tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20813343
25.03.2014
Nhiều tác giả
Chim quyên là chim tu hú?

Nhấn chuột vô đây đọc bài: Chim quyên là chim gì?


Cái gia gia chẳng là… cái gì cả!


An Chi


Hai câu 5 và 6 trong bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan vẫn được các nhà nghiên cứu và các nhà biên soạn có uy tín ghi là:


Nhớ nước đau lòng con quốc quốc


Thương nhà mỏi miệng cái gia gia


Nhưng gần đây ở trên mạng, có nhiều trang lại ghi chữ thứ sáu và chữ thứ bảy của câu 6 thành “da da”. Vì vậy nên đã phát sinh vấn đề: phải viết hai chữ này với d- (“da da”) hay gi- (“gia gia”) thì mới đúng?


Xin khẳng định ngay một cách dứt khoát rằng nếu viết với gi- thành “gia gia” thì “cái gia gia” sẽ là một cấu trúc hoàn toàn vô nghĩa. Các nhà có uy tín kia đã không biết, hoặc ít nhất cũng không để ý, rằng ba tiếng cuối của câu 5 (con X X) và ba tiếng cuối của câu 6 (cái Y Y) trong bài thơ tạo thành hai ngữ danh từ chỉ hai giống chim chứ hai tiếng cuối của mỗi câu (mà họ viết thành “quốc quốc” và “gia gia”) tuyệt đối không phải là những từ tượng thanh (onomatopoeia). Ở đây Bà Huyện nói về hai giống chim, như ai nấy đều có thể biết một cách hoàn toàn dễ dàng và tự nhiên: con trong câu 5 thì đau lòng vì nhớ nước còn con trong câu 6 thì mỏi miệng vì thương nhà. Vậy thì con trong câu 6 là con gì? Thưa đó là  con đa đa và chính vì đây là con đa đa nên chúng tôi xin trả lời rằng nếu bất đắc dĩ phải chọn lựa giữa “gia gia” và “da da” thì chúng tôi sẽ chọn cách viết thứ hai vì những lý do sau đây:


Ngữ âm học lịch sử đã cho phép khẳng định rằng trong một số trường hợp nhất định thì Đ [d] và D[z] từng có chung một nguồn gốc (Xin x., chẳng hạn, Nguyễn Tài Cẩn, Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 1995, tr. 63; hoặc Lê Văn Quán, Nghiên cứu về chữ Nôm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1987, tr.105). Chính vì thế nên cho đến hiện nay, ta vẫn còn thấy được những lưu tích về mối tương ứng “ Đ ~ D ” giữa phương ngữ miền Bắc với phương ngữ miền Nam hoặc giữa phương ngữ Bắc Trung bộ với ngôn ngữ toàn dân. Cái đĩa ở miền Bắc là cái dĩa ở trong Nam; còn cây da ở trong Nam thì miền Bắc lại  gọi là cây đa. Đặc biệt, cái bánh đa ở ngoài Bắc đã từng được gọi là bánh da ở trong Nam (còn bây giờ đã được thay bằng “bánh tráng”). Bằng chứng sớm nhất mà ta có thể có được về cách gọi này ở trong Nam là mục từ “bánh da” trong Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine, rồi sau đó là mục từ cùng tên, trong quyển từ điển cũng cùng tên (1838) của J.L. Taberd. Nhưng có lẽ lại càng đầy tính thuyết phục hơn nữa là cho đến 1895, Huình- Tịnh Paulus Của vẫn còn giảng trong Đại Nam quấc âm tự vị, tome I: “ Bánh da : Bánh tráng.”


Trở lên là nói về mối quan hệ “ Đ (Bắc) ~ D (Nam)”. Còn về quan hệ giữa Đ của Bắc Trung bộ với D của tiếng Việt toàn dân thì ta cũng có thể tìm thấy trong Phương ngữ Bình Trị Thiên của Võ Xuân Trang (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997) rất nhiều dẫn chứng: - đa đẻ ~ da dẻ, - (màu) đà ~ (màu) dà, - đạ đày ~ dạ dày, - đám ~ dám (trong dám nghĩ dám làm), - đao ~ (con) dao, - đày ~ dày (trong dày mỏng),v.v..


Trở lại với mối tương ứng “ Đ (Bắc) ~ D (Nam)”, ta đã có “ đa (Bắc) ~ da (Nam)” đến hai lần, một lần với tên của một giống thực vật, một lần với tên của một loại thực phẩm. Nguồn gốc chung của hai cách phát âm này đã tồn tại trong Từ điển Việt – Bồ – La (Roma, 1651) của Alexandre de Rhodes. Trong quyển từ điển lấy tiếng Đàng Ngoài làm nền tảng này,  cả da trong da thịt lẫn đa trong cây đa (của miền Bắc) đều được ghi là dea. Vậy nếu mượn cách ghi của A. de Rhodes làm ký hiệu, ta có thể nói rằng trước 1651 thì, đối với những từ đang xét, tiền thân của Đ và D đều là DE. Chính vì mối quan hệ này giữa Đ và D nên chúng tôi mới chủ trương viết da da (chứ không phải “gia gia”) để ghi tên con đa đa, nếu bất đắc dĩ phải lựa chọn. Nhưng với chúng tôi thì chữ của Bà Huyện Thanh Quan cũng không phải “da da” mà hẳn hoi là đa đa. Và hai câu thơ đang xét trong bài Qua Đèo Ngang là:


Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc


Thương nhà mỏi miệng cái đa đa.


Chúng tôi chủ trương như trên còn bà Nguyễn Thị Chân Quỳnh thì không tán thành nên đã viết trên Hồn Việt 18 (12-2008) như sau:


“Tôi không đồng ý vì tuy bà (Huyện Thanh Quan- AC) người miền Bắc nhưng chắc gì bà biết hết tên các loài chim để mà đổi “da da” thành “đa đa”, theo phát âm của người miền Bắc? Bà đi qua Đèo Ngang nghe tiếng chim hót thì hỏi dân địa phương, người ta bảo là “da da” thì bà gọi theo là “da da” chứ bà không biết quốc ngữ cũng không học ngôn ngữ học nên không thể biết “d” và “đ” cùng một gốc. Mặt khác,  bà thành thạo làm thơ thất ngôn bát cú có đối chọi nên có thể đã “chơi chữ” với cách phát âm tên hai loài chim, “quốc” hay “cuốc”, “da” hay “gia” bà không phân biệt được.” (tr.61).


Xin trân trọng thưa lại với bà Chân Quỳnh như sau. Xưa nay, khắp nước Việt Nam, không có địa phương nào gọi con đa đa, còn có tên là gà gô, bằng cái tên “da da” cả. Từ điển Việt- Bồ- La (1651) của A. de Rhodes lấy tiếng miền Bắc làm nền tảng, Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine lấy tiếng miền Nam làm nền tảng, rồi phương ngữ Bắc Trung Bộ là nơi còn lưu giữ nhiều yếu tố cổ xưa, đều ghi hoặc gọi là đa đa. Tiếng Nguồn ở Quảng Bình, một ngôn ngữ cùng gốc (Việt-Mường) với tiếng Việt (Kinh), cũng gọi giống chim này là đa đa. Đây là một bằng chứng chắc chắn để phủ nhận hai tiếng/chữ “da da”. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai là ai cũng biết, tuy về hình thức, Qua Đèo Ngang có những câu thơ tả cảnh nhưng thực chất đây là một bài thơ trữ tình. Làm thơ trữ tình thì “rút gan rút ruột” ra mà làm chứ còn đợi đi hỏi ai. Điểm thứ ba là, không riêng gì Bà Huyện, mà cả ông bà ta ngày xưa nữa, tuy không biết chữ quốc ngữ, cũng không học “ngôn ngữ học”, nhưng vẫn có cách để phân biệt d- với gi-, d- với r-, ch- với tr-,v.v., trong khi sáng tạo chữ Nôm. Đó là ngôn ngữ học “tự nhiên nhi nhiên”của họ đấy! Điểm thứ tư là con cuốc cuốc và cái đa đa, theo cách hiểu và cách ghi của chúng tôi, cũng rất “đối chọi” theo đúng luật thơ Đường chứ đâu phải là không. Đối nhau chan chát ấy đi chứ! Và cuối cùng là tuy Bà Huyện có quyền “chơi chữ” nhưng bà không được quyền bóp méo từ ngữ: cái đa đa là cái đa đa, chứ dứt khoát không thể thành “cái da da”, càng không thể là “cái gia gia”.


Tiếp theo ý kiến của bà Nguyễn Thị Chân Quỳnh, trên Hồn Việt 19 (01-2009), ta lại thấy xuất hiện ý kiến của ông Nguyễn Quảng Tuân với lời dẫn của ban biên tập: “Học giả An Chi (…) bằng vốn kiến thức ngữ học uyên bác của mình, đã bàn về gia gia- quốc quốc. Nhưng đây không phải là chuyện ngữ âm học lịch sử thuần tuý, mà là thơ, lại là thơ luật Đường… nên học giả Nguyễn Quảng Tuân đưa ra một cách tiếp cận khác.” Vậy đâu là “cách tiếp cận khác” của ông Nguyễn Quảng Tuân? Ông chẳng đưa ra cách tiếp cận nào khác của riêng mình cả. Ông chỉ dẫn ra ý kiến của Nguyễn Văn Ngọc trong Nam thi hợp tuyển và của Lý Văn Hùng trong Việt Nam văn chương trích diễm (Sài Gòn, 1961) rồi kết luận: “Chúng tôi nhận thấy, như mọi người từ trước đến nay, kể cả các vị có uy tín, đều cho rằng “quốc quốc” và “gia gia” chỉ là một cách chơi chữ thôi nên hai câu luận trong bài Qua Đèo Ngang tức cảnh của Bà Huyện Thanh Quan nên chép là:


Nhớ nước đau lòng con quốc quốc


Thương nhà mỏi miệng cái gia gia


 cho thích hợp với ý văn và phép đối trong câu thơ thất ngôn bát cú.”


Trở lên là “cách tiếp cận khác” của ông Nguyễn Quảng Tuân còn dưới đây là nhận xét của chúng tôi, trước nhất là về phần ông trích dẫn Lý Văn Hùng, đặc biệt là về lời dịch của họ Lý đối với hai câu thơ đang xét. Hai câu này đã được Lý Văn Hùng dịch thành:


Ưu quốc thương hoài hô quốc quốc


Ái gia quyện khẩu khiếu gia gia.


Dụng ý của ông Nguyễn Quảng Tuân là dựa vào mấy tiếng “gia gia” của họ Lý để củng cố cho cách chép mà ông đưa ra trong phần kết luận. Nhưng ông đã nhầm. Hai cấu trúc con quốc quốc và cái gia gia (Xin cứ tạm chép như thế) trong lời thơ của Bà Huyện là những ngữ danh từ, trong đó quốc quốc và gia gia là danh từ (vì là tên của hai giống chim), còn hai cấu trúc hô quốc quốc và khiếu gia gia trong lời dịch của Lý Văn Hùng là những ngữ vị từ, trong đó quốc quốc và gia gia là từ tượng thanh. Hai bên đã khác nhau một trời một vực như thế mà ông lại muốn lấy hai tiếng tượng thanh gia gia để chứng minh cho sự đúng đắn(?) của danh từ “gia gia” trong câu thơ tiếng Việt sao được? Việc ông Nguyễn Quảng Tuân trích dẫn Lý Văn Hùng ở đây là một việc làm không thích hợp vì hoàn toàn không có tác dụng “làm chứng” cho hai tiếng “gia gia” (tiếng Việt) mà ông chủ trương.


Còn việc trích dẫn Nguyễn Văn Ngọc thì sao? Cũng chẳng có giá trị gì hơn vì tác giả này cũng chỉ diễn giảng trên cơ sở của hai tiếng “gia gia” là hai tiếng mà chính chúng tôi đang phản bác. Chỉ khi nào Nguyễn Văn Ngọc chứng minh được rằng “gia gia” là một cái tên có thật của một giống chim và là một hình thức chính tả chuẩn dùng để ghi cái tên đó thì chừng đó những lời diễn giảng của ông may ra mới có giá trị. Xin nói cho rõ thêm một chút nữa như sau. Chỉ khi nào chỉ với hình thức chính tả “gia gia” mà tác giả vừa chỉ được giống chim cần nói đến, lại vừa chỉ được khái niệm “nhà cửa”, “gia đình” thì chừng đó ta mới thực sự có hiện tượng chơi chữ. Đằng này… người ta phải bóp méo từ ngữ để cho có thể có được một cái âm với một cách ghi gợi lên cái ý “nhà” thì chơi chữ là chơi… như thế nào? Cách ghi méo mó này không có bất cứ lý do ngữ học và văn cảnh nào để tồn tại cả.Chẳng qua vì nó đã lưu hành ngót nghét hằng thế kỷ nên nhiều người mới không đành lòng gạt bỏ đó mà thôi. Nhưng cũng có người không cần biết đến nó mà cứ ghi thẳng hai chữ đa đa vào câu thơ của Bà Huyện, chẳng hạn GS Đỗ Quang- Vinh trên www.khoahoc.net (ngày 26.4.2007). Các nhà có uy tín kia đã bị cái thế đối “quốc quốc - gia gia” mơn trớn và ru ngủ nên cũng chẳng cần biết rằng từ vựng tiếng Việt không hề có danh từ “gia gia” với tính cách là tên của một giống chim mà hệ động vật của Việt Nam cũng chẳng có giống chim nào tên là “gia gia”.Tóm lại,ta tuyệt đối không thể có “ý văn” hay nếu nó được diễn giảng từ những từ ngữ bị bóp méo.Chơi chữ mà lại bóp méo từ ngữ thì còn chơi cái gì?


Cuối cùng xin nói cho rõ ràng rằng chúng tôi đã không hề bàn đến hai tiếng đa đa (da da, gia gia) với tính cách là một hiện tượng ngữ âm lịch sử thuần tuý. Ở đây, ngữ âm học lịch sử chỉ là một phương tiện. Nên nhớ rằng văn học có một mối quan hệ khăng khít với ngữ học. Điều này, các chuyên gia đã nói đến từ lâu.


AC.


vanchuongviet.org


Không nên lẫn lộn các giống chim


Bài của An Chi


Ngày 27.10.2011, tác giả Vương Trung Hiếu có cho đăng tại mục Trao đổi của vanchuongviet.org bài “Cái gia gia là … cái nhà”, phản bác ý kiến của chúng tôi trong bài “Cái gia gia chẳng là … cái gì cả”, đăng lần đầu tiên trên Đương Thời 2 (26)-2009. Bài của ông Vương Trung Hiếu trình bày thành ba phần A, B, C nên xin theo trình tự này mà trao đổi với ông như sau.


A1.– Nhận xét về cách chúng tôi dùng từ “giống” để chỉ con cuốc cuốc và con đa đa, ông Hiếu viết:


“Cách dùng từ  “giống” để nói về hai loại chim kể trên chỉ là cách gọi thông thường trong dân gian, chứ không phải là cách gọi khoa học. “Chim cuốc” và “chim đa đa” ở đây cần xác định là hai loài chim chứ không phải hai giống chim (…)”.


Ông đã bấm đúng huyệt mà khẳng định rằng ở đây, chúng tôi đã theo “cách gọi thông thường trong dân gian”. Thì cũng giống hệt như trong Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia do Nguyễn Kim Thản, Hồ Hải Thuỵ, Nguyễn Đức Dương biên soạn (Nxb Văn hoá Sài Gòn, 2005), nhóm này đã dùng từ “giống” trong 24 mục từ, từ “chuối” cho đến “chuối vả” (và vô số các mục khác), mặc dù chính họ đã định nghĩa “giống” là “đơn vị phân loại sinh học, dưới họ trên loài”. Thế thì có phải họ chẳng biết gì về phân loại sinh học đâu; chẳng qua là họ đã nói theo “cách gọi thông thường trong dân gian”, cũng y như chính ông Vương Trung Hiếu khi ông dùng từ “loại” trong ngữ lượng từ “hai loại chim kể trên” để chỉ cuốc và đa đa. “Loại” đâu có phải là một đơn vị trong phân loại sinh học!


A2. - Ông Vương Trung Hiếu viết:


“Ông An Chi phản đối cách viết “cái gia gia” và cho rằng cụm từ này là “cấu trúc hoàn toàn vô nghĩa”. Vậy, thưa ông, nếu viết là “cái đa đa” như đề nghị của ông thì có dễ hiểu hơn không? Xin thưa là không. Nếu viết là “chim đa đa” hay “con đa đa”, người đọc có thể hiểu ngay đó là một loài chim, còn khi viết “cái đa đa” thì khó mà hiểu nó là cái gì, chứ đừng nói đến nghĩa của một loài chim”.


Rõ ràng là ông Hiếu chưa biết tới công dụng đặc biệt của từ “cái” trong tiếng Việt chứ cách đây gần 130 năm, P.J.B. Trương-Vĩnh-Ký đã viết trong Grammaire de la langue annamite (Bản in Nhà-Hàng C. Guilland et Martinon, Saigon, 1883) về công dụng đang xét của từ này với các thí dụ: cái kiến, cái chim, cái cóc, cái mối, cái nhái, v.v..(Xin x. tr. 27). Còn ca dao thì:


Cái cò, cái vạc, cái nông,


Ba con cùng béo, vặt lông con nào?


Và Nguyễn Du thì:


Con ong cái kiến kêu gì được oan!


iệu có khó hiểu không, thưa ông Vương Trung Hiếu? Nhưng còn một điều quan trọng nữa  mà chúng tôi muốn nhấn mạnh là ông đã không hiểu nghĩa của từ ngữ nên đã đem “dễ hiểu/ khó hiểu” ra mà phản bác hai tiếng “vô nghĩa” của chúng tôi. Khi chúng tôi khẳng định rằng “cái gia gia là một cấu trúc hoàn toàn vô nghĩa” là chúng tôi đã nhận thức một cách đầy lý tính với lời phân tích chặt chẽ liền ngay sau đó. Chúng tôi đã khẳng định rằng nó vô nghĩa thì nó có nghĩa đâu mà dễ hay khó hiểu!


B1. – Ông Vương Trung Hiếu viết:


“ Chúng ta biết rằng bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan viết bằng chữ nôm, hiện nay bài thơ này có bốn, năm dị bản chữ Nôm, còn dịch sang tiếng Việt hiện đại thì có bảy, tám bản trở lên”.


Chúng tôi sẽ rất vinh dự nếu được ông cho biết cụ thể đó đích xác là những bản Nôm nào và xin nhắc ông rằng ở đây không có chuyện “dịch sang tiếng Việt” vì cả Nôm lẫn quốc ngữ đều là tiếng Việt.


B2. – Ông Hiếu viết tiếp:


“Viết ‘cái gia gia’ là nói về chim đa đa (đọc ‘gia gia’ thành ‘da da’ hoặc ‘đa đa’) với nghĩa bóng là cái nhà để đối lại với ‘quốc quốc’”.


Đọc “gia gia” hay “da da” thành “đa đa” là một thao tác hoàn toàn vô nguyên tắc về mặt ngữ âm. Còn giữa “da da” và “đa đa” có một mối tương cận như thế nào về mặt này thì chúng tôi đã nêu rất rõ ràng trong bài của mình. Đến như khẳng định cái gia gia nói về chim đa đa mà lại có “nghĩa bóng” là cái nhà thì có lẽ ông Vương Trung Hiếu cũng nên tìm hiểu lại xem thế nào là nghĩa bóng.


B3. – Ông Hiếu viết để giải thích thêm:


 “Tại sao tôi nghĩ như thế, để hiểu rõ hơn về điều này, chúng ta khảo sát hai câu trong bài “Đèo Ngang tức cảnh” (Hoành giáp tức cảnh – 橫岬即景), trích từ  “Thiên Tinh Lữ Xá thu tập” – 千星旅舍收集, 2011 (Wikipedia tiếng Việt):


懷國杜鵑啼國國


思家鷓鴣鳴家家


Âm Hán Việt:


Hoài quốc đỗ quyên đề quốc quốc


Tư gia giá cô minh gia gia


Nghĩa:


Nhớ nước đỗ quyên kêu quốc quốc,


Thương nhà chim ngói gọi gia gia.


Người dịch đã nhận thức rất rõ trong câu thứ nhất nói về chim Đỗ Quyên, còn trong câu thứ hai nói về chim quốc nên mới viết “杜鵑啼國國” (Hoài quốc đỗ quyên đề quốc quốc) và “鷓鴣鳴家家” (Tư gia giá cô minh gia gia). […] Riêng về từ “giá cô” (鷓鴣) hay “chá cô” trong câu thứ hai chính là danh từ, nằm trong bộ điểu (),  có nghĩa là chim ngói,  đa đa hay gà gô, một loài chim có tên khoa học là Francolinus pintadeanus, thuộc giống Francolinus, họ Trĩ”.


Ông Hiếu giảng giải như thế chứ chúng tôi thì lại mạo muội cho rằng nếu ta thực sự tôn trọng Bà Huyện Thanh Quan thì ta nỡ nào lại đem một bài tập dịch ra mà làm căn cứ để tìm hiểu về thơ của bà. Hai câu mà ông Hiếu đã dẫn dù sao cũng còn tàm tạm; đến như hai câu


Lom khom dưới núi tiều vài chú


Lác đác bên sông chợ mấy nhà


mà dịch giả kia đã chuyển ngữ thành


Tiều vãng lĩnh hạ thiểu giảm thiểu


Thị tập giang biên gia tăng gia


rồi lại dịch ngược trở lại tiếng Việt thành


Tiều phu xuống núi dần thưa vắng,


Chợ họp bên sông mải tăng gia.


thì còn đâu là văn chương của Bà Huyện! Dù sao thì ông Hiếu cũng sai ở những điểm căn bản. Ông đã nhầm trước lẫn sau khi đánh đồng chim ngói với đa đa (hay gà gô) vì chim ngói thuộc họ Columbidae, giống Streptopelia còn đa đa (hay gà gô) thì thuộc họ Phasianidae, giống Francolinus (như chính ông cũng đã nêu). Ông còn sai một cách nghiêm trọng hơn nữa khi khẳng định rằng “câu thứ hai nói về chim quốc” mà dịch giả kia lại dịch thành “giá cô” (鷓鴣鳴家家 giá cô minh gia gia)”. Thế là ở đây ta có “tam vị nhất thể” kỳ dị:


– chim ngói (họ Columbidae, giống Streptopelia)= đa đa (họ Phasianidae, giống Francolinus)= cuốc ( họ Rallidae, giống Porzana)!


C.– Ông Vương Trung Hiếu luôn luôn nhầm lẫn. Ông viết:


“Trên thực tế, tại Việt Nam còn có những loài chim cuốc khác: “cuốc nâu” (tên khoa học là Porzana paykullii); đỗ quyên, còn gọi là tiểu đỗ quyên hay cu cu nhỏ, có tên khoa học là Cuculus poliocephalus, thuộc giống Cuculus, họ Cuculidae – một loài mà nhiều văn bản Trung Quốc đã đề cập tới. Ở Việt Nam, chim cuốc còn được gọi bằng những cái tên khác, đó là cu cu, chèo chẹo, bắt cô trói cột. Những loài này cũng thuộc giống Cuculus, thí dụ như cu cu (Cuculus canorus), cu cu phương đông (Cuculus saturatus), chèo chẹo lớn (Cuculus sparverioides), bắt cô trói cột (Cuculus micropterus)…Từ những dẫn chứng này, tôi xin phép nhắc lại: “đỗ quyên chính là chim cuốc chứ không phải là chim tu hú”.


Cuốc nâu, tiếng Anh là  band-bellied crake, tiếng Pháp là marouette mandarin, tiếng Hán là ban hiệp điền kê 斑脅田, thuộc họ Gà nước (Rallidae), còntiểu đỗ quyên hay cu cu nhỏ, tiếng Anh là lesser cuckoo, tiếng Pháp là petit coucou thì thuộc họ Đỗ quyên (Cuculidae), mà ông Vương Trung Hiếu lại gộp vào “những loài chim cuốc” thì còn đâu là khoa học! Ông khẳng định rằng “ở Việt Nam, chim cuốc còn được gọi bằng những cái tên khác là cu cu, chèo chẹo, bắt cô trói cột”. Lời khẳng định này hoàn toàn sai sự thật.


Theo Đương Thời


Biểu tượng con cò - chim quyên với khát vọng tình yêu


Trai gái nông thôn thường qua các vụ mùa, sinh hoạt ở thôn xóm gặp gỡ, tìm hiểu, nảy sinh tình yêu. Ca dao về đề tài tình yêu nam nữ vì vậy chiếm khối lượng phong phú, phản ánh mọi khía cạnh thuộc đời sống đôi lứa của người bình dân. Cả hai biểu tượng con cò và chim quyên đều đa dạng trong cách thể hiện: Khát vọng tình yêu.


Ở biểu tượng con cò, khởi thủy các cung bậc tình yêu bắt đầu bằng nỗi nhớ. Nhìn đàn cò trắng bay lượn trên không, xúm xít bầy đàn gợi trong lòng đôi lứa xa nhau tình cảm nhớ thương da diết:


Một đàn cò trắng bay quanh


Cho loan nhớ phượng cho mình nhớ ta


Mình nhớ ta như cà nhớ muối


Ta nhớ mình như Cuội nhớ trăng


Tình yêu nam nữ nơi thôn xóm đơn sơ, mộc mạc như chính tâm hồn giản dị của họ. Lời yêu thương, nhớ nhung họ bày tỏ với nhau bằng những hình ảnh ví von thiết thực, bình dị vô cùng. Còn gì gần gũi bằng cà với muối. Nỗi nhớ nào hơn "Cuội với trăng".


Nỗi nhớ đó càng gia tăng tần số theo quá trình biến chuyển tình yêu. Và chỉ khi gặp được nhau mới mong thỏa nỗi lòng:


Con quạ đen, con quạ trắng


Con ếch ngắn con rắn dài


Em trông anh trông mãi trông hoài


Trông cho thấy mặt, thấy mày mới yên


Bộ lông trắng toát luôn gắn liền với thân hình cò giống như sự "vừa đôi phải lứa" trong quan hệ nam nữ với nhau:


Con cò trắng tợ như vôi


Tình tôi với bậu xứng đôi quá chừng


Mượn sự hòa hợp trong dáng vẻ con cò, nam nữ trao nhau lời tỏ tình. Lời tỏ tình đó bao hàm khát vọng được chung đôi với nhau trong cuộc sống. Qua biểu tượng con cò, người nông dân đã bày tỏ niềm mơ ước riêng tư ấy. "Cò" giống như nhịp cầu trung gian nối duyên trai- gái cùng nhau.


Ở mảng đề tài tình yêu nam nữ, có lẽ đây là mảng nổi trội nhất mà biểu tượng chim quyên thể hiện. Chim quyên hóa thân hoàn toàn vào tầng lớp trẻ - đặc biệt là bộ phận đang yêu để bộc lộ tất cả các cung bậc của tình cảm. Qua biểu tượng chim quyên, thanh niên nam nữ trao gửi được những mối tơ lòng, thổ lộ cùng nhau bao điều thầm kín. Ở địa hạt này, "con cò" không chuyển tải nội dung sâu sát và phong phú như chim quyên. Chim quyên luôn xuất hiện dưới hình thức có đôi, có cặp. Sự xuất hiện đó luôn đánh thức lòng người nỗi khát khao tìm được cho mình tri âm, tri kỷ để trao gửi tâm tình. Chim quyên là nhịp cầu nối đôi bờ cảm xúc, là nguồn tâm hứng vô tận để nam nữ thanh niên giao kết với nhau. Cho nên ngay cả việc chim quyên đi kiếm mồi cũng dậy xúc cảm yêu đương trong lòng trai - gái:


Chim quyên ăn trái bo bo


Thương người dệt lụa trao go một mình


Chim quyên còn tỏ ra là một người tình với hành động lả lơi, âu yếm: "lăng líu cành dâu". Hành động ấy cũng làm cô gái thấy đồng tâm trạng với người mình yêu:


Chim quyên lăng líu cành dâu


Đêm nằm thăm thẳm canh thâu nhớ chàng


Vẻ vội vàng, tất bật của chim quyên trên đường cày làm người bình dân liên tưởng đến bước đi thời gian quá nhanh không kịp làm thỏa nguyện tình cảm yêu đương trong phút giây tao ngộ:


Chim quyên láo liếng đường cày


Tình thâm nghĩa nặng mấy ngày lại xa


Cặp chim quyên cùng chuyền trên cây, cùng thơ thẩn kiếm mồi luôn thể hiện sự chung thủy nồng thắm, ước mơ được kề cận suốt đời trong quan hệ lứa đôi người bình dân.


Hai ta như cặp chim quyên


Dầu khô dầu héo cùng chuyền trên cây


Khát thời uống nước bóng cây


Đói ăn bông cỏ, thiếp đây vẫn chờ


Ai đang đơn lẻ khi nhìn thấy đôi chim quyên quấn quýt, kề cận, tương hợp nhau mà không động lòng trắc ẩn. Biểu tượng chim quyên trong câu ca dao này nói lên một điều: Bất cứ hoàn cảnh nào người phụ nữ vẫn luôn giữ trọn vẹn niềm sắt son, lòng chung thủy trong tình yêu đôi lứa.


Biểu tượng chim quyên còn tố cáo chế độ phong kiến bó buộc tình yêu nam nữ trong vòng lễ giáo khắt khe. Ở đây chính là lề lối gia trưởng qua việc áp đặt của cha mẹ trong việc hôn nhân, gây ra cảnh chia uyên rẽ thúy, chia cắt tình yêu con cái mình.


Chim quyên ăn trái ổi tàu


Xứng đôi mẹ gả ham giàu làm chi


Nhà giàu tiếng bấc tiếng chì


Bất bình làm lụng đau đì mỏi chân


Đôi lúc chim quyên hóa thân vào chàng trai láu lỉnh, nghịch ngợm, mang trong đầu một dụng ý không "sáng sủa". Việc hóa thân của chim quyên vào hành động chàng trai làm sắc thái biểu thị chim quyên thêm sinh động, đa nghĩa:


Chim quyên bay đỗ nhành giao


Giả đò lơ láo kiếm sâu đỡ lòng


Lạy trời cho gió nổi giông


Cho người thục nữ mủi lòng ngủ say


Nhìn chung xã hội Việt Nam thời phong kiến hạn chế tối đa quyền sống con người, đặc biệt là tầng lớp lao động nghèo khổ. Nhưng tâm hồn của họ vượt khỏi sự phong tỏa của chế độ phong kiến, họ cất tiếng hát ca ngợi cuộc sống, ca ngợi tình yêu và trao gửi vào ca dao tất cả nỗi niềm. Vì thế, biểu tượng con cò, chim quyên đã phát huy vẻ đẹp nhân văn, đem lại cho ca dao sức sống mãnh liệt.


Trần Xuân Toàn


www.baobinhdinh.com.vn


Chim Đỗ Quyên và chim Tinh Vệ


 Bài: Lê Phạm Trung Dung


Mỗi lần nhớ về đất nước Việt Nam mến yêu ,xa cách nghìn trùng,chúng ta không khỏi bùi ngùi ,xúc động khi đọc hai câu thơ trong bài


    “Qua Đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan.


    Nhớ nước đau lòng con quốc quốc


    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia


Con quốc quốc và cái gia gia có ý nghĩa gì?


Đỗ Quyên là một loại chim còn gọi là Tử Quy hay nôm na là chim Cuốc. Đầu mỏ chim hơi cong,miệng to,đuôi dài,lông lưng màu tro,bụng trắng có một đường đen thẳng ngang.Thường lủi trong bụi rậm,dưới ao sâu hoặc hồ rộng.Cuối Xuân sang Hè thì bắt đầu kêu vào đêm trăng mờ tịch mịch ở nông thôn.Giọng kêu buồn thảm,gợi lòng khách lữ thứ nhớ nhà ,nhớ quê hương.Truyền thuyết,Thục Đế,vua nước Thục tên Đỗ Vũ thông dâm với vợ của bầy tôi là Biết Linh.Tức giận ,Biết Linh dấy loạn ,đem quân đánh phá kinh thành ,Thục Đế thất bại,mất ngôi chạy trốn vô rừng.Nhục nhã,buồn tủi,nhớ ngai vàng,nhớ nước,Thục Đế chết hóa thành chim Đỗ Quyên ngày đêm kêu “cuốc,cuốc” hay “quốc,quốc”.Quốc,quốc do mượn âm cuốc,cuốc.


Đời nhà Thương(Ân),vua Trụ ác bạo,vua Võ hội chư hầu đem quân điếu phạt.Bá Di và Thúc Tề,con vua chư hầu Cô Trúc đến trước đầu ngựa vua Võ can ngăn cho rằng bất trung,bất nghĩa.Sau khi vua Võ thắng lợi thành lập nhà Châu,Bá Di,Thúc Tề vào rừng núi ở,thề không ăn gạo nhà Châu,chỉ hái rau Vi mà ăn.Sau có người bảo đất nước thuộc về nhà Châu,như vậy rau cỏ cũng thuộc về nhà Châu.Uất ức .hai ông nhịn đói chết.Tương truyền hai ông hóa thành chim Đa Đa(thuộc loại gà ít bay thường hay lủi trong bụi rậm)vì vẫn luôn luôn miệng kêu “Bất thực túc Châu gia” ra “ gia gia” theo lối tá âm.


Bài “Qua Đèo Ngang” và “Thăng Long Thành Hoài Cổ” là hai bài thơ nổi tiếng của bà Huyện Thanh Quan. Đặc biệt bài “Qua Đèo Ngang” có màu sắc Triết học Phật giáo và rất Thiền.


Sáu câu thơ đầu


    1.Bước tới đèo Ngang bóng xế tà


    2.Cỏ cây chen đá,lá chen hoa


    3.Lom khom dưới núi tiều vài chú


    4.Lác đác bên sông chợ mấy nhà.


    5.Nhớ nước đau lòng con quốc quốc


    6.Thương nhà mỏi miêng cái gia gia


Đây tượng trưng cho Diệu Hữu: sự hiện hữu nhiệm mầu. Hai câu chót


    7.Dừng chân đứng lại ,trời non nước


    8.Một mảnh tình riêng ta với ta.


Đây tượng trưng cho Chân Không. Bài thơ trên biểu hiện triết lý CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU của Phật Giáo.Dưới cái nhìn của Thiền Tông,sáu câu đầu diễn tả tâm còn vướng vào cảnh vật bên ngoài,bị lôi cuốn theo sáu trần.Hai câu chót dừng tâm vọng tưởng,trở về với con người chân thật của chính mình.Đúng là Thiền


Thi ca cổ điển Việt Nam thường dùng nhiều điển tích về hai loại chim Đỗ Quyên và chim Đa Đa nầy.


Trần Danh Án ,một di thần nhà Hậu Lê (1423-1788) nghe tiếng cuốc kêu cũng cảm xúc nhớ lại một triều đại hưng thịnh mà cuối cùng vua Lê Chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà ,tuy yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc đành phải gói ghém tâm sự di thần trong mấy vần thơ sau đây


    1.Giá cô tại Giang Nam


    2.Đỗ Quyên tại Giang Bắc


    3.Gía cô minh gia gia


    4.Đỗ quyên minh quốc quốc.


    5.Vi cầm do hữu quốc gia thanh


    6.Cô thần đối thử tình vô cực


Bản dịch


    1.Chim giá cô ở bờ sông Nam


    2.Chim Đỗ Quyên ở bờ sông Bắc


    3.Giá cô kêu gia gia


    4.Đỗ Quyên kêu quốc quốc


    5.Chim nhỏ còn kêu tiếng nước nhà


    6.Cô thần đối cảnh tình man mác


Chu Mạnh Trinh bất giác sinh lòng hoài cổ khi đứng trước thành Cổ Loa ,xưa kia đã là cung miếu của vua Thục An Dương Vương Cung miếu ngày xưa huy hoàng ,tráng lệ bao nhiêu thì ngày nay điêu tàn,hoang phế bấy nhiêu. Trong cảnh vắng vẻ ,lạnh lùng nầy,dưới ánh trăng mờ nhạt tiếng cuốc khắc khoải năm canh vọng lên buồn bã:


    Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu,


    Đỗ Quyên đề đoạn, nguyệt âm âm”


    Cung miếu triều xưa đây vắng ngắt


    Trăng mờ khắc khoải cuốc kêu thâu”,


Nhưng tiếng cuốc của Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến mới là tiếng cuốc thấm thía, bi ai, là tiếng nói của lòng một người dân yêu nước bị mất nước- vì thực dân Pháp. Tiếng cuốc đó còn nói lên nỗi đau buồn, uất hận vì bất lực trước cảnh đen tối của đất nước bị ngoại xâm. Và đó cũng là tiếng nói của lương tâm thôi thúc Yên Đổ tham gia vào cuộc chiến đấu chung của dân tộc


    “Khắc khoái sầu đưa giọng lững lơ


    Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ


    Năm canh máu chảy đêm hè vắng


    Sáu khắc hồn ta bóng nguyệt mờ


    Có phải tiếc xuân mà đứng gọi


    Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ?


    Ban đêm ròng rã kêu ai đó


    Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ”


Tiếng cuốc kêu gợi khách tha hương nhớ về cố hương còn được diễn tả bằng tiếng đàn ảo não trong bài thơ “Cầm Sắt” của thi hào Lý Thương Ẩn đời vãn Đường


    “ Cầm sắt vô đoan ngũ thập huyền


    Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên


    Trang Sinh hiểu mộng mê Hồ Điệp


    Thục Đế xuân tâm thác Đỗ Quyên


    Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ


    Lam Điền nhật noãn ngọc sinh yên


    Thử tình khả đãi thành truy ức


    Chỉ thị đương thời dĩ vãng niên”


Bài Dịch


    1.Cầm sắt năm mươi chẵn sợi mành


    2.Mỗi dây,một trụ nhớ ngày xanh


    3.Mơ màng bướm lẫn Trang Sinh mộng


    4.Áo não quyên kêu Thục Đế tình


    5.Thương hải lệ châu trăng chiếu suốt


    6.Lam Điền hơi ngọc nắng hun thành


    7.Tình nầy đợi nhớ trong mai hậu


    8.Chán nản giờ đây khổ nỗi mình


Câu 3: tiếng đàn có âm điệu mơ màng,lãng lãng như một giấc mộng đến nỗi Trang Tử không biết mình hóa làm bướm hay bướm hóa làm minh


Câu 4: tiếng đàn có âm điệu não nuột,ai cảm như nỗi uất hận của vua Thục nhớ nước nhớ nhà


Câu 5: tiếng đàn đến đây thì trong trẻo như ánh trăng vằng vặc chiếu xuống biển xanh qua suốt lớp nước sâu đến những hạt châu long lanh như đẫm lệ


Câu 6: tiếng đàn cuối cùng với âm điệu nồng nàn,ấm áp như ánh nắng nhẹ ,êm ả chiếu xuống núi Lam Điền khiến cho ngọc quý nơi đây bốc hơi lên


Vì cuộc đời của Thúy Kiều ,nhân vật chinh trong Kim Vân Kiều phải trải qua bốn giai đoạn khác nhau: mơ màng, ảo não, trong trẻo và ấm áp nên Nguyễn Du đã mượn ý câu 3,4,5,6 trong bài Cầm Sắt của Lý Thương Ẩn


    “Khúc đâu êm ái xuân tình


    Ấy hồn Thục Đế hay mình Đỗ Quyên


    Trong sao châu rỏ duềnh quyên


    Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông”


Duềnh: vũng nước.


Lam Điền: núi sản xuất ngọc quý ,ngọc lam ở Thiểm Tây. Quyên: xinh đẹp


Trang Sinh hiểu mộng mê Hồ Điệp: Thúy Kiều sống mơ màng huyền ảo với hương vị mối tình đầu cùng Kim Trọng Đôi trai tài gái sắc nầy lúc trao kỷ vật,cắt tóc thề nguyền,lúc đề thơ hội họa ,lúc đánh đàn tuy thời gian ngắn ngủi nhưng đã xây nhiều mộng đẹp


Thục Đế xuân tâm thác Đỗ Quyên: nỗi uất hận của vua Thục nhớ nước nhớ nhà gởi vào tiếng nấc nghẹn ngào, thảm não của Thúy Kiều khi lưu lạc, nhớ quê, nhớ cảnh, nhớ cha mẹ, người yêu, sống trong kiếp đọa đày vùi hoa dập liễu.


Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ: Tấm thân tài sắc và lòng trinh trắng của Thúy Kiều chìm sâu dưới sông Tiền Đường đế rửa sạch hết bụi trần nhơ và để rồi sống cuộc đời thanh u,nhàn nhã dưới cửa thiền bên cạnh ni cô Giác Duyên


Lam Điền nhật noãn ngọc sinh yên: Cái ấm áp nồng nàn, thắm thiết, thi vị khi Thúy Kiều đoàn tụ với gia đình, gặp lại người yêu,nối lại khúc tình xưa. Ngọc lên hơi thoang thoảng như ái tình lên hương thấm thía đậm đà


Trong tuồng “Kim Thạch Kỳ Duyên” ,Bùi Hữu Nghĩa có dùng điển cố chim Đỗ Quyên và chim Tinh Vệ trong đoạn “Giải Thị tuẫn tiết theo chồng”


     “ Oan kết theo hồn Tinh Vệ


    Lụy rơi hóa huyết Đỗ Quyên


    Minh mông sóng thảm bủa đầu thuyền


    Lai láng gió sầu xao mặt nước”


Chim Tinh Vệ là một loại chim nhỏ ở bờ biển hình giống chim quạ ,chân đỏ ,mỏ trắng.Theo chuyện xưa bên Trung Hoa,con gái vua Viêm Đế đi thuyền trên biển Đông. Chẳng may, gặp cơn bão dữ dội, thuyền bị chìm và nàng chết đuối. Vì uất ức hóa thành chim Tinh Vệ bay tới bay lui, miệng ngậm đá núi Tây đến biển Đông, để nhả đá như muốn lấp biển Đông cho thỏa nỗi căm hờn bất tận. Vì thế có câu Tinh Vệ Hàm Thạch


Giản Thị là vợ của Thiết Đình Quí, tri phủ phủ Tây An (Thiểm Tây) bị tướng giặc Tiêu Hóa Long bắt sống. Sau khi nhắn tin cho vợ đang mang thai hãy cố gắng nhịn nhục nuôi con, nhảy xuống sông tự tử. Sau khi con khôn lớn, Giản Thị lập mưu giết được tướng giặc, lấy đầu tế chồng rồi cũng đâm đầu xuống sông tuẫn tiết.


Cụ Phan Bội Châu có câu đối ai điếu khi cụ Phan Chu Trinh mất


“Thương Hải vi điền,Tinh Vệ hàm thạch


Chung Kỳ ký một, Bá Nha đoạn huyền”


“Biển thẳm chưa bằng,Tinh Vệ còn ngậm đá,Chung Kỳ đã mất,Bá Nha đứt dây đàn”


Căm hờn chế độ thực dân,nước mất nhà tan,chưa san bằng chế độ thuộc địa,chưa giải phóng đất nước,nhà cách mệnh họ Phan vẫn kiên trì tranh đấu như chim Tinh Vệ ngậm đá quyết lấp biển Đông cho thỏa mối căm hờn.


Đức quốc, trước kia thua kém rất xa Anh quốc và Pháp quốc về Văn hóa ,khoa học,kỹ thuật.Nhưng từ khi Goethe xuất hiện trên văn đàn Đức quốc như ngôi sao Bắc Đẩu,văn học,nghệ thuật,âm nhạc,khoa học kỹ thuật Đức quốc trăm hoa đua nở và qua mặt lại Pháp quốc và Anh quốc.Thi sĩ Schiller chỉ nói một câu đơn giản”Sie sprechen eine schöne sprache” (*) không cần phải nói cầu kỳ như một học giả Việt Nam “Truyện Kiều còn ,tiếng Việt còn” (**).Thơ của Schiller đã được Beethoven đem vào trong bài symphonie thứ chin lừng danh , phần hợp xướng..Không biết bao giờ Việt Nam mới có được một nhân vật như Goethe đưa dân tộc đi đôi hia bảy dặm theo kịp trào lưu tiến hóa của thế giới về Văn học,khoa học,kỹ thuật ? Tôi tin chắc chắn sẽ có trong đám thế hệ mấy em cháu. tuy xa quê hương nhưng trong lòng vẫn còn giử trái tim Việt Nam.Tôi rất lạc quan vì sau nhiều năm dài sống xa quê hương,Thiền Tông đời Trần như vua Trần Thái Tông,vua Trần Nhân Tông nhất là ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ đã khơi lại mạch máu trong tôi.Rồi sẽ có một ngày Việt Nam sẽ ngóc đầu lên như nước Đức bên trời Âu.


Lê Phạm Trung Dung


truongleslauriers.wordpress.com


____


(*) ”Sie sprechen eine schöne sprache”: Anh nói một ngôn ngữ hay.


(**) Phạm Quỳnh (1892-1945) – Báo Nam Phong thời Tây thuộc địa.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nước Nga và nền kinh tế hậu dầu mỏ - Tư liệu 24.10.2017
Nhà Triệu - Tư liệu sưu tầm 21.10.2017
Triệu Đà - Người lập quốc gia Nam Việt - Tư liệu sưu tầm 21.10.2017
Không thể chối bỏ Triệu Đà và nước Nam Việt! - Hà Văn Thùy 21.10.2017
Việt Nam khai quốc: Triệu Đà (chương 1, phần 3) - Keith Weller Taylor 21.10.2017
An Dương Vương và Triệu Vũ Đế, nên thờ ai? - Vũ Bình Lục 21.10.2017
Lịch sử thăng trầm 4000 năm của người Do Thái (P.1) - Đặng Hoàng Xa 21.10.2017
Thanh Phương - Cô gái Việt kể lại giây phút rợn người khi chứng kiến tục thiên táng của người Tạng - Tư liệu sưu tầm 20.10.2017
Ải Chi Lăng - Nhiều tác giả 20.10.2017
Đại hội 19 Đảng Cộng sản Trung Quốc: Tầm nhìn 30 năm - Tư liệu 18.10.2017
xem thêm »