tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19376696
17.03.2014
Vũ Bằng
Những cây cười tiền chiến (3)

IV- Vũ Trọng Phụng, Vua hoạt kê tiểu thuyết


Tôi nói “ít”, chớ tôi không nói “không”, xin các chuyên gia văn chương châm biếm hiện nay thông cảm. Nhưng dù sao tôi cũng cứ phải nói ra đây một điều nhận xét của riêng tôi: Các nhà văn hoạt kê, châm biếm bao giờ cũng có nhiều, nhưng bao giờ cũng có nhiều người “chửi càn” hơn là “làm trí khôn”, nói tục để gỡ lại cái điểm vô duyên lãng nhách. Nhưng đó là chuyện sau này, chưa nói vội.


Bây giờ, tiếp tục nói về diễn tiến của các nhà văn phúng thế, hoạt kê tiền chiến.


Có một số người cho rằng thời kỳ từ 1930 đến 1940 là thời kỳ cực thịnh của thể văn đó. Từ Đông Tây trở về, không báo nào không có mục “Chuyện đâu”, “Chuyện phiếm”, báo nào cũng cố viết cho hơn người. Những mục “pô tanh” để lại nhiều bài dí dỏm bây giờ nhắc đến còn thú vị. Nhiều bài thơ trào phúng, có người còn thuộc lòng đến bây giờ. Giọng xỏ xiên hoặc cay chua, hoặc mặn chát không đến nỗi làm cho người bị móc tức bực đến chán đời muốn đi tự tử.


Bật lên giữa cái rừng văn châm biếm, phúng thế đó, Vũ Trọng Phụng đã tặng cho văn học sử một cuốn hoạt kê tiểu thuyết làm cho độc giả phải cười thích thú từ đầu chí cuối: Số đỏ, mà vai chính là một thằng nhặt banh tơ nít tên là Xuân Tóc Đỏ, vì nhờ hòn đất mà nổi tiếng một thời, sống phè phỡn không chê được.


Phải nói rằng từ lúc có văn chương phúng thế, hoạt kê cho đến lúc bấy giờ, văn học sử chưa từng có một tiểu thuyết hoạt kê dài như vậy. Vũ Trọng Phụng đã đánh một cái dấu đỏ không thể phai mờ với cuốn Số đỏ không ai bắt chước được, không ai theo kịp được, kể cả ngay đến tận ngày nay, người ta cũng chưa thấy có một cuốn tiểu thuyết dài nào vui vẻ, phúng thế hấp dẫn, mê ly như thế, một cuốn tiểu thuyết mà nhiều tên nhân vật đã thành ra những danh từ chung, nhiều chữ dùng trong sách bây giờ được người ta nhắc đến mỗi khi muốn pha trò để làm vui độc giả, đại khái những câu, những chữ như “Em chã, em chã…” hoặc “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi…”.


Văn chương cũng như văn minh, văn hóa chỉ có tiến, đứng lại một chỗ tức là lùi.


Nói cho thực, văn chương ta, kể cả văn chương hoạt kê, trào lộng, có tiến và tiến nhiều trong khoảng mấy chục năm nay, nhưng một số người yêu văn ghi nhận rằng kể từ trước cho đến Vũ Trọng Phụng và kể từ Vũ Trọng Phụng cho tới bây giờ, ta vẫn chưa có một cuốn hoạt kê tiểu thuyết nào bằng Số đỏ, như Số đỏ.


Thế là tại làm sao?


Chưa có ai bảo cho tôi biết một lý do nào cả. Muốn cho thật công bình, tôi phải nói là ngay sau khi Số đỏ ra đời ít lâu, báo Việt Cường của Phạm Lê Bổng (lúc ấy do Micro Bùi Xuân Như làm chủ bút, Thanh Châu Ngô Hoan làm tổng thư ký) cũng đã cho ra một truyện dài vui nhộn, bắt chước Số đỏ, nhan đề Bán đấu giá đàn bà, tác giả Văn Thu - một nhà báo viết đủ các loại văn, kiếm hiệp như Hóa Châu nghĩa sĩ, gián điệp như Đảng Hắc Long và xã thuyết, tiểu thuyết ngắn, tiểu thuyết dài không thiếu loại nào nhưng… vô duyên đến nỗi gần như không được ai biết tới.


Hoạt kê tiểu thuyết Bán đấu giá đàn bà cũng chịu chung một số phận với tác giả đẻ ra nó. Sau đấy ít lâu, một nhà văn khác, cũng là vào hạng tên tuổi - xin giấu tên - cũng viết ở trên báo Tin Điện một hoạt kê tiểu thuyết khác nhan đề là Số đen nhưng Số đen cũng như Bán đấu giá đàn bà đã chịu cái số phận hẩm hiu là không được ai nói tới… Rút cục, theo chỗ tôi biết, Số đỏ cho đến bây giờ, trong quỹ đạo tiểu thuyết châm biếm, khôi hài, vẫn là một thứ “anh hùng độc lập”.


Nhân nói đến tiểu thuyết hoạt kê Số đỏ, tôi thiết nghĩ cũng nên nói qua một chút về việc Vũ Trọng Phụng thai nghén và đẻ ra cuốn đó, theo những ghi nhận của tôi.


Vũ Trọng Phụng và tôi là hai bạn học từ lớp Dự bị trường Hàng Vôi. Tên thực anh ở nhà là “Thằng Tý”. Đến lúc ra đời làm văn, viết báo với nhau, anh em không dám đùa cợt anh nhiều, vì anh nghiêm nghị, nếu không muốn nói là khắc khổ, mặt lúc nào cũng rầu rĩ, đúng với hai ngôi sao nằm chính vào cung mệnh của anh trong lá số tử vi là Thiên Hư và Thiên Khốc. Phụng đặt bút hiệu của mình là Thiên Hư một phần cũng vì lẽ đó.


Đây không phải là chỗ để nói tại sao suốt đời nét mặt Phụng đăm chiêu, sầu khổ. Chỉ biết rằng từ lúc Phụng bắt đầu viết truyện dài Số đỏ để đăng dần trên Hà Nội Báo cho đến khi hết truyện, anh em không có ai để ý. Hồi đó, chúng tôi làm báo Công Dân, anh em sống tập đoàn. Vào bữa cơm, cũng như khi đi hát xướng, đôi lúc Phụng cũng khoe với chúng tôi cuốn tiểu thuyết hoạt kê đó, nhưng anh em nghe mà không có vẻ mặn mòi cho lắm, bởi vì không ai tin rằng một anh mặt mũi lúc nào cũng âu sầu như Đức Chúa trèo lên đỉnh núi Canve (Calvaire) mà lại có thể tạo nên một cuốn tiểu thuyết vui khả dĩ làm cho người ta cười được.


Một người như Phụng, phải viết những truyện cay cú như Chiếc răng vàng, Giông tố, những phóng sự như Làm đĩ, Lục sì, Kỹ nghệ lấy Tây hoặc những kịch phóng tác đau buồn như Lữ Cách Bạo Gia… Ấy vậy mà hoạt kê tiểu thuyết Số đỏ nổi tiếng lúc nào, không ai biết. Vũ Trọng Phụng thành ra một nhà văn cười “số dách”, ngoài sự tưởng tượng của anh em.


Lúc ấy anh em mới tìm đọc thì ra… buồn cười thực, và có người ngay lúc đó đã hé thấy cái buồn cười ấy bắt nguồn từ đâu. Để cốt truyện và cách kết cấu truyện Số đỏ sang một bên, chúng tôi thấy rằng về cá tính của các nhân vật trong truyện cũng như những ngôn ngữ, danh từ trong truyện, Phụng đã khéo biết đem sử dụng những mẩu chuyện mà anh em thường kể hoặc thường nói hàng ngày để chế giễu, bài bác và phá phách xã hội lúc bấy giờ. Những từ “em chã”, “khổ lắm, biết rồi, nói mãi” cũng như từ “cẩm phạt”, “Đại Nam vong quốc sử” là những từ mà lúc đó chúng tôi thường đem ra dùng mà chế giễu và cười cợt với nhau. Phụng đã có cái can đảm và biệt tài đem dùng vào trong truyện và làm nổi bật được lên: Sự việc ấy, tưởng là dễ, mà ít người làm nổi.


Vậy là Vũ Trọng Phụng đương là một nhà tiểu thuyết, một nhà phóng sự, đầu hôm sớm mai thành ra một nhà văn châm biếm, hoạt kê “có hạng”. Sau này, lúc anh mất đi rồi, ngồi nghĩ đến anh, tôi đã có lúc tìm hiểu lý do thì nhận xét ra hai điều này:


1- Nhà văn Âu Tây nào đó, khi bàn về văn cười cợt châm biếm đã nói một câu rất đúng: Những người tình cảm ưa những chuyện âu sầu, bi đát, còn những người viết văn trào phúng hầu hết đều là những người suy tưởng nhiều. Vũ Trọng Phụng trầm tư, ít nói, thuộc về loại những người suy tưởng, cay cú đời và buồn cười một mình cho những bất công ở đời. Những người tình cảm thấy vậy thì than trời trách đất, buồn bã khóc than; trái lại, những người suy tưởng, ngồi nghĩ ngấm nghĩ ngầm thì lại thấy đời là một cái trò lố lăng, kệch cỡm, lăng nhăng, lít nhít, làm cho ta buồn cười nhiều hơn là làm cho ta phát khóc.


Vì thế, ta lại còn có thể đi tới kết luận phụ sau đây: Có nhiều phần chắc chắn là những nhà văn cười cợt, châm biếm không phải là những người vui vẻ thật tình, trái lại, là những người thâm gan tím ruột vì những điều tai nghe mắt thấy, nhưng không biết làm thế nào khác được, đành phải cười to lên để cho khỏi khóc. Đấy là trường hợp của nhà văn Nam Cao khi viết tiểu sử của mình qua truyện ngắn Cười với trăng.


Một anh văn sĩ nghèo - mà văn sĩ bao giờ lại chẳng nghèo? - về nhà thấy vợ đói con khóc, không biết đi vay đâu ra tiền đong gạo, bị vợ cự, cứ cười trừ. Vợ tức quá. Đã thế, con lại khóc om sòm. Người vợ không chịu được, sinh sự với chồng. Anh văn sĩ nghèo làm bộ vừa đui vừa điếc, nằm vắt tay lên trán suy tư. Càng suy tư, càng thấy là mình ngốc, mình kém cỏi, mình bất lực: sao không làm nghề gì khác, lại làm nghề viết văn, viết báo, mỗi tháng được mười lăm đồng bạc, chẳng đủ đâu vào đâu? Anh ta tức mình, anh ta tự thấy mình bất lực, anh ta không biết làm gì cả. Anh ta nhìn lên mặt trăng cười thầm. Nhìn mãi, thấy cái mặt trăng tròn vành vạnh, ở giữa mặt trăng lại có cái gì nham nhở, răn reo, nghĩ đến cái mặt hồ phù của vợ cũng nham nhở, nhăn nheo như thế, anh không kềm chế được lòng mình nữa, bật cười với trăng, và cười sằng sặc, cười chảy cả nước mắt ra.


Nói rộng quá ra ngoài, những nhà hài kịch như Molière, những nhà văn trào phúng như nhà văn Do Thái De Lafouchardière, những kép khôi hài như hề Charlot không phải là những người có một cuộc đời vui vẻ, sung sướng như nhiều người vẫn tưởng. Người ta còn nhớ Nguyễn Công Hoan đã có viết một truyện ngắn tả một anh kép khôi hài pha trò cho cả rạp hát cười hô hố, đến lúc hạ màn, ngã lăn ra hậu trường sân khấu, trong lúc tiếng cười của khán giả ở bên ngoài chưa tắt. Kịch sĩ khôi hài Molière chẳng đã chết đúng như trường hợp đó sao?


2- Vũ Trọng Phụng viết nên truyện cười dài như Số đỏ một phần lớn cũng tại anh khổ quá. Bởi vì khổ quá, kiếm đồng tiền để nuôi sống gia đình khó khăn, vất vả quá chừng, anh phải suy nghĩ luôn luôn, suy nghĩ rất nhiều để tìm ra cái mới, cái lạ luôn luôn để cho có một thị trường đông đảo những người đọc sách của mình, đản hậu văn minh mới dễ bề tiêu thụ. Số đỏ là một thứ hàng mới lạ anh tung ra thị trường sách báo và phần thưởng chính là có nhiều người đọc anh. Phải chi anh sung sướng đầy đủ, chưa chắc gì anh đã chịu ngồi một chỗ để suy tư và bóp óc viết văn cười như tên hề trong truyện Nguyễn Công Hoan làm cho thiên hạ vui như Tết mà chính mình thì chết như con chó sau bức phông nhà hát. Cái số kiếp nhà văn như thế, kể cả những nhà văn châm biếm, cười cợt.


Nhưng có thực là các nhà văn châm biếm cười cợt đều chịu chung cái số phận như thế hay không? Văn trào phúng châm biếm đến đây lại bước sang một thời kỳ khác: thời kỳ Phong Hóa, Ngày Nay, Vịt Đực… Ta thử xem những nhà văn trong thời kỳ này ra sao.


 


V- Những tiếng cười của các nhóm Phong Hóa, Ngày Nay, Vịt Đực, Con Ong


Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh


Báo Duy Tân của Nguyễn Đình Thấu gồm các cây viết cừ khôi như Phùng Tất Đắc, TchyA, Khái Hưng, cụ Huyện Móm… tắt thở đi thì làng báo trào phúng ở nước ta im bặt tiếng cười một dạo. Không khí làng văn làng báo trở nên lụ khụ một thời gian thì văn đoàn của Nguyễn Tường Tam phát hành tuần báo Phong Hóa, trụ sở đầu tiên đặt ở đường Kakon (Hà Nội) trông sang vườn hoa Hàng Đậu. Ngay khi phát hành số đầu, báo này bán chạy vì hai lẽ: một là vì có những tiểu thuyết “hợp giọng độc giả lúc bấy giờ”, hai là vì có những tranh và mục vui cười vốn là những “món bao giờ cũng được độc giả ưa thích và tìm đọc”.


Nói cho thực, văn cười của Phong Hóa nếu đem bắc đồng cân lên không thể trội hơn những truyện tiếu lâm của Phạm Duy Tốn, mà hóm hỉnh chưa chắc đã bằng Duy Tân, nhưng nhóm Phong Hóa của Nguyễn Tường Tam đã nổi bật vì tranh khôi hài nhiều hơn. Tờ báo nhiều tranh trông vui hơn đã đành, nhưng còn một cái lợi nữa là người xem báo đọc văn vui lại có tranh vui vẽ kèm vào cảm thấy ngộ hơn và do đó cái cười thấm thía hơn.


Tìm được cái "mạnh" đó, nhóm Phong Hóa đã khéo biết khơi sâu điểm ấy, mỗi ngày mỗi mở rộng hơn chu vi hoạt kê của báo ra. Tôi nói "hoạt kê", chớ không nói "trào phúng" bởi vì những truyện vui, truyện cười của Phong Hóa nếu là những truyện thoạt đầu không đả kích ai, không châm chích ai, nhưng sau, vì thấy chỉ nói "giữa trời" như thế không "ăn" lắm, tòa soạn báo này mới đưa ra một lô nhân vật chính trị văn nghệ như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Đỗ Mục, Vũ Đình Long, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Công Tiễu... ra giễu cợt trong những "pô tanh" nho nhỏ, kiểu Duy Tân ngày trước, nhưng có kèm tranh vẽ nên vui hơn và cũng sống động hơn.


Nhưng báo Phong Hóa sở dĩ còn được ngày nay nhắc nhở tới nhiều, một phần là vì tòa soạn đã tạo ra được ba nhân vật điển hình: một là Lý Toét, hai là Xã Xệ, ba là Bang Bạnh. Hai nhân vật đầu tượng trưng cho sự "chậm tiến", tính "thật thà làm như là quỷnh" của một số lớn dân quê Việt Nam lúc bấy giờ, còn nhân vật thứ ba thì tượng trưng cho cái óc "xôi thịt", cái óc “muốn ăn trên ngồi trốc", cái "tinh thần ậm à ậm ọe, bợ đỡ người trên, bắt nạt người dưới" của một số đông quan lại làm việc cho Pháp thực dân lúc bấy giờ.


Ba nhân vật này nổi tiếng cũng như "Le lampiste" nổi tiếng trong tờ Vịt Buộc (Canard Enchainé) của Pháp. Nhưng về phương diện hài hước thì cái cười của nhóm Phong Hóa thấp hơn và nặng nề về phần tiếu lâm hơn là châm biếm. Đơn cử một câu chuyện cười được thưởng thức lúc đó, mà Phong Hóa liệt vào giải nhất trong cuộc thi văn cười:


"Một bà ngồi đồng, mặc áo xanh đỏ, đang múa may quay cuồng thì vãi ra một cái bủm. Anh chầu văn ngồi bên cạnh nhanh trí, vừa đánh đàn vừa xuất khẩu ngay một câu hát hợp thời:


Bà buồn tình, bà rít bà chơi,


Bà bắn súng lục, bà bơi thuyền rồng".


Công bình mà nói, về phần châm biếm, văn cười của Phong Hóa có một điểm đáng khen: những người bị chế giễu, chỉ trích đã đành là có tức bực, nhưng không đến nỗi bị uất ức quá độ. Đó là nhờ vì tòa soạn báo ấy đã biết giữ gìn ngòi bút, viết ra những câu châm biếm vui mà không tục tĩu, cười cợt người ta mà không thóa mạ ai. Đại khái viết về Hoàng Tăng Bí thì chỉ nhạo văn ông "bí rì rì", nói về Nguyễn Khắc Hiếu thì nhạo ông say và vẽ ông với một cái mũi to nẩy lửa, đề cập Nguyễn Công Tiễu thì vẽ ông "quẹt cây diêm đốt đít con rùa" và chế nhạo ông trồng thủy tiên, đến lúc mọc mầm lại thành ra củ hành tây... Nhóm Phong Hóa có thể tự hào là những người lịch sự không bới móc ai quá trớn, không lôi đời tư của ai ra phanh phui hay là viết những bài "ác liệt", "hiểm độc" có thể làm cho người bị chỉ trích xấu hổ với họ hàng hay tủi hổ mà đâm ra tuyệt vọng. Tuy là đôi khi cũng có cáu kỉnh, như Tứ Ly cãi nhau với Lê Tràng Kiều mà hạ bút viết "Ông chỉ đáng cho một cái tát!".


Theo những bạn hữu từng tiếp xúc nhiều với nhóm Phong Hóa, Ngày Nay hiện giờ có mặt ở đây, người điều khiển chính yếu của nhóm không phải là Nguyễn Tường Tam nhưng là Tứ Ly, tức Hoàng Đạo, tức Nguyễn Tường Long, em ruột Nguyễn Tường Tam, phụ trách mục "pô tanh". Vẫn theo các bạn hữu đó thì mỗi khi bắt đầu làm một số báo, anh em tòa soạn họp nhau lại đưa ra ý kiến, người này có ý kiến vẽ một hí họa thế này, người kia có ý kiến viết một bài thế kia, người nọ muốn viết một truyện ngắn, truyện vui thế nọ... Anh em bàn luận và tham gia ý kiến thỏa thuận cả rồi mới viết hay mới vẽ.


Nguyễn Tường Tam, tức Nhất Linh, vẽ nhiều hơn là viết hài hước vì hài hước không phải là sở trường của anh. Trong số các nhà văn cười của nhóm Phong Hóa, Ngày Nay, ta phải kể Tứ Ly. Thế Lữ (ký tên là Lê Ta), Khái Hưng, Thạch Lam cũng ít viết văn cười cợt. Ngoài ra, trong số còn Trọng Lang Trần Tán Tửu và một nhà thơ hài hước nổi tiếng là Tú Mỡ.


THỂ THAO VÌ TÌNH


Thực ra người ta biết Trọng Lang và Tú Mỡ không phải từ báo Phong Hóa, Ngày Nay, nhưng biết Tú Mỡ từ khi anh viết thơ vui cho tập kỷ yếu của "Việt Nam Thanh niên hội". Còn Trọng Lang thì người ta biết từ khi anh viết vở hài kịch năm màn nhan đề là Thể thao vì tình mà Tú Mỡ thủ vai chính. Đó là một kịch vui, mà cũng là vở hài kịch đầu tiên dài tới năm màn, diễn tại Nhà hát Lớn, được nhiều người tán thưởng. Trọng Lang cũng được nhiều người biết từ đó, nhưng người ta biết Trọng Lang, nhà phóng sự với những thiên điều tra như Hà Nội lầm than, Ăn cắp, Đàn bà hút thuốc phiện, Ăn cướp, v.v... chớ ít người biết anh đã từng viết nhiều văn vui cười.


Tôi còn nhớ một lần báo Ngày Nay đặt một cuộc thi viết truyện ngắn vui, Trọng Lang đã được anh em chấm nhất với truyện Lưỡng tầy cún (lượng địa quan). Sau này, trên các báo khác, anh còn viết mục “phim”, mỗi ngày một truyện tiếu lâm với tiêu chuẩn "Le ridicule tue" và nhiều kịch vui khác, như Nhảy củ khoai lang, Thơ con ốc lấy đề tài "Nông công hóa trí thức, trí thức hóa nông công". Ngoài ra, Trọng Lang, cách đây chừng mười năm, còn một tờ tuần báo hài hước nhan đề Cười... cười trong có những đề mục như: Thư âm phủ, Tiểu thuyết vui, Chuyện vui đồng quê của cô Đoảng, Đối thoại giữa Hai Viên và Trưởng Trốc, và Phúng thích (tức là mục pô tanh gom góp những chuyện vui buồn xảy ra trong tuần, đem ra viết bằng một lối văn cười cợt)... Trọng Lang viết văn cười dưới nhiều bút hiệu khác nhau như Lục Liên, Cô Đoảng, Ba Vui... nhưng không lúc nào nổi bật lên được như Tú Mỡ.


TÚ MỠ TRƯỚC DÒNG NƯỚC NGƯỢC
VÀ SAU DÒNG NƯỚC NGƯỢC


Lúc tôi còn đi học trung học, Tú Mỡ đã đi làm Nha Tài chánh. Tôi biết anh là vì hai nhà chúng tôi đi lại buôn bán với nhau thân mật: nhà anh ở Hàng Hòm, mà nhà tôi ở Hàng Gai. Thoạt mới trông thấy anh, không ai lại có thể tưởng tượng anh có thể viết thơ văn cười cợt, một là vì lúc trẻ mặt anh buồn rười rượi, hai là tại anh hiền lành, nói năng nhỏ nhẹ, thấy đàn bà con gái là thẹn đỏ mặt tía tai.


Một người như thế, Trời sinh ra để cho làm công chức với Tây, vậy mà không ngờ ngay từ lúc mới bắt đầu cầm cây bút viết văn, anh đã làm thơ cười và cứ là thơ cười như thế suốt cả một đời người. Lúc viết tập kỷ yếu cho “Việt Nam Thanh niên hội”, Tú Mỡ thường làm thơ cười lục bát. Tôi tiếc không còn một tập kỷ yếu nào ở bất cứ thư viện nào trong nước, từ Bắc vào Nam, để đơn cử vài thí dụ. Chỉ còn nhớ rằng lúc ấy phần đông anh em đùa giỡn Tú Mỡ, thường vẫn phê bình: “Anh sợ vợ có tiếng, về nhà không dám nói một câu thành thử có bao nhiêu uất ức trong lòng, anh giữ lại thành một thứ dồn ép, và không biết bài tiết ra bằng gì thì bài tiết bằng thơ cay cú, khôi hài”.


Tính sơ sơ tuổi đời, năm nay Hồ Trọng Hiếu, sước danh Tú Mỡ, cũng được bảy mươi, bảy mươi mốt tuổi. Như trên đã nói, anh là thư ký Sở Tài chánh. Đi cái xe đạp tàng, anh ngày ngày hai buổi đi làm việc; có thì giờ rảnh rỗi thì làm thơ mà chỉ làm thơ vui cười, không viết mục gì khác biệt. Sau tập kỷ yếu của “Việt Nam Thanh niên hội” của Paul Monet, Tú Mỡ còn viết cho Tứ Dân Văn Uyển của Vayrac do Henri Tissot làm giám đốc tinh thần, nhưng nổi bật được lên, phải kể từ lúc Tú Mỡ gặp Nguyễn Tường Tam, viết “Dòng nước ngược” cho Phong Hóa, Ngày Nay. Cũng nên nói thêm rằng chính trong thời kỳ viết Tứ Dân Văn Uyển, Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu đã khai sinh một nhân vật điển hình của Phong Hóa, Ngày Nay sau này: Lý Toét.


Tú Mỡ thật nổi tiếng từ “Dòng nước ngược”. Tất cả những thơ vui cười của anh viết trong thời kỳ này, về sau, được sưu tập in thành sách và do đó cái tên Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu đã đi vào “hoạt kê văn học sử”. Thơ hoạt kê châm biếm của anh nhắm vào đủ các lãnh vực: chánh trị, tôn giáo, kinh tế, xã hội; kể ra thật nhiều, chỉ xin đơn cử vài thí dụ:


Về chính trị, tôi còn nhớ bài Nam hải dị nhân:


Nước Nam có hai người tài,


Thứ nhất xừ Vĩnh, thứ hai xừ Quỳnh.


Một xừ béo mép rung rinh,


Một xừ lếu đếu như hình cò hương.


Không vốn liếng, chẳng ruộng nương,


Chỉ đem dư luận bán buôn làm giàu.


Bây giờ đang xỉa xói nhau,


Người câu lập hiến, kẻ câu trực quyền(1).


Về tôn giáo, như bài Sư cô ở cữ:


Chùa Yên Lạc phủ Khoái Châu,


(Tên sao khéo đặt nên câu hữu tình…!)


Có bà sư trẻ xinh xinh,


Tuổi chừng ba chục xuân xanh đang vừa.


………


Đẻ ra một cậu sư con,


A Di Đà Phật, mẹ tròn con vuông!


Đẻ xong từ giã nhà thương,.


Gửi con nhà nước lên đường lại tu…


Về xã hội phong tục như bài Hách:


Có hai ông nghị ma bùn,


Nghị câm, nghị gật cũng môn nghị hề.


Tưởng mình to gớm to ghê,


Thiêng như thần ở gốc đề gốc đa.


Các ông không muốn người ta,


Nói động nói chạm sướt qua tên hèm.


Này ông thử nghĩ mà xem,


Ra nơi ăn nói ngồi im lì lì…


Về văn nghệ như bài Trời đầy Nguyễn Khắc Hiếu:


… Thích chí nằm ngâm nga,


Tiếng động vang Ngân Hà.


Trời hỏi: “Ai ngâm thế?”,


Muôn tâu: “Ấy, Tản Đà!”.


Trời nổi trận lôi đình,


Rằng: “Cái thằng tiên ranh”.


Ta đầy xuống hạ giới,


Để bắt chịu nhục hình.


Ai ngờ hắn vẫn nhàn,


Ngày tháng ngâm thơ tràn.


Các người, ai có cách,


Bắt hắn phải gian nan?


Chư tiên đồng thanh nói:


“Tội nặng nhất trần gian,


Là bắt anh Khắc Hiếu,


Làm tạp chí “An Nam”(1).


Đọc bài thơ trên đây, tôi không thể không nhớ đến một câu chuyện vui cười cũ mà tôi đã thuật trong tập Cái cười từ Đông sang Tây, từ kim chí cổ:


Ngày xưa, có một người lúc sống làm đủ các trọng tội ở trên trần. Đến khi chết, linh hồn phải xuống Phong Đô một thế giới ở dưới mặt đất, rộng như Dương thế. Phong Đô, gọi tiếng Nôm là Âm ty hay Âm phủ. Đứng đầu là Phong Đô Đại đế cai quản mười vị Diêm Vương ở mười khu riêng biệt.


Tên tội nhân độc ác bị dẫn tới điện Diêm Vương Tân Quảng, bắt soi vào Nghiệt Kính đài. Bao nhiêu điều hắn làm khi sống đều hiện lên rõ rệt, không sót mảy may. Những người và vật hắn sát hại khi trước nhảy lên, lao vào đòi mạng. Bao nhiêu hình phạt hà khắc ở dưới Phong Đô như cưa đầu, khoét mắt, chặt chân, leo cầu vồng, cho chó ngao moi ruột, đối với tội ác tầy trời do gã đã gây nên lúc sanh thời thảy đều nhẹ tếch, không có nghĩa lý gì. Một viên phán quan đứng lên buộc tội:


- Muôn tâu Đại Vương, xin cho hắn chết một lần nữa.


Diêm Vương phán:


- Như thế, há chẳng phải là thưởng cho hắn về những tội ác của hắn ru?


Lại một phán quan khác đứng ra trước sân, sụp lậy tâu:


- Hạ thần xin Đại Vương cứ cho hắn sống lại thì hắn mới đủ đền tội ác được.


Hai bên văn võ triều thần xì xào bàn tán và tỏ ý ngạc nhiên.


Viên phán quan vừa lên tiếng bấy giờ mới thủng thỉnh nói tiếp:


- Cho hắn có tài…


Mọi người xôn xao tỏ ý bất mãn.


Viên phán quan điềm nhiên tiếp:


- Cho hắn sống lại, cho hắn có tài và cho vợ hắn thật mắn đẻ…


Triều thần càng xao xuyến muốn bác bỏ ngay cái án kỳ quặc ấy đi. Viên phán quan làm như không biết, cứ nói tiếp:


- Đầy hắn phải lao đao trường ốc. Vạn bất đắc dĩ hãy cho hắn đỗ cái tú tài là cùng.


Tiếng cười chế nhạo vang lên.


Viên phán quan cứ tiếp:


- Muôn tâu Đại Vương, số là ở nước Việt Nam chúng nó có thành kiến rất ngộ nghĩnh: các công việc làm bằng chân tay bất luận hay và hữu ích đến mức nào cũng đều coi là đê tiện. Những công việc ấy chỉ dành cho người vai u thịt bắp, còn các bậc văn nhân thì bị cấm ngặt, không được mó tới. Cho nên cái tú tài kia tuy ở nơi thôn dã kính nể thực đấy, nhưng đối với triều đình thì vua chúa chúng lại không dùng đến. Thế là cao không tới, thấp không thông. Sự kính nể hão huyền đưa tên tú tài vào con đường cụt: hắn phải để ngón tay dài cuộn cong veo như mười cái xe điếu ống, ăn lương vợ, qua ngày ấy sang ngày khác chỉ nằm khoèo, rồi nhỏm dậy rung đùi ngâm thơ:


Vuốt râu nịnh vợ: con bu nó,


Quắc mắt khinh đời: cái bộ anh!


Vì mang danh ông Tú, hắn không dám nhúng tay vào việc gì hết, sợ thiên hạ chê cười. Có cái máy “làm tiền” thì lại đem dùng làm “máy đẻ” mất rồi. Đã đẻ xòn xòn đầu năm con gái, cuối năm con trai thì không thể:


Quanh năm buôn bán ở mom sông,


Nuôi nấng năm con với một chồng.


Một lũ con dại với một đức lang quân dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm, đối với một người đảm đang đến tột bực, cũng khó lòng chu tất. Ấy là chưa kể khi con sài, mẹ yếu:


Van nợ lắm khi tràn nước mắt,


Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi.


hoặc:


Một phường rách rưới con như bố,


Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng!


Trong cảnh nguy khốn cùng quẫn ấy, hắn dù có muốn chết cũng không chết được, mà sống thì hỏi sống bằng cách gì? Thế là hắn “sống dở chết dở” và có như thế họa chăng hắn mới đền bù được tội lỗi do hắn gây ra!


Muôn tâu Đại Vương, theo ngu ý thì dám chắc ở dưới Âm ty ta cho đến Dương thế, cùng cả trên Thiên đình nữa, vị tất đã có thứ hình phạt nào độc ác kinh khủng tới mức ấy.


Tất cả văn võ bá quan, kể cả ngục tốt, ngục quan, quỷ sứ đều cười rộ cả lên để hoan nghênh cái án ấy. Về sau này, có người phê bình: có lẽ cái án không tiền khoáng hậu này trong lịch sử tư pháp trên trời, dưới đất đặt ra chỉ để phạt cái tội ngông của các văn sĩ, thi sĩ dám cả gan chửi không tiếc lời những mục nát thối tha của xã hội loài người chăng?


MỘT CHUYỆN VUI CÓ THẬT TRĂM PHẦN TRĂM VỀ TÚ MỠ


Cũng như tất cả thi sĩ, văn nhân biết suy nghĩ, Tú Mỡ đã bỏ kinh thành theo Kháng chiến để dự phần đánh đuổi thực dân, tranh đấu độc lập cho đất nước, tự do cho dân tộc.


Bây giờ những người đã từng sống những ngày chiến đấu ở hậu phương có thể làm chứng cho tôi về câu chuyện sắp kể mà tác giả cam đoan không bịa mảy may. Ra ngoài kia, Tú Mỡ vẫn giữ một chức vụ về tài chánh mà chức vụ này có thể gọi là khá cao. Một hôm, trong một cuộc hành quân của quân đội Pháp ở Vĩnh Yên, Phúc Yên, không hiểu lớ khớ ra sao Tú Mỡ bị Tây bắt được. Mà bắt giữa lúc tay anh vẫn cắp một cái cặp to bằng một cái thùng sữa Nestlé tọng đủ cả chứng minh thư, các giấy tờ quan hệ và các thứ con dấu của Việt Minh liên quan đến Bộ Tài chánh mà anh phục vụ. Có chạy đàng trời cũng không thoát chết được chuyến này. Hồ Trọng Hiếu - bút hiệu Tú Mỡ - chắc hẳn đã biết cái phần số chờ đợi mình hơn ai hết nên đành là cứ phải liều nhắm mắt đưa chân để xem con tạo xoay vần ra sao.


Anh bị nhốt ba ngày liền. Đến ngày thứ tư, anh bị giải vào phòng kín để cho một viên quan ba hỏi tội. Biết là không thể nào chối cãi được - bởi vì chứng cớ rành rành ra đấy như cái mẹt - anh nói bằng tiếng Pháp:


- Tôi là Việt Minh. Tất cả giấy tờ này của tôi. Tôi không chối cãi. Bây giờ tôi bị bắt, tùy nơi ông định đoạt.


Trái hẳn với dự đoán của anh, viên quan ba Pháp không đưa anh ra bãi cỏ sau “pốt” để bắn, nhưng lại bảo anh đi tắm rửa, nghỉ ngơi rồi bảo:


- Tôi đương cần một người thông thạo về tài chánh giúp việc tôi. Anh có bằng lòng ở lại đây với tôi không? Hay là anh muốn về Hà Nội? Tôi cho anh toàn quyền chọn lựa. Nếu anh ở lại đây làm việc, tôi trả lương cho anh hậu hĩ, còn nếu anh muốn về Hà Nội, tôi sẽ cho người thân tín của tôi đánh xe đưa anh về tận nhà anh và nếu có cần giấy tờ gì, tôi bảo đảm sẽ lấy đủ cả cho anh.


Nghe thấy viên quan ba nói thế, Tú Mỡ lạnh cả người, một là vì anh sợ - sợ nó không bắn mình để cho mình sống tất hẳn muốn trừng trị cách nào thâm độc hơn đây - hai là vì anh sợ bị đưa vào mê hồn trận, ở lại làm việc thì anh em Kháng chiến không thông cảm, liệt vào cái hạng “Việt gian” bắn bỏ, mà về Hà Nội thì nhất định không thể được là vì mặt nào mà về với thực dân chống lại anh em; thêm nữa, vợ con lại ở cả hậu phương, nếu bỏ về một mình thì buồn chết đi được, mà có khi vợ con lại bị bịt mắt đi “mò tôm mò cá”. Bí quá, Tú Mỡ phải làm ra cái mặt dớ dẩn, trả lời không dứt khoát:


- Tôi xin cảm ơn ông. Tôi không muốn ra Hà Nội nhưng… trở về với Kháng chiến thì tôi thiết nghĩ…


Nói tới đó, rồi thôi. Viên quan ba, trông anh, cười mà bảo:


- Thôi, khỏi nói. Tôi đã biết ý anh rồi. Anh muốn ở chỗ nào có vợ con anh mà vợ con anh ở với Kháng chiến, nghĩa là anh muốn trở về với Kháng chiến chớ gì?


Hồ Trọng Hiếu câm tịt, không nói phải mà cũng chẳng nói không, nhưng anh rét từ trong bụng rét ra vì anh nhất định là lần này không còn thể sai được nữa: Tây nó sắp đưa anh ra bắn, bởi vì nó biết anh vẫn còn trung thành với Kháng chiến, muốn về với Kháng chiến, chớ không chịu theo Tây. Thôi, ai thì cũng phải chết một lần, mặc kệ mẹ nó muốn ra thế nào thì ra. Nhưng nghĩ hùng thế thôi, chớ thực ra vẫn “rét” không có cách gì hãm cho hai cẳng hết run lên như cầy sấy. Anh liều:


- Ông nói thế thật đúng ý tôi. Quả tôi muốn như thế, nhưng tôi có thực thi được ý định ấy hay là tôi bị năm viên đạn bắn vào đầu, cái đó hoàn toàn do nơi ông quyết định.


Viên quan ba nhìn Tú Mỡ hồi lâu không nói, mãi sau, mới bảo:


- Đến tối nay, anh vào phòng ngủ của tôi nói chuyện.


Tiên nhân thằng Pháp thực dân! Muốn bắn mình thì bắn cha nó mấy phát cho xong, chứ cứ kéo dài cái giờ hấp hối thế này cực quá, mà bắn gì lại bắn đêm và bắn ở trong phòng ngủ? Nhưng đến tối hôm ấy, Tú Mỡ cũng lại lên trình diện viên quan ba. Viên này bảo anh ngồi - nếu uống rượu cứ rót ra mà uống - rồi ngồi nói chuyện như hai người bạn. Anh có vợ, mấy con? Trước làm gì? Tại sao theo Kháng chiến? Chớ thực tình anh không muốn ra Hà Nội phải không? Rồi y bảo:


- Ờ, nếu anh muốn về với Kháng chiến, tôi cũng không ngăn cản. Tôi sẽ giúp anh.


Và sáng hôm ấy, viên quan ba đưa cho anh một đống tiền Pháp và tiền Hồ, trả lại cái cặp, bảo anh lên một chiếc xe díp và y đích thân ngồi lên lái đưa Tú Mỡ về địa điểm mà anh bị bắt. Đến ranh giới chia vùng Tề và vùng Kháng chiến, viên quan ba ngừng lại, giở bản địa đồ trong túi ra coi một lúc rồi bảo:


- Phải rồi. Thôi bây giờ anh xuống đi. Chào anh và chúc anh nhiều may mắn.


Tú Mỡ cảm thấy mình đang sống trong một giấc mộng kỳ quặc, cố đưa ra các giả thuyết để “tìm hiểu vấn đề” mà không thể nào hiểu nổi hành vi, tư tưởng của viên quan ba người Pháp, không biết y định chơi cái trò “ma đầu” gì… Tú Mỡ dùng dằng nửa muốn đi, nửa lại sợ đi thì nó bắn đàng sau lưng. Sau cùng, thu hết can đảm vào hai tay, anh rón rén đến gần viên quan ba trong khi y rồ máy:


- Cám ơn, cám ơn lần nữa. Nhưng trước khi vĩnh biệt, ông có cho tôi hỏi ba câu?


- Sao lại không được, khi người ta là bạn?


- Thứ nhất, tôi muốn hỏi ông có biết tôi là ai không? Ông thả tôi vì biết tôi là nhà văn nhà báo?


- Không, tôi không biết.


- Ông có biết tôi là Tú Mỡ, một nhà thơ khôi hài, trào phúng, có một lúc đã có đôi chút tiếng tăm?


- Tôi cũng không biết nữa.


- Thế thì xin hỏi ông câu chót: Tại sao ông lại tha tôi? Tôi là kẻ địch của ông mà!


Viên quan ba hạ thấp giọng xuống:


- Tôi thiết nghĩ ông chẳng nên băn khoăn về điều đó. Nhưng bởi vì chúng ta chia tay nhau lúc này, chưa biết đến bao giờ mới lại tái ngộ, mà ông tha thiết hỏi tôi như vậy, tôi cũng muốn nhân dịp thanh vắng ở trên con đê này tâm sự với ông một điều.


“Tôi là sĩ quan sang chiến đấu ở Việt Nam chưa được hai năm. Hồi mới đến đây được ba tháng rưỡi, tôi bị Việt Minh bắt sống trong một cuộc hành quân, cũng như ông bị tôi bắt bây giờ vậy. Yên trí Việt Minh độc ác, tôi cầm cái chết chắc chắn ở trong tay, không ngờ đêm ấy, sau khi tiếp xúc với một anh cán bộ thẩm vấn tôi, tôi đã ngạc nhiên hết sức vì anh ấy đã thả tôi và lại còn chỉ đường cho tôi đi về, trơn tru, êm thắm. Tôi nhớ cái cử chỉ hào hùng, cao đẹp ấy không bao giờ quên được. Đến khi bắt được anh, tôi không phải suy nghĩ gì hết: ngay từ phút đầu tôi đã quyết định thả anh để đáp ứng cái lòng nhân ái của người cán bộ mà không bao giờ tôi được gặp nữa. Thôi, bắt tay anh và chúc các bạn bè anh mạnh. Nhưng anh à, tôi còn nói với anh thêm câu nữa: Tôi thả anh chỉ mới là một thứ trao đổi mà thôi. Tôi xin hứa với anh, tôi còn làm hơn nữa, nghĩa là tôi còn thả nữa để tỏ ra xứng đáng với cử chỉ của người đồng chí của anh.


Tiếng máy rồ lên trong buổi sáng mù sương ở khúc quẹo con đê. Cái xe díp vòng lẹ quay đầu về phía bót đi như bay. Còn Tú Mỡ thì thui thủi xách cặp đi thất thểu qua ruộng lúa này đến chợ kia, qua cầu này, đến đồng nọ, óc chằng chịt không biết bao nhiêu ý nghĩ vừa vui, vừa buồn, vừa lo, vừa thú.


Đến nhà, anh bước vào, muốn chết đứng ngay nơi bực cửa. Là vì anh vừa trông thấy ở trước mặt một cái bàn thờ trên có treo bức hình của anh. Bao nhiêu người ngồi đó - trong đó có đông đủ vợ con - hét lên rồi bỏ chạy: họ tưởng anh là ma hiện về vì bao nhiêu anh em quen biết đều đã trông thấy anh bị bắt mang đi, mà đi như thế, một ngàn phần ngàn chắc chắn là bị Tây bắn từ lâu rồi, hy vọng gì sống nổi. Bởi thế nhà anh đã làm ma chay xong xuôi và chính hôm đó là thất thất lai tuần, bà con họ hàng làm mâm cơm bát canh cúng anh gọi là tưởng nhớ một người đã khuất.


Kể lại câu chuyện này, Tú Mỡ về sau này kết luận:


- Thế là mình lại lễ mình, rồi cơm canh ấy mình ngã ra phối hưởng đã đời, hả quá!


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







(1) Quỳnh chủ trương lập hiến và trao quyền cho triều đình. Vĩnh chủ trương trực trị (administration directe) theo kiểu Pháp thuộc ở Nam Kỳ.




(1) Tạp chí An NamAn Nam Tạp Chí do Nguyễn Khắc Hiếu làm chủ nhiệm, chết đi sống lại ba lần.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nói có sách (2) - Vũ Bằng 29.05.2017
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
xem thêm »