải tạo tư sản, có trật mà cũng có trúng đó anh. Ở phường của em, có tới hơn một trăm cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, với đủ các nhóm sản phẩm: cơ khí, hóa chất, mộc, mây tre lá... Vậy mà bây giờ họ ngưng hoạt động hết hai phần ba rồi. Ở đây có nhiều thợ giỏi anh ạ. Nếu so với bậc thợ cơ khí cao nhất là bảy trên bảy phải không, thì riêng phường Năm cũng phải ba bốn chục người. Vốn quí đó anh. Ngày trước, thứ gì ở đây cũng làm được. Sản phẩm nếu tính giá trị tổng sản lượng thì một năm ở phường Năm này cũng đạt tới mười lăm triệu đồng. Vậy mà bây giờ họ ngưng sản xuất. Người giỏi nghề, người có vốn, vượt biên gần hết trơn rồi! Uổng quá anh à.


- Như vậy là sao? Em ủng hộ lối làm ăn tư bản à? Nếu cứ để cho họ tồn tại, họ sẽ bóc lột và sẽ thành tư sản ráo trọi. Em hiểu không?


- Thì em  có nói là em ủng hộ họ thành tư sản đâu! Em chỉ nói là phải có biện pháp thích hợp. Nếu có cách làm thích hợp thì mới đạt tới đích là cải tạo để xây dựng cơ cấu kinh tế xã hội chủ nghĩa. Còn nếu không có cách làm thích hợp thì là... làm tàn lụi đi nhân tài vật lực của mình, làm nghèo đất nước!


- Thôi đi đồng chí chủ tịch phường. Coi chừng đó em! Coi chừng kẻo lại ăn phải bả của bọn tư sản rồi đó. Âu cũng dễ hiểu thôi. Ngày nào em cũng nghe những lời kêu ca phải không? Nghe kêu riết rồi thấy thương, thấy họ đúng, thấy nhà nước sai. Đó. Chết đó em! Lập trường tư tưởng là ở đó đó!


Chị Tảo nhìn chồng và ngạc nhiên trước thái độ bảo thủ của chồng. Chị không nói gì nữa.


- Để em đi đặt nồi cơm lên bếp nghe anh.


Cánh cửa sổ hướng đông được mở ra. Ánh nắng ban mai tràn ngập căn phòng, soi lên gương mặt ông Phát với quầng đen dưới mi mắt và những nếp nhăn. Vết thẹo trên má bên trái của ông lại giật giật. Ông đang xúc động. Câu chuyện vừa rồi với vợ làm ông xúc động, tức giận, không phải giận vợ, mà là Thịnh. Có lẽ nào quan điểm của Thịnh lại cũng là quan điểm của cả nhiều người? Dù sao mặc lòng, ông đã tuyên chiến với Thịnh, và ông sẽ chơi tới cùng. Trong cuộc chiến này, ông có đồng minh đáng tin cậy. Đó là Học. Một cán bộ lãnh đạo trẻ, đang lên, có tài năng. Với ông, Học đúng là người xứng đáng làm tổng giám đốc thay ông Chính, một cán bộ đã sắp đến tuổi hưu rồi.


Chị Tảo mang phin cà phê đến đặt trước mặt chồng. Từng giọt cà phê đen đặc quánh nhễu từ từ xuống đáy chiếc ly pha lê trong suốt. Mùi cà phê thơm lừng làm đẹp thêm buổi sáng bình minh trong xanh của thành phố. Nhưng lòng dạ ông Phát còn thiết gì đến buổi sáng tao nhã như vậy. Ông đã bị cuốn hút bởi những việc ông làm. Quả là những người hay gây ra việc này việc nọ, thường là những người để mất đi vẻ thanh thản, vốn quí của đời người. Nghĩ vậy, chị Tảo càng thấy thương và lo cho sức khỏe của chồng.


(còn tiếp)


Nguồn: Giấy trắng. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh in lần đầu tháng 3-1985. Các nhà xuất bản khác tái bản nhiều lần. NXB Văn học in lần thứ 10 năm 2007.


www.trieuxuan.info


____


 


 (1) Johnnie Walker: Rượu Whisky có hình ông già đi bộ, gồm các loại nhãn hiệu: đỏ, đen, xanh lá cây, vàng và xanh dương. Loại nhãn hiệu xanh dương (Blue Label) là đắt tiền nhất.





2 Đây là một trong những con đường lớn và xưa nhất của Sài Gòn, có từ trước khi Pháp chiếm Sài Gòn với tên Thiên Lý. Pháp đổi thành đường Stratégique; sau khi quy hoạch thành phố, đổi thành đường số 25. Đến ngày 1-2-1865, Pháp đổi thành đường Chasseloup Laubat. Ngày 22-3-1955, chính quyền Sài Gòn đổi thành đường Hồng Thập Tự. Ngày 14-8-1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời nhập chung đường này với đường Hùng Vương ở Thị Nghè , Quốc lộ 13 ở Hàng Xanh làm một và đặt tên là đường Xô Viết Nghệ Tĩnh. Đến Quốc khánh 2-9-1991, Ủy nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cắt đoạn từ cầu Thị Nghè đến công trường Cộng Hòa, dài 1964m, lộ giới 35m, đặt tên là đường Nguyễn Thị Minh Khai.




3 Ga xe lửa Sài Gòn cũ, ngày nay là công viên 23-9.


4 Nay là đường Tôn Đức Thắng.




 




 




 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.Chương 3
10.Chương 2
11.Chương 1
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »