tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20509312
24.03.2014
Vũ Bằng
Những cây cười tiền chiến (4)

VI- Mấy bài thơ trào phúng khuyết danh cùng thời Tú Mỡ


Nếu muốn cho thành thật hoàn toàn, Tú Mỡ có cái tài làm thơ trào phúng dễ dàng, nhưng anh nổi tiếng nhiều về lượng hơn về phẩm. Không ai chối cãi được cái tinh thần trào phúng của Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, nhưng riêng tôi nhận xét thì thơ của anh đều đều, không có bài nào trội lắm. Cùng với lúc Hồ Trọng Hiếu nổi lên trên báo Ngày Nay, Phong Hóa, văn đàn của ta lúc ấy còn có nhiều cây bút trào phúng cừ khôi, nhưng hoặc vì các cây bút ấy nhũn nhặn không muốn in ra phổ biến, hoặc vì những nhà văn trào phúng ấy không có phương tiện đăng lên báo hay in thành sách, nên có nhiều thơ trào phúng “khuyết danh” chỉ được truyền tụng mà ít còn có người được nhớ đến ngày nay.


Trong số các thơ trào phúng của các nhà thơ “khuyết danh” đó, tôi còn nhớ được mấy bài, xin cứ ghi lại nơi đây, nếu trong bạn đọc có ai tìm được xuất xứ và tác giả xin viết thư về chỉ bảo cho tập văn liệu này được đầy đủ hơn, thiết tưởng cũng là điều bổ ích:


TRÒ TRỐNG


… Tang bằng mít, mặt bằng da,


Đai cũng có, đóng đanh qua cũng có.


Trống tràng học gọi đàn trẻ nhỏ,


Vào tan chơi có hiệu càng nghiêm.


Trống đình làng tấp nập quan viên,


Tục xôi thịt dưới trên là ở đấy.


Tiếng trống hầu công môn oai gấp mấy,


Lũ dân đen giật nẩy cũng vì tiền.


Nôn nao lòng là trống ngũ liên,


Giàu sợ cướp, con đen nhà sợ lửa.


Trống hộ thủy còn oai nghiêm hơn nữa,


Nợ thúc nhau như trống vỡ đổ hồi.


Ông lão kia già chẳng trót đời,


Kề miệng lỗ còn ham chơi trống bỏi.


Bọn hay đập trống chầu càng ỏm tỏi,


Gái lẳng lơ ôm mỏi trống cà rùng.


Vì đời người lúc sống đã lung lung,


Thì kèn trống bập bùng đưa lúc chết.


Công dụng trống kể sao cho xiết,


Có lắm anh quen nết đánh bỏ dùi.


Khôn ngoan thay là những ai ai,


Nhân tình bám vội đi bài trống lấp.


Còn những chú ăn no béo mập,


Lúc rảnh thời ngồi đập trống cơm.


Có lắm anh tính khí bờm xơm,


Vợ vác trống còn ôm tắc lẻm.


Trống cổ động lùng hang cùng ngõ hẻm,


Rạp tuồng nào kém trống hát không vui.


Trò nào trống ấy, ai ơi…


NGƯỜI, NGỢM(1)


(Nhái bài thơ “Dại, Khôn” của Tú Xương)


Thế giới ngày nay lắm ngợm người,


Biết ai là ngợm, biết ai người?


Người không quần áo, người ra ngợm,


Ngợm lắm tiền tiêu, ngợm hóa người.


Nếu muốn thành người thì phải ngợm,


Đời này có ngợm mới nên người.


Hỏi ai là kẻ phân người ngợm,


Để thế gian trông rõ ngợm, người.


Cũng vào thời kỳ này, nhiều anh em văn nghệ còn đọc cho tôi nghe một bài thơ trào phúng viết theo kiểu kịch thơ “độc tấu” như sau mà cũng không biết rõ tác giả là ai:


Bà kia tháng tháng đôi tuần,


Đi công tác đủ hai lần đúng ghê.


Ông chồng bán tín bán nghi,


Vò đầu cóc hiểu vấn đề ra sao.


Hỏi con, con nói tào lao,


Hỏi bà, bà chỉ ừ ào cho qua.


Một đêm bà biến khỏi nhà,


Ông chồng hốt hoảng tìm bà khắp nơi.


Láng giềng có kẻ xấu chơi,


Thấy ông tìm toát mồ hôi, thương tình:


- Bác ơi, tìm mãi nhọc mình,


Cứ nơi điện phủ bác rình mà xem.


Ông chồng cắm cổ đi liền,


Lần theo hương khói, ánh đèn sáng trưng.


Eo ơi, phưng phứng phừng phưng,


Nhìn xem phong cảnh ông bưng miệng cười


Xuýt xoa trước đống chè xôi,


Xem bà biểu diễn, đám người xuýt xoa.



Bà chầu Hoàng Bảy, Hoàng Ba,


Tay bà bắt quyết, miệng bà gài hương.


Mình bà mềm nhũn không xương,


Ưỡn à ưỡn ẹo như đương nhảy đầm.


Dăm cô tấu lậy lầm rầm,


Cậu ban lộc, nắm tiền cầm trong tay.


Phưng phưng gió thổi rung cây,


Dưới khe cá lội, chim bay trên ngàn.


Ngàn bà, ngàn mái, ngàn me,


Ngàn giang, ngàn túc(1), ngàn tre, ngàn vầu.


Dăm cô tố nữ(2) theo hầu,


Cô xe chỉ thắm, cô xâu hạt vàng…


Múa thanh gươm gỗ nhịp nhàng,


Cậu ấm cậu ứ, cậu choàn mấy câu.


Bỗng nhiên cậu vội thăng mau,


Cậu chuồn, nào có gì đâu? - Ông nhà!


Quát về, cậu đớ người ra,


Bỏ thần, bỏ thánh, “cậu bà” theo ông.


Tẽn tò mấy chú thanh đồng,


Đoái nhìn bóng cậu theo chồng mà cay.


Phưng phưng gió thổi rung cây,


Con công đệ tử mặt ngay cán tàn,


Gió lùa điện phủ tuênh toang,


Xôi chè hạ bệ, hương tan mơ hồ.


Dưới đây là một bài thơ trào phúng khác giễu một ông sư chưa hết lòng tục, phải tù vì gái:


SƯ PHẢI TÙ


Nam mô Phật, anh yêu em lắm,


Anh yêu em say đắm cả cõi lòng.


Quá yêu em nên rầy ngóng mai trông,


Yêu tha thiết nên mắc vòng tù tội.


Anh những tưởng mượn giọt nước cành dương sớm tối,


Tưới tắt dần khói lửa tà dâm.


Tưởng ăn chay ít chất bổ âm,


Dần tê liệt sức cương cường thiếu tráng.


Anh vẫn tưởng bộ nâu sòng không đáng


Để cho em tha thiết gửi lòng yêu…


Kìa chốn bình khang bao cảnh sắc mỹ miều,


Bao nhân vật đáng yêu chiều quý nể.


Họ lại sẵn tiền rừng bạc bể,


Họ ăn tiêu như thể ông hoàng.


Họ được tự do luyến ái mơ màng,


Đấy mới thật là những kho vàng vô tận


Để em moi những tiền son bạc phấn,


Móc những tiền cúng giỗ tận đâu đâu…


Hợp thời trang lại quần áo đủ mầu,


Con bò sữa mặc dầu tay bóp nắn.


Người như thế em chẳng yêu chẳng xoắn,


Lại yêu anh có khẳn hay không?


Anh thân cô thế khổ não nùng,


Nương bóng Phật, luyện vòng chay tịnh,


Để mõ sớm chuông chiều đủng đỉnh,


Hồn thảnh thơi vui với cảnh hư vô.


Cái cô em thực khéo con vồ,


Cứ níu lại bắt anh đùa cùng tình ái.


Anh trộm nghĩ được tí nào là lãi,


Quá yêu em, anh nào ngại tử sinh.


Quá yêu em vì em quá chân tình,


Yêu tha thiết nên đầu anh lại trọc.


Để anh được ngồi xà lim ôn học,


Rằng kiếp tu xưa đã vụng về thay.


Cho nên quả báo kiếp này,


Chữ tu mới phải thêm ngay dấu huyền.


Vào thời kỳ này, những thơ trào phúng giễu quan lại như Phạm Quỳnh, Hoàng Trọng Phu, Vi Văn Định… cũng sản xuất rất nhiều, nhưng vì lý do an ninh, các tác giả không cho biết tên nên bây giờ nhiều bài cũng được liệt vào loại thơ trào phúng khuyết danh:


TIỄN VI TRÙNG


Vi trùng(1) dịch tả đại nhân,


Ngài nên hiểu thấu tình dân Thái Bình.


Thái Bình lắm nỗi bất bình,


Vì đói khổ phải biểu tình năm xưa(2).


Trả lời súng bắn như mưa,


Chín mười mạng chết còn chưa hả lòng,


Lại còn đốt phá lung tung,


Đông Nho, Thanh Giám chỉ trong mấy giờ.


Trâu bò, gạch ngói trống trơ,


Đống tro vô đạo bây giờ còn nguyên.


Lời căm tức, tiếng rủa nguyền,


Mấy năm nay vẫn còn truyền tụng nhau.


Mùa này lúa lại bị sâu,


Lấy gì nộp thuế nuôi nhau lúc này.


Quan ôn ngài tỉnh hay say,


Mà không hiểu thấu tình này cảnh kia?


Tại còn vênh váo mũ hia,


Tại còn báo hại dân quê Thái Bình.


Tại còn bắt góp từng trinh(3)


Còn muốn bữa tiệc linh đình tiễn đưa.


Vi trùng dịch tả hiểu chưa?


Mấy nghìn phù thủy phải đưa tiễn Ngài.


Chúng tôi đoán nếu không sai,


Sẽ rút ruột ngắn ruột dài của dân.


Ôi Ôn Thần, hỡi Ôn Thần!


Sao không biết nhục tấm thân râu này!


Liệu mà xa chạy cao bay,


Đừng quen kiếm chác vùng này nữa đâu.


Gánh gồng vội cút cho mau!


GIỄU PHẠM QUỲNH


Chính vào thời kỳ Phong Hóa, Ngày Nay, Phạm Quỳnh nhảy một bước từ chủ báo Nam Phong lên làm Thượng thư, nhiều báo làm thơ chế giễu, nhiều bài rất hay nhưng không mấy ai còn nhớ tên tác giả. Có người lấy cái điều nói xa xôi tới Phạm Quỳnh:


Tung hoành đừng tưởng gặp hồi may,


Có biết vì đâu sáng tạo mày?(1)


Thân phận chắc chi tờ giấy bản,


Tơ duyên chừng cậy sợi dây đay.


Mà toan ngất ngưởng trời mây ấy,


Lại chịu vo ve đất nước này.


Lên lắm ông cho rồi có lúc,


Một cơn mưa nhỏ biết nhau ngay!


Có người ví Phạm Quỳnh với ông Táo:


Cục đất ngày xưa nó thế nào?


Nay làm ông Táo chức quyền cao!


Khéo đem mặt lọ vênh vang thế,


Chẳng hổ lưng khom khúm núm sao?(1)


Ngày những giữ nồi cho địa chủ,


Quanh năm kiếm chuyện mách Thiên tào.


Một mai đất lại thành ra đất,


Cái đẫy chè xôi đáng giá bao?


 


Thần quân thế cũng tước trời phong,


Chấp chưởng làm chi giữa cõi Đông.


Nồi gạo lo toan ngày sợ hỏng,


Hơi đồng liếm láp bữa ngồi trông.


Oai quyền xó bếp vui chi đó,


Đè nén trên đầu có biết không?


Lành dữ việc đời sao ngậm miệng,


Nực cười cục đất nén ra ông!


Có người không nói xa xôi gì hết, đem ngay việc Phạm Quỳnh bỏ báo Nam Phong để đi làm Thượng thư cho Pháp ra mạ lỵ:


Tin mới đâu vang khắp lưỡng kỳ,


Thượng Chi rầy đã hóa tham tri!


Rõ nhà họ Phạm dư hồng phúc,


Thật mệnh anh Quỳnh có tử vi.


Kính trắng(2) sẽ ra hàng báo chí,


Bài vàng nay dựa đám quyền uy.


Công gào lập hiến, ừ không uổng(3)


Trực trị như ai có ích gì!(3)


Ngoài những bài thơ trào phúng có liên quan đến chánh trị, các bài thơ trào phúng có tính cách phong tục, xã hội mà bị liệt vào hàng khuyết danh còn nhiều lắm.


ĐÁ GÀ


Vui xuân nhằm tiết mồng ba,


Ông bà cao hứng bắt gà đá chơi.


Gà ông ngóng cổ gáy hơi,


Gà bà thủ bộ đợi thời gà ông.


Gà ông chém trúng cạnh mông,


Gà bà nổi giận ngậm cần gà ông.


Đá nhau một chập ướt lông,


Gà bà trúng cựa, gà ông gục cần.


MẮNG MUỖI


Chúng bay loài bọ gậy,


Ở nước thì hay quẫy,


Xuống dưới đã ăn càn,


Lên trên lại làm bậy.


Sợ những kẻ nằm màn,


Khinh các người mặc váy.


Thế cũng gọi là “văn”(1),


Thật là một lũ xoáy!


CON RUỒI


Trời sinh cắc cớ giống con ruồi,


Có cánh sao mà chẳng có đuôi.


Mắt lớn chuyên dòm đồ nhớp nhúa,


Vòi dài chỉ hút vật tanh hôi.


Gặp may lắm lúc đèo khu ngựa,


Thừa thế nhiều khi đậu trốt voi.


Cúng cấp cỗ bàn đều rích trước,


Gươm vàng cũng xếp đứng mà coi.


NGHÌN NĂM VĂN VẬT


Nghìn năm văn vật đất Thăng Long,


Văn vật ngày nay mới lạ lùng.


Tham biện, tham buôn, tham cán sự,


Đốc người, đốc chó, đốc canh nông.


Du côn, mật thám đầy sông Nhị,


Giăng há, ma cô chật núi Nùng.


Còn nữa, xin ngưng, không dám kể,


Nghìn năm văn vật đất Thăng Long.


ÔNG THỪA


Ông là Thừa phái Hoàng Nông,


Ông ngồi ông nghĩ mình không thật thừa.


Thế gian người đã đủ vừa,


Cớ chi trời lại lọc “thừa” ra ông?


Mắt thừa ông chẳng buồn trông,


Thấy gái má hồng ông liếc ông chơi.


Tai thừa ông chẳng nghe ai,


Thấy chuyện nực cười ông ghé thoảng qua.


Miệng thừa ông chẳng nói ra,


Thấy chuyện mặn mà ông nói đủ nghe.


Tay thừa ông chẳng muốn phê,


Thấy dấu đỏ lòe ông vẽ mực đen.


Chân thừa ông chẳng muốn chen,


Thấy bước đường liền ông bước ông đi.


Bụng thừa ông chẳng muốn suy,


Ông cứ gan lì mà việc cũng xong.


Hỏi còn thừa cái gì không?



Tôi còn nhớ lúc đó làm báo Công Dân, Ngô Tất Tố đã đọc cho anh em nghe bài này và vì chữ “thừa”, anh em mới nghĩ đến chữ “thiếu” trong chữ “ông Thiếu Hoàng Trọng Phu” rồi nhân đó muốn tìm cách “xỏ” Hoàng Trọng Phu, Ngô Tất Tố mới viết một loạt bài “nói hay đừng” nói bóng gió đến ông Hoàng Trọng Phu và muốn cho độc giả hiểu hơn, ký tên người viết là “Ông Thiếu”.


Lần lần “Ông Thiếu” thành ra bút hiệu những bài văn trào phúng của Ngô Tất Tố (ký là Ngô Công trên báo Tương Lai). Nhân dịp này, thiết tưởng cũng nên nói thêm rằng lúc viết tiểu thuyết Tắt đèn, Ngô Tất Tố cũng định viết cuốn đó thành tiểu thuyết trào lộng mà nhân vật chính trong truyện ấy là một người mà Ngô Tất Tố muốn là thứ Hoàng Trọng Phu.


 


VII- Lý trưởng văn nghệ Đồ Phồn


Nói đến những nhà văn phúng thế trong giai đoạn tiền chiến, tôi không thể không nhớ đến một nhà văn nổi tiếng về loại này thời đó: Đồ Phồn - sau này gia nhập nhóm Hàn Thuyên của Nguyễn Xuân Tái, Trương Tửu, đặt trụ sở ở phố Tiên Tsin (tức là Hàng Gà cửa Đông).


Bùi Huy Phồn, tức Đồ Phồn, tức Lý trưởng văn nghệ Đồ Phồn (tên của anh em Kháng chiến đặt cho anh) sinh ở làng Mai Đình, tỉnh Ứng Hòa (Hà Đông)(1). Theo học trường Thăng Long đến trung học, Đồ Phồn theo nghề văn bút, và mở đầu cho văn nghiệp của anh là những bài thơ trào phúng viết cho các báo Đông Tây, Việt Báo, Ngọ Báo, Đông Pháp, v.v… dưới những bút hiệu mà không mấy ai còn nhớ như “Việt Lệ”, “Bùi Như Lạc”, “Cười Suông”…


Đồ Phồn, biết Trương Tửu, đi theo nhóm “Bạch Nga” của Nguyễn Vỹ và Trương Tửu, lang thang ở Hà Nội sống một cuộc đời nay đó mai đây, viết các loại tiểu thuyết trào phúng như Một chuỗi cười, Khao, xã hội như Tình quân ngũ, kịch bi hài như Tay người đàn bà và nhiều sách thuộc đủ các loại: khảo cứu, văn nghệ, sưu tầm, ký nhiều biệt hiệu khác nhau, trong số đó có một tập trường thiên tiểu thuyết tình cảm, trinh thám được nhiều người ham đọc, ra từng tập bán ba xu, nhan đề là Lá huyết thư.


Trong thời gian này, Đồ Phồn cộng tác với nhóm Tiểu Thuyết Thứ Năm, do Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều chủ trương biên tập, nhà xuất bản Lê Cường phát hành. Trên báo này, Đồ Phồn thường viết thơ trào phúng, nhưng tên tuổi anh nổi bật, thực ra là kể từ lúc anh gia nhập nhóm Hàn Thuyên, trong đó có Trương Tửu, Nguyễn Tuân, Nguyễn Xuân Tái, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Quốc Ấn, Nguyễn Đức Quỳnh ra tờ Ngòi Bút. Tôi còn nhớ lúc ấy Đồ Phồn có một bài thơ tặng Trương Tửu như sau:


Bao năm xe cát đắp nên bờ,


Đảo hải di sơn chí những chờ.


Lãi tháng bô già xơi ngọt xớt,


Cơm ngày cậu cả sống ngon ơ.


Đại danh, đại nghĩa câu tầm phất,


Duy vật, duy tâm chuyện bố vờ.


Cái giá thằng ông, a! Cũng đắt,


Không dưng dễ được chúng đầu cơ.


Tôi không biết lúc Đồ Phồn làm bài thơ để tặng Trương Tửu thì có ý “đùa dai” điểm gì không; riêng tôi chỉ nhớ rằng lúc ấy Trương Tửu bị Tây trù một mặt, mà mặt khác thì bị anh em đệ Tam không mấy thích thú, vì anh bị xếp vào hàng đệ Tứ. Trương Tửu bí quá, đành phải lấy vợ - tức là em gái Nguyễn Xuân Tái lúc ấy mở nhà may và nhà thầu may quần áo trong “tỉnh” cho quân đội Pháp. Nguyễn Xuân Tái và Trương Tửu mở nhà xuất bản Hàn Thuyên, ra mấy tờ báo bị đóng cửa, cuối cùng là tờ Ngòi Bút cũng chỉ sống vẻn vẹn được dăm bảy số.


Trương Tửu, trong thời kỳ này, sống một cuộc đời tương đối yên ổn hơn trước - nhất là lúc đi với Nguyễn Vỹ làm tờ tuần báo Le Cygne - cho nên có người ngờ là Đồ Phồn “mỉa mai yêu” Trương Tửu trong mấy câu:


Cơm ngày cậu cả sống ngon ơ,


Đại danh, đại nghĩa câu tầm phất,


Duy vật duy tâm chuyện bố vờ.


Tôi nói “mỉa mai yêu” là vì Trương Tửu không phải là hạng người muốn sống một cuộc sống yên như vậy, nhưng chính là bất đắc dĩ, vì không thu hình lại như con ốc thu hình vào trong vỏ thì cũng chẳng làm được trò gì với Pháp thực dân lúc đó…


Văn trào phúng của Đồ Phồn có một đặc điểm là biến báo chập chà chập chờn hơn các văn trào phúng khác đương thời:


CHIÊU HỒN CÁC NHÀ BÁO HẠI


Năm băm bảy, hăm hai, tháng sáu,


Ta lòng thành bát cháo nắm cơm.


Hỡi ơi, chúng đảng cô hồn,


Đông, Tây, Nam, Bắc có khôn thì về!


Hoặc những kẻ theo phe Mẫu quốc,


Két đen người trót buột tay vô,


Hoặc những kẻ theo phe mật thám,


Nay hồn đã được ấm no,


Trông cờ ngôn luận tự do hồn về!


Bán mình cho ông Cẩm Ác Nu;


Hoặc những kẻ theo phe phát xít,


Nặng lời thề trọn kiếp bộc nô;


Hoặc những kẻ theo phe buôn bán,


Món hàng văn nhất bản vạn lời;


Nghiệp đoàn cảm thấy khó chơi,


Để khi bóc lột mới ơi từng thằng.


Hoặc những kẻ tài sơ trí thiển,


Nhờ báo chương vinh hiển toàn gia,


Chuyên môn dối trẻ lừa già,


Tự do ngôn luận có mà thác non.


Ơi hỡi chúng cô hồn kia hỡi,


Kiếp người xưa đã lỗi đường tu,


Bảo nhau liệu kiếm bè từ,


Cải tà quy chánh đợi giờ hồi sinh.


Này áo mã, vàng đinh dăm mớ,


Này bỏng rang, chuối ngự vài tai.


Hỡi ơi những kẻ lạc loài,


Đông, Tây, Nam, Bắc về đòi tự do.


Đọc thơ Đồ Phồn, nhiều người đương thời nhận rằng thơ anh “cay” và sâu xa ý nghĩa hơn nhiều văn thơ trào phúng khác.


THỰC DÂN PHÁP


Bay cậy rằng bay mạnh lẫn khôn,


Lưng không quản mỏi, gối không chồn.


Tứ cường lẽo đẽo theo sau đít,


Thuộc địa lăm le ngửa sẵn mồm.


Đức tới, thầy trò khom cật đón,


Mỹ vào, thê thiếp xúm mời hôn.


Nhà bay chật đất nhiều mồ hẳn,


Nên đến nơi này kiếm lỗ chôn.


Thơ trào phúng của Đồ Phồn nghiêng nhiều về chính trị chống thực dân, phát xít.


THƯƠNG NHỚ CỤ THỐNG SỨ TÔLĂNGXƠ


Cụ Tô(1) thôi đã hưu rồi,


Tây, Nam xa cách thỏa đời làng văn.


Nhớ chính sách thực dân ngày nọ,


Vẫn cắn răng tôi, cụ cùng nhau,


Khắc xung từ trước tới sau,


Cái duyên văn tự khác đâu duyên thù.


Cũng có lúc bãi tòa kiểm duyệt,


Tiếng nói năng bóp nghẹt hơn xưa,


Có khi mượn cớ vu vơ,


Rút chơi giấy phép mươi tờ báo chương.


Cũng có lúc triệt đường kinh tế,


Cấm người mua cho ế chết dần.


Có khi lục lọi câu văn,


Lôi ra pháp luật để hăm dọa tù.


Bàn tay sắt bao giờ thoát nạn?


Quyền tự do đã khản cổ đòi,


May mà cụ bỗng già rồi,


Lệnh trên cho phép về ngơi cái nhà.


Những thấy bọn quan nha lớn nhỏ,


Trải năm năm ơn cụ muôn phần


Kéo co chè chén xa gần,


Sụt sùi chút nghĩa tử thần bơ vơ.


Dân làng báo cũng nhờ lượng cụ,


Cũng lo toan báo… bổ có ngày,


Không ngờ cụ tót về ngay,


Được tin ai nấy múa tay lên trời.


Ừ cụ sớm lựa thời là phải,


Nhưng chờ chi nay mới cuốn xiêm?


Sâm banh muốn thết sọm hiền,


Không mua vì kiết, không tiền không mua.


Câu thơ tiễn những do dự viết,


Viết đưa ai, ai thiết mà đưa?



Nhưng trong khi chú tâm về những vấn đề chính trị, Đồ Phồn không quên nhắm về các vấn đề xã hội, nhất là trong công tác bài trừ hủ lậu để xây dựng một đời sống mới.


CHÚC ÔNG


Lạch tạch! Đùng đùng! Lạch tạch đùng!


Xuân về rồi đó có vui không?


Vừa pha được ấm chè tam hỷ,


Họ đã đưa nhau đến ám ông!


 


Không! Họ đưa nhau đến chúc ông,


Chúc ông ông bớt thói kiêu ngông.


Chúc ông ông nể lời xiên xỏ,


Năm mới năm me họ khỏi rông.


 


Họ chúc cho ông được phát giàu,


Hoa xòe, bạc giấy chật nhà sau;


Ông mừng, nhưng chỉ lo riêng nỗi:


Phúc đức ba đời cất để đâu?


 


Họ chúc cho ông được hiển vinh,


Hiển như ông Võ, vinh như Quỳnh(1).


Ông mừng, nhưng chỉ lo riêng nỗi:


Chẳng biết cha ông có thỏa linh


 


Họ chúc cho ông được sống dai,


Sống dai như đỉa dưới nương khoai,


Nhưng thằng khố rách rày khan máu,


Ông bám vào ai? Để hút ai?


 


Họ chúc cho ông được lắm con,


Thằng cu, cái đĩ đẻ xòn xòn.


Ông mừng, song chỉ lo riêng nỗi:


Khố đỏ, lầu xanh, chỗ có còn?


 


Họ chúc cho ông được tốt tay,


Nuôi trâu không chết, lợn không gầy.


Ông mừng, song chỉ lo riêng nỗi:


Trâu lợn quanh ông sống đã đầy!



Ra ngoài kháng chiến, tôi không hiểu Đồ Phồn có trước tác được nhiều thơ trào phúng nữa không, chỉ biết anh được tặng một tước hiệu là “Lý trưởng văn nghệ”, còn Trương Tửu thì thành ra một thứ Chánh tổng mập thù lù ăn như mèo vì bị cắt ruột, ăn no một tí là không chịu được, mà cứ động tí cơm nào vào bụng thì lập tức bụng sôi ù ù nên thỉnh thoảng anh lại cười bảo anh em:


“Bụng tôi nó lại “độc tấu” đấy! Thấy chưa, các bạn?”.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Có người bảo bài thơ này của Trương Linh Tử.




(1) Nói ngọng: túc là trúc




(2) Nói ngọng: tố lữ là tố nữ.




(1) Ám chỉ Tổng đốc Vi Văn Định (tỉnh Thái Bình).




(2) Vi Văn Định dẹp biểu tình tàn ác.




(3) Tiền Khải Định, Bảo Đại.




(1) Lúc đó nhiều người tin Phạm Quỳnh một bước nhảy làm Thượng thư là nhờ sự nâng đỡ của Pháp mà đại diện là toàn quyền Pasquier.




(1) Phạm Quỳnh hơi gù.




(2) Phạm Quỳnh cận thị đeo kính trắng.




(3) Phạm Quỳnh chủ trương bảo hoàng lập hiến, còn Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương trực trị (Tây cai trị thẳng VN như ở Nam Kỳ).




(1) Văn, chữ Nho là muỗi; Văn còn là văn chương, văn học, văn nghệ.




(1) Nay thuộc tỉnh Hà Tây.




(1) Tholance - Bài này nhái thơ Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê.




(1) Võ là Võ Hiển Hoàng Trọng Phu, còn Quỳnh là Phạm Quỳnh, Thượng thư triều đình Huế, nguyên chủ nhiệm tạp chí Nam Phong.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »