tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18404331
26.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế Cuộc đời và sự nghiệp (14)

KHÓC HÀN LÂM TU SOẠN TRƯƠNG ĐĂNG TRINH- CON TRAI NGƯỜI ANH


Vỗ ghế lòng xót xa,


Nhớ cháu lúc sinh thời,


Cha mẹ tóc bạc cả,


Dưới gối cháu còn thơ.


Khăn gói ra kinh đô


Một tay giúp việc chú


Trải mấy năm chuyên cần


Nam bắc bao gian khổ.


Chăm học, nối nghiệp tổ,


Một khắc, sách không rời.


Xuân rồi đỗ Tiến sĩ


Biết sợ lòng ước mong!


Thiếu niên vào Hàn lâm


Tài năng vua chú ý,


Đã theo nghiệp thơ văn


Làm chức quan rất tốt


Ta già, cháu trai trẻ


 


 


 


Chính là lúc đua tài


Ôi! Ba mươi tuổi lẻ


Ước mong thường đơn sai


Vật tốt khó bền sao!


Hoa xuân dễ khô héo!


Thăm thẳm trời xanh cao


Đùa giỡn sao quá ác!


Cố hương ngàn vạn dặm


Quan san xa biết bao


Tuyền đài mờ mịt lắm,


Cháu đi về ra sao?


Cha mẹ già, con nhỏ


Đau khổ biết nhường nào


Nghĩ đến lòng chua xót


Trời xanh ơi! Tại sao?


Bản dịch của Huỳnh Châu




 


BÀI ỨNG CHẾ VIỆT SỬ.


Nước Việt từ Hồng Bàng,


Xưng hiệu Kinh Dương vương,


Vốn dòng Đế Nghi thị,


Lập quốc xứ Viêm bang.


Truyền được mười tám đời


Nhiều sự tích ly kỳ,


Dựng nước và giữ nước


Đậm đà tính sử thi.


An Dương vương Thục Phán,


Nối làm vua Văn Lang,


Sau vì mất cảnh giác,


Nước vào tay ngoại bang.


Trung Hoa lúc Tần loạn,


Thừa thế, vua Triệu Đà,


Thâu tóm toàn Bách Việt


Cai trị luôn nước ta.


Mới truyền được bốn đời,


Bị địch gài nội gián,


Nam Việt mất như chơi.


Nhân dân bao thống khổ,


Phò Trưng vương quật khởi,


Độc lập chẳng được lâu…..


Sĩ vương thời Tam quốc,


Trị nước thật là tốt,


Lập Văn hiến Nam giao,


Một phương tụ anh hào.


Rồi nhân Trung Quốc loạn,


Lơi lỏng ách thống trị,


Tiền, Hậu Lý Nam đế,


Đứng lên giành kinh kỳ.


Triệu Quang Phục tài giỏi,


Giữ nước mấy mươi thu,


Tùy, Đường lại xâm chiếm,


Dân ta khổ dãi dầu,


Phò các vua Mai, Phùng (1),


Ngô vương dẹp Nam Hán,


Mới giành độc lập xong.


Đến loạn Mười hai sứ,


Thi nhau mạnh cát cứ,


Dân biết tin vào ai?


Bao năm khổ dài dài.


Anh hùng Đinh Bộ Lĩnh,


Như xuống từ thiên đình,


Dẹp yên, lên thống lĩnh,


Hoa Lư lập đế kinh.


Đinh triều tuy không dài,


Nhưng triều đầu chính thống.


Lê Hoàn lại thay vai


Cầm quân đánh bại Tống


Song chính việc soán ngôi,


Khiến nhân tâm phân tán,


Lao dịch nhiều sinh oán,


Nghiệp Tiền Lê sớm tan.


Lý Công Uẩn ứng vận,


Tựa như Triệu Khuông Dẫn.


Dời đô về Đại La,


Dựng cơ đồ nước ta.


Thái Tông vừa nối nghiệp,


Ba vương em bất phục,


Lê Phụng Hiểu mạnh tay,


Đầu Vũ Đức liền bay,(1)


Phất cờ bình nội loạn,


Thảo phạt yên biên cảnh,


Bao dấu vết linh thiêng,


Ai còn mê chưa tin?


Thánh Tông giỏi trị nước,


Đem thái bình rộng khắp,


Nhân Tông kế thừa hay,


Dân giàu nước mạnh thay!


Lại để mẹ phải chết? (2)


Khiến bao người khóc vay.


Thời Thần, Anh, Cao, Huệ (3)


Liên tiếp gặp tai vạ,


Mấy ai như Hiến Thành,


Trước sau không đổi dạ


Nhưng vua lại cẩu thả,


Anh hùng nổi lên tranh,


Chiêu Hoàng chưa trưởng thành,


Dễ sa cơ mưu độc.


Thiếu bề tôi kiều mộc,


Vực dậy một cơ đồ,


Trao ngôi rẻ như cho,


Chấm dứt triều nhà Lý.


Trần Cảnh đạt đế vị,


Chuyện thật lạ xưa nay,


Nói Đế vương hữu mệnh,


Hay mưu Thủ Độ bày?


Triều Trần cai trị nước.


Thánh, Nhân thật hiền thay!


Văn hóa phát triển mạnh,


Uy vũ bình giặc Nguyên,


Công Nhật Duật, Quốc Tuấn.


Hàm, Bạch mãi lưu truyền.(1)


Anh Tông siêng việc nước,


Văn vật tiến một bước,


Minh Tông ham sách đèn,


Mù mờ việc trắng đen,


Đến hai vua Hiến, Dụ,(1)


Chánh lệnh càng rối thêm..


Nghệ Tông lo dẹp loạn,


Đâu ngờ chuyện thâm cung,


Cả tin vào ngoại thích,(2)


Rước mối họa vào thân.


Duệ Tông nhìn xa thật!


Hăng hái quá, hy sinh. (3)


Quý Ly nắm quyền tất,


Xoay chuyển lợi về mình


Lập Thiếu Đế ba tuổi,


Triều Trần mất rất nhanh.


Đại Ngu tên nước mới,


Tây Đô chưa hoàn thành,


Quân địch ào đánh tới,


Nước vào tay nhà Minh.


Định, Giản, Trùng Quang đế,


Khởi binh tụ bốn phương,


Nghe dèm, giết danh tướng,


Mất nghiệp, mấy ai thương!


Rốt cuộc, triều Lý Trần,


Nặng tôn sùng Phật thần,


Chất chứa nhiều nhược điểm,


Triều Trần lại phi luân.(1)


Ô hô! loạn đến thế,


Làm sao vững cương thường!


Minh thuộc hai mươi năm,


Nước ta thành bình địa.


Cờ Lam Sơn dấy nghĩa,


Chí lớn tụ bao người,


Trăm trận đuổi giặc dữ,


Mười năm thu về thôi.


Tạo lập cơ đồ mới,


Lê Thái Tổ sáng ngời,


Song công thần bị hại,


Khiến bao chuyện bất lợi,


Thái Tông lên ngôi trẻ,(1)


Biếng học lại ham chơi,


Bỏ ngoài tai, cố lão,


Lụy nữ sắc, qua đời.


Nhân Tông quá măng sữa (2)


Mẫu hậu nắm hết quyền,


Giặc leo tường tiếm vị (3)


Gây tội ác tày gang.


Các cựu thần mưu trí,


Bắt toàn bộ bọn gian


Phế Nghi Dân làm quan


Lập vua hiền nối nghiệp.


Thánh Tông, tay hào kiệt,


Đáng mặt vua anh tài!


Hùng mạnh nước Đại Việt,


Khởi từ Hồng Đức đây!


Những tôi hiền Thân, Đỗ, (1)


Lập Văn đàn đầu tiên,


Phát huy văn hóa Việt,


Sách Thiên Nam lưu truyền.


 


Duệ Tông giữ đế nghiệp, (2)


Đất nước vui thái bình,


Được mấy năm tốt đẹp,


Uy Mục làm tanh banh. *


Bất nhân tên vua Quỉ!


Mầm mống mọi suy vi.


Đến vua Heo cai trị *


Dâm bạo đâu kém gì,*


Dấn vào vết xe đổ,


Mấy lần mất kinh kỳ.


Thấy Chiêu Tông yếu đuối


Quyền gian mưu chiếm ngôi.


Cung Hoàng càng lôi thôi, (1)


Lòng dân thêm phân tán,


Họ Mạc nhân thời loạn,


Chấm dứt triều Lê sơ.


Nhờ triệu tổ Nguyễn ta,


Từ Ai Lao dấy nghĩa,


Phò lập Dụ hoàng đế,


Xây nền Lê trung hưng.


Vũ hoàng nắm thừa kế (2)


Đánh Mạc thế dằng co,


Tuấn hoàng lại nỗ lực,(3)


Triều Lê vững cơ đồ.


Nhưng quyền thần nắm tất,


Như họa luồn vô nhà,


Mười một đời Lê thất,


Nay vào tay Trịnh gia.


Lòng rặt mưu gian xảo


Khiển vua như chơi cờ


Nắm hết việc lớn nhỏ,


Ngôi vua chỉ làm vì,


Cung điện như nhà ngục,


Bắt giết nào kể chi,


Tội ác hơn Tháo, Ý, (1)


Tưởng mình hơn Chu, Y.(2)


Trịnh chúa loạn đến thế,


Nghĩa sĩ ai làm gì?


Giặc Tây Sơn nổi dậy,


Người Mãn Thanh dòm vào,


Bốn trăm năm như vậy,


Thế nước buồn làm sao!


Nên biết, ý trời cả!


Rồi đến thống nhất thôi.


 


BÀI ỨNG CHẾ VỀ CÁC BẬC THÁNH HIỀN NGÀY XƯA


Đào Uyên Minh thời Tấn,


Tài giỏi khó người sánh,


Sách nào cũng làu thông


Bỏ quan chức về không.


Chọn những bề tôi giỏi,


Ghi công lao đầy đủ,


Thời Toại Nhân khai mào,


Đến Ngụy Tấn anh hào,


Tứ trụ quan lớn nhất,


Tiếp sau còn chín chức.


Tám người dựng nhà Ngu,


Mười vị xây triều Chu.


Năm quan, Tấn bá chủ,


Tam kiệt lập triều Hán,


Giúp Quang Vũ trung hưng,


Bốn bảy người lập công.


Liên tiếp thời Ngụy Tấn,


Tứ hữu, Thất hiền đông.


Chọn mà không sợ sai,


Bát Nho, Tam Mặc phái.


Đấy, những hiền thánh xưa,


Đáng làm gương hậu đại.


Vua ta, siêng học hành,


Hiểu chuyện đủ ngọn ngành,


Tìm học gương vua giỏi,


Lo lắng việc chỉnh sửa.


Mượn chuyện thánh hiền xưa,


Chọn tôi hiền phò vua,


Đề bạt người trung thực,


Khen thưởng luôn nghiêm mật..


Thần thuộc lớp xưa rồi,


Tư chất thô mộc thôi


Tự thấy không xứng chức,


Tiến hiền, chưa đủ sức,


Nhọc lòng vua tin cậy,


Khép nép họa thơ nầy.


THỂ THẤT CỔ.


HỌA BÀI NGỰ CHẾ ĂN TRÁI
HỒNG LỆ CHI (trái vải thiều)


Trái cây danh tiếng loại nào nhất?


Bồ đào, Thạch mật rất tuyệt kỳ,


Nghe đâu cây trồng tận Tây vực,


Nam phương thì có Hồng lệ chi.


Vải Thiều trái chín trong mùa hạ,


Ngậm vô hương thơm tỏa khắp cả,


Bao nhiêu nóng bức chợt tiêu đi


Giải khát sảng khoái mát tâm dạ


Hôm qua giảng sách được trên ban,


Một loại trái cây tươi sắc đỏ,


Trong đĩa pha lê rồng phun châu,


Lột lớp vỏ xinh ánh rực rỡ,


Ruột như tuyết trắng, nước thơm ngọt,


Hơn hết hương vị trăm quả ngon.


Thật đây quả quí Hồng lệ chi


Đông Pha khen nức mơ thành bệnh.


Nhớ lại chuyện cũ thời Minh Mệnh,


Mấy lần uống trà vườn Thiệu Phương


Theo vua rảo bước dạo quanh vườn,


Tự tay vua hái ân cần tặng,


Bao lần nhạn quà hoa quả tươi,


Giữ hạt giống qúi nhớ khôn nguôi,


Trải ba triều vua ơn rất nặng


Cảm niệm chuyện cũ, lòng bối rối,


Ơn nước chưa xong, thân già rồi!


Sớm chiều lo lắng phận bề tôi.


 


BÀI ỨNG CHẾ NHÂN SÂM CA


Dược liệu thượng phẩm có nhân sâm,


Phục hồi suy nhược rất là nhanh,


Từ xưa là vật báu,


Ngày nay càng quý hung.


Nhân sâm chất tốt, tác dụng mạnh,


Đại bổ nguyên khí, tăng sức già,


Nhân sâm không phải thuốc đặc trị,


Nhưng có nhân sâm, bệnh mới qua.


Nhân sâm chủ đạo các vị thuốc,


Như quan Tể tướng coi triều vua,


Như ông nguyên soái bảo vệ nước.


Mới thực là đáng quý,


Ngày càng được tôn sùng.


Người bảo trên trời sao Sâm thiêng,


Thiên biến vạn hóa nên hình người,


Ẩn trong lòng đất,


Thật xa tới tận nơi thâm sơn cùng cốc,


Sinh sôi kết tụ bao tinh hoa đất trời.


Nhân sâm giúp sức kéo dài tuổi đời.


Thường nghe nói tới Mẫu Đơn đẹp,


Mỗi khi nhìn thấy ai không thích?


Thường nghe danh tiếng nấm Linh Chi,


Mỗi khi tìm được như điềm tốt,


Cũng chẳng thể sánh thuốc nhân sâm,


Khiến bậc già lão trẻ nhiều năm.


Ta được nhân sâm thật hy hữu,


Bữa ấy giảng sách việc vừa xong,


Trà lá bàn suông chuyện lắm bệnh,


Nghĩ mình ngâm mãi khúc Nam Sơn.


Vì sâm xưa nay tìm không có,


Phân biệt thật giả rất là khó.


Như gạo cứu trợ phát cho dân,


Người đói ăn cơm, hồng sắc xuân.


Cầu mong thánh chúa rộng ân đức,


Để mọi người già được sống lâu,


Vỗ bụng ca ngâm vui thái bình,


Thượng thọ chẳng cần sâm thêm sức.


TRƯƠNG QUẢNG KHÊ TIÊN SINH THI TẬP


Quyển 2


Biên tập: Miên Thẩm (Thận Minh)


THỂ NGŨ NGÔN LUẬT.


ĐÊM MÙA THU (1)


Từ phương nao gió nổi?


Bên song tiếng rì rào,


Việc công luôn bối rối,


Tình riêng nhạt làm sao!


Mây chê trăng còn tối,


Hoa khinh thu nghèo sao?


Ôi! Sài Tang xa lối(1)


Hoa cúc giờ thế nào?


 


ĐÊM MÙA THU(2)


Ý thơ vẫn còn đấy,


Ngoài trời mưa bay bay,


Xa quê, thu nhạt lạ!


Nhớ nhà, buồn lắm thay.


Ôi! Cách trở nhiều quá,


Tạm loanh quanh trong nhà.


Nhắn với Trùng dương khách,(1)


Nhớ người trồng cúc hoa(2).


Lời bình: Hai bài “Thu dạ”, chỉ một tâm tình. Làm một chức đạ quan mà không vui, thích bỏ quách về làm dân như Đào Tiềm. Bài “Xuân nhật thư hoài” trên kia viết:“Lụy vì thăng đấu phỏng? Để hận cái thân danh”. Băn khoăn dằn vặt, bỏ về thì phụ lòng tin cậy của vua trước vận nước biết bao khó khăn. Phải công nhạn một điều, Đào Tiềm chỉ làm một viên quan nhỏ ở địa phương (Tri huyện Bành Trạch) từ quan dễ hơn nhiều. Trương Đăng Quế đang là quan nhất phẩm triều đình, lại được vua kính trọng tin cậy, bỏ về đâu có dễ như Đào Tiềm.


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. Nhóm biên soạn: NGUYỄN VĂN CHỪNG, DƯƠNG MINH CHÍNH, LÊ VĂN CÔNG, LÊ SƠN - NGUYỄN VĂN THANH. NXB Văn học. 1-2009.







(1) Mai Thúc Loan, Phùng Hưng(tức Mai Hắc đế và Bố Cái đại vương)




(1) Vũ Đức vương, Đông Chinh vương, Dực Thánh vương: Ba em của Thái tử Lý Phật Mã nổi loạn. Tướng Lê Phụng Hiểu chém bay đầu Vũ Đức vương, hai vương kia bỏ chạy, sau tự trói mình chịu tội được vua Thái Tông tha cho.




(2) Lý Càn Đức là con của thứ phi Ỷ Lan. Dương Hoàng hậu không con, xem Càn Đức như con. Khi Càn Đức lên ngôi, tức vua Nhân Tông nhà Lý, nghe lời dèm pha đày mẹ chính là hoàng thái hậu cùng 72 thị nữ vào ngục, rồi cho giết đi.




(3) Tức Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông.




(1) Tức Hàm Tử quan, Bạch Đằng giang.




(1) Tức Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông




(2) Tức Hồ Quý Ly, có hai người cô lấy vua Trần Minh Tông, sinh ra vua Trần


Nghệ Tông, Trần Hiến Tông. Quý Ly thâu tóm quyền hành, sau cướp ngôi.




(3) Trần Dụ Tông đích thân cầm quân đi đánh Chiêm Thành, bị bắt làm tù binh


rồi bị giết.




(1) Triều Trần chỉ kết hôn trong họ Trần với nhau.




(1) Lê Thái Tông lên ngôi lúc 11 tuổi.




(2) Lê Nhân Tông lên ngôi lúc 3 tuổi.




(3) Lạng Sơn vương Nghi Dân vốn là thái tử, sau vì mẹ có tội nên bị truất. Nay thừa cơ, nửa đêm leo tường vào cung giết mẹ con Lê Nhân Tông, tự xưng làm vua. Tám tháng sau, các cố lão cựu thần nhà Lê lập mưu bắt trọn đảng gian, phế Nghi Dân xuống làm tước hầu, sau giết đi.




(1) (2)(3)  Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận cùng các nhân sĩ khác tham gia Tao Đàn “Nhị thập bát tú” mà vua Lê Thánh Tông làm nguyên súy,hai vị Thân, Đỗ làm phó nguyên súy. Để lại nhiều tác phẩm văn học có gia trị, trong đó có sách “Thiên Nam dư hạ tập”.


 




(2) *Lê Duệ Tông, tức Lê Hiến Tông, con vua Lê Thánh Tông, nối ngôi làm vua 7 năm thì mất, con lên ngôi là Lê Túc Tông làm vua 6 tháng thì mất. Hoàng tử Tuấn vốn là thái tử, mắc lỗi nên bị truất, bấy giờ mới lên làm vua, tức Lê Uy Mục, ham mê tửu sắc, giết hại đại thần, người đời gọi là vua Quỉ. Cháu vua Lê Thánh Tông tên là Oanh, đánh giết Lê Uy Mục, lên ngôi tức Lê Tương Dực, cũng dâm bạo lại ăn chơi xa xỉ, cho xây Cửu trùng đài, người ta gọi là vua Heo.




(1) Lê Cung Hoàng được Mạc Đăng Dung dựng lên, sau cướp ngôi.




(2) Vũ Hoàng tức Lê Trang Tông,vua đầu thời Lê trung hưng




(3) Tuấn Hoàng tức Lê Trung Tông, kế vị Lê Trang Tông




(1) Tào Tháo, Tư Mã Ý.




(2) Chu Công Đán. Y Doãn




(1) Sài Tang: là nơi Đào Tiềm thời Tấn về ở ẩn sau khi bỏ chức tri huyện Bành Trạch. Đào Tiềm trồng nhiều hoa cúc và chơi đàn, sống thanh bạch, là hình tượng điển hình của kẻ sĩ tài giỏi và thanh cao. Trong văn học sử Trung Quốc thì Tào Thực và Đào Tiềm là hai cây đại thụ khai nguồn cho dòng văn học trữ tình mà sau nầy nở rộ những bông hoa tuyệt mỹ: Đỗ Phủ, Lý Bạch, Sầm Tham, Lý Thương Ẩn… Ý tưởng hai câu cuối bài thơ nầy nhắc đến Đào Tiềm




(1) Trùng dương khách:là mặt trời.




(2) Người trồng hoa cúc: là Đào Tiềm



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt. 1: Cuộc truy bắt ma túy đẫm máu - Hoàng Điệp – Mai Vinh 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
Mười ngày rung chuyển thế giới (11- tiếp và hết) - John "Jack" Silas Reed 15.03.2017
Hoàng Đạo Thúy với những trang viết về Hà Nội - Hoài Anh 13.03.2017
Danh sỹ Hà Nội: Hoa Bằng - Hoài Anh 13.03.2017
Đoàn Giỏi – Hầu như nhân vật “Đất rừng phương Nam” đều về trong rượu của anh - Trần Thanh Phương 11.03.2017
xem thêm »