tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20549134
Những bài báo
10.03.2014
Triệu Xuân
Gửi anh Lê Bá Thự: Sông Chu không thể là sông trâu!

Trong khi lướt web để tham khảo tư liệu, phục vụ cho cái nghiệp “kéo cày” viết tiểu thuyết, tôi đọc được bài thơ: “Nơi sông Chu sông Mã” của Lê Bá Thự. Tác giả đề là “Quý tặng bà con đồng hương Thanh Hóa ở Ba Lan, nhân dịp Năm Mới 2013”. Bài thơ mở đầu bằng hai câu: “Quê hương tôi – nơi sông Chu sông Mã/ Một con sông trâu, một con sông ngựa…”.


Đọc toàn bài thơ qua link: http://trieuxuan.info/?pg=tpdetail&id=11556&catid=4 .Nguồn: queviet.eu/van-hoc/tho/103086-noi-song-chu-song-ma


Đọc xong, tôi lấy làm lạ. Theo nhiều sách vở tài liệu tại Việt Nam, thì Sông Chu, gốc là sông Sủ; còn gọi là sông Lường (ngôn ngữ Tày, Thái gọi là Nậm Sam; nguyên gốc gọi là sông Sủ, người Pháp viết thành Chou, ta đọc là Chu), là phụ lưu lớn nhất của Đnam, đổ vào bờ phải sông Mã ở Ngã Ba Giàng (Ngã Ba Đầu, Ngã Ba Bông), cách cửa sông 25,5 km. Dài 325 km, phần chảy ở Việt Nam là 160 km, qua các huyện Quế Phong (Nghệ An); Thường Xuân, Thọ Xuân (Thanh Hóa). Diện tích lưu vực 7.580 km², phần ở Việt Nam 3.010 km²; cao trung bình 790 m, độ dốc trung bình 18,3%; mật độ sông suối 0,98 km/km². Tổng lượng nước 4,72 km³ ứng với lưu lượng trung bình năm 148 m³/s và môđun dòng chảy năm 18,2 l/s.km². Tại Mường Hinh, lưu lượng trung bình năm 91 m³/s ứng với môđun dòng chảy năm 17,1 l/s.km². Trên Bái Thượng, lòng sông hẹp và nhiều thác ghềnh, đá ngầm, đá nổi, vận chuyển trên sông chủ yếu bằng bè, mảng; từ Bái Thượng thuyền độc mộc mới qua lại được nhưng cũng rất khó khăn vì còn nhiều đá ngầm. Tàu thuyền chỉ đi lại được ở hạ lưu khoảng 96 km (đoạn Ngã Ba Đầu-Bản Don).


Từ 1921 đến 1929, Pháp đã xây dựng đập dâng nước Bái Thượng dài 160 m, cao 23,5 m, tưới cho hơn 50 nghìn ha đất ruộng hai vụ của Thanh Hoá, những năm 1990 đập được sửa chữa lại để đảm bảo an toàn.


Ngày 2 tháng 12 năm 2006, dòng sông Chu đã được chặn lại, luồng nước được dẫn tới hồ chứa nước thuỷ lợi - thuỷ điện Cửa Đạt (có dung tích lớn nhất ~ 1,45 tỉ m³ nước) để có nước tưới cho 87 nghìn ha đất nông nghiệp của tỉnh Thanh Hoá, đồng thời có thể phát điện với công suất 97 MW, phục vụ nước sinh hoạt cho cư dân các huyện miền xuôi và thành phố Thanh Hoá, cấp nước cho sông Mã vào mùa kiệt. (Nguồn: http://trieuxuan.info/?pg=tpdetail&catid=11&id=10455&fid=0).


Như thế, sông Chu không bao giờ có tên là sông trâu như Lê Bá Thự viết! Tại Thanh Hóa, như tôi tìm hiểu, con trâu gọi là con tru (phát âm ngọng, con châu, con chu). Nhưng người Thanh Hóa, giới có chữ cũng như bình dân, không một ai gọi sông Chusông trâu như Lê Bá Thự trong bài thơ nói trên.


Anh Lê Bá Thư là một dịch giả tiếng Balan, có làm thơ. Một dịch giả, theo tôi phải là người vô cùng am tường tiếng mẹ đẻ, thấm nhuần văn hóa nước mình; vô cùng am tường ngôn ngữ mà mình dịch, nền văn hóa của nước ấy. Chẳng lẽ anh Lê Bá Thự lại tự mình gọi sông Chusông trâu? Hay đây là phát kiến của anh chăng?


Tôi rất không đồng tình với anh Nguyễn Huy Thiệp khi vơ đũa cả nắm, cho rằng các nhà thơ của ta đều thuộc loại:… “nhà thơ tức là những người chỉ dựa vào "cảm hứng”để tuỳ tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng, trừ có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự (số này đếm trên đầu ngón tay) là còn ghi được dấu ấn ở trong trí nhớ người đời còn toàn bộ có thể nói là vứt đi cả. Giai thoại có một nhà thơ nói về tình cảnh thơ ở trong bài thơ sau đây (tôi đã đưa chuyện này vào trong tiểu thuyết của tôi vì nó quá hay) khá tiêu biểu cho thực tế đó: "Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ/ Hôm qua nó bảo: Dí thơ vào l…/ Vợ tôi nửa dại nửa khôn/ Hôm nay lại bảo: Dí l… vào thơ!", tôi cũng không phủ nhận cảm tình của nhân dân đối với thơ nhưng quả thực trên thực tế cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó: nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa” (Hết trích Nguyễn Huy Thiệp).


Nhấn chuột vô đây đọc bài của NHT: Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn (3)


Nếu gọi sông Chusông trâu, vô tình, anh Lê Bá Thự rơi vào cái hố nhà thơ chập cheng như Nguyễn Huy Thiệp định danh!


Tôi chắc là có sự nhần lẫn do vội vã nào đó của anh Lê Bá Thự; Tôi hy vọng anh Lê Bá Thự không phải thế!


Thành phố Hồ Chí Minh, Xuân Giáp Ngọ, 2014


TX


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn học miền Nam 1954 -1975 phải có vị trí đích thực và xứng đáng trong lịch sử văn học nước nhà - Trần Hoài Anh 22.09.2017
Ông Phạm Minh Thuận, Tổng Giám đốc Fahasa: Phát hành sách đang có sự phân hóa mạnh - Tường Vy 22.09.2017
Sự chuyển đổi của người viết trẻ - Tường Vy 22.09.2017
Xây dựng các trung tâm nghề cá lớn gắn với ngư trường trọng điểm ​ - Tư liệu 22.09.2017
Trung Quốc biến thương mại thành vũ khí - Brahma Chellaney 22.09.2017
Yếu tố tình dục trong văn chương đã 'mở'? - Tư liệu 21.09.2017
Ở Sài Gòn, không nói hủ tíu cơm tấm mà bàn chuyện PHỞ - Lê Văn Nghĩa 18.09.2017
Thanh Tùng - Nhà thơ của Thời hoa đỏ - Vũ Từ Trang 14.09.2017
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - cách dùng đỗ trạng nguyên, trên/dưới… (phần 4) - Nguyễn Cung Thông 14.09.2017
Đi tìm những tác giả của bộ phim Ngày độc lập - Tư liệu 03.09.2017
xem thêm »