tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20794098
Những bài báo
09.03.2014
Khuất Bình Nguyên
Nhà thơ của “Lỡ bước sang ngang”

Những năm 30, 40 của thế kỷ trước, thi nhân Việt Nam hăm hở trên con đường đi vào sáng tạo thơ ca chữ quốc ngữ, tắm gội trong cơn Mưa Âu gió Mỹ và không ngần ngại tiếp nhận ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, nhất là thi ca Pháp. Họ âu yếm gọi tên Rimbaud và Verlaine. Họ đã thay đổi diện mạo và thực hiện được một cuộc cách mạng thi ca lớn nhất thế kỷ 20 có tên gọi Phong trào thơ mới (1930-1945). Nhiều người không ngần ngại khoác những bộ cánh xúng xính tân thời Âu châu. Kiểu như Hơn một loài hoa đã rụng cành. Hay như Tháng giêng ngon như một cặp môi gần. Hoặc như Yêu là chết ở trong lòng một ít... Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) và lần thứ hai (1919-1929) với việc đẩy mạnh xây dựng đường sắt, đường bộ, sân bay, bến cảng... cần thiết cho việc vơ vét tài nguyên ở Đông Dương của người Pháp đã tạo ra những kết quả vô thức. Các thành phố, đô thị thắp sáng bằng đèn điện, rửa chân bằng nước máy và những người thị dân đông dần lên, một tầng lớp công chúng hoan hỉ đón nhận thơ mới và báo chí in bằng chữ quốc ngữ đủ phạm vi để trang trải những khúc tâm tình của nỗi buồn cô đơn thời thế khi thì rạo rực tha thiết, khi thì buồn bã thẳm sâu mà các thế kỷ trước, những bậc tiền nhân viết thơ bằng chữ Hán và chữ Nôm trên thẻ tre giấy lụa chẳng bao giờ có được.


Giữa lúc đó, chỉ có một người trong số đôi ba người của họ dường như dám đi ngược chiều cơn bão táp mưa sa ấy. Ông đã nắm tay người con gái làng quê Việt khăn mỏ quạ, yếm lụa điều, quần nái đen bước vào làng Thơ Mới từ ánh sáng trầm buồn mà thanh khiết, thân thuộc mà sâu lắng theo nhịp võng ru từ ngàn xưa của thơ ca dân gian và tiếng kêu đứt đoạn mới của Kim Vân Kiều truyện. Người ấy như Hoài Thanh nói: đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng mỗi chúng ta và thơ ca mang hồn xưa đất nước. Kỳ lạ thay. Con người tưởng như xưa cũ ấy, người tưởng như lạc lõng giữa một trào lưu không gì cưỡng lại ấy lại tìm ra lối đi riêng cho mình để trở thành một trong những ngôi sao sáng nhất của cuộc cách tân thi ca giữa lòng thế kỷ 20 - Thi sỹ của đồng quê Nguyễn Bính.


Thế giới thi ca của Nguyễn Bính thật muôn hình vạn trạng. Kể từ Cô hái mơ, bài thơ đầu tiên được đăng báo trên tờ Tiểu thuyết Thứ Năm - 1937, cùng năm đó Tự lực Văn đoàn trao giải thưởng cho tập thơ Tâm hồn tôi của ông đến những bài thơ viết từ kháng chiến chống Pháp trở đi như Tiểu đoàn 307, Đêm sao sáng, Người vợ miền Nam... sau này; Một thế giới tinh thần reo ca nhiều cung bậc đoạn trường theo cuộc đời ông khắp Bắc Trung Nam, một thế giới của trạng thái tinh thần sâu lắng nhất văn hóa làng quê Việt nửa đầu thế kỷ 20 qua hồn thơ của thi sỹ lãng mạn. Nhưng nổi bật nhất vẫn là thơ tình trước năm 1945, hội đủ tâm trạng đời thường từ Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng đến Ghen tuông ghen từ cái cúc bấm ghen đi. Thế nhưng cung bậc thơ tình Nguyễn Bính ở đỉnh cao nhất lại là cảm hứng Lỡ bước sang ngang kể về những mối tình ngang trái. Lỡ hẹn. Lỡ duyên. Chia lìa... Những bài thơ hay nhất của Nguyễn Bính nằm trong khúc ca vỡ tình vỡ mộng ấy. Lỡ bước sang ngang. Cô lái đò. Cô hái mơ. Viếng hồn trinh nữ. Qua nhà. Những bóng người trên sân ga. Giấc mơ anh lái đò. Tình tôi. Chờ nhau. Người hàng xóm. Hoa với rượu. Xuân tha hương. Một trời quan tái v.v... Vẻ đẹp tình yêu lứa đôi cũng là sự day dứt không nguôi của tình người, tình đời trong thơ Nguyễn Bính là vẻ đẹp của lỡ dở, chia ly... Tưởng như nghịch lý vì nó không phải là sự đoàn viên yên ấm mà lại là sự tan nát cõi lòng như những giọt đắng sánh lại bao vần thơ da diết trong cái dáng vẻ những câu chuyện tâm tình ở chốn làng quê. Thi sỹ không ngợi ca sự tan vỡ chia ly. Ông như một tâm hồn bé nhỏ bày tỏ sự cảm thông của mình với cuộc đời. Chủ nghĩa nhân văn của Nguyễn Bính là ở đó. Sự lỡ bước sang ngang của người đời ông tự nhận nó như là của bản thân ông. Xem thế, một nền văn học chỉ có tiếng cười thôi thì làm sao hiểu thấu nỗi đau của lòng người trên con đường dài chiến thắng cái ác để đến với cái thiện. Nó cần cả những tiếng than.


Tô Hoài viết hồi ức về nhiều nhà văn Việt Nam đương thời thật nồng nàn, hóm hỉnh. Lắm đoạn cũng thật chua cay. Nhưng hay nhất phải kể đến ông ấy viết về Nguyễn Tuân và Nguyễn Bính. Với Nguyễn Bính có lần Tô Hoài bảo: Những điều ước ao to tát nhất cũng chỉ là ba gian nứa lá, giàn đỗ ván, cái chuôm. Tháng chạp chuôm cạn nước thì cấy rau cần. Mộng đẹp nho nhỏ ấy chưa bao giờ có được. Thì trong thơ có cả. Trong thơ cũng chẳng còn cái mộng đẹp nho nhỏ ấy đâu hỡi bác Tô Hoài ơi! Bởi vì cái phần tinh túy nhất của Nguyễn Bính cũng đã lỡ bước sang ngang rồi. Không phải ngẫu nhiên mà những nhà xuất bản danh giá ở xứ ta đã bước sang thế kỷ 21 được hơn 10 năm mà vẫn in thơ Nguyễn Bính và nghe đâu người ta bán vẫn chạy. Cái giống nhau của các tập thơ ấy là: toàn bộ hoặc gần như hầu hết các bài thơ in lại trong đó đều là mảng thơ về lỡ bước sang ngang. Ví như Thơ Nguyễn Bính, NXB Văn hóa thông tin 2011. Nguyễn Bính - Thơ và đời nhóm tri thức Việt tuyển chọn. Nguyễn Bính - Thơ và đời - Hoàng Xuân tuyển chọn. Cùng năm 2012, và Nguyễn Bính - Tác phẩm và lời bình - Thùy Trang tuyển chọn quý 3.2013, đều của NXB Văn học... Cái khác nhau giữa những tập ấy chỉ là ở những lời bình giảng của người đời cứ ngày một dài thêm ra, một sự ẩn ức thật đáng quý của thế gian dành cho nhà thơ đã một lần lếch thếch đi qua cõi đời này. Những câu chuyện được Nguyễn Bính kể bằng những vần thơ não lòng ấy người trong thiên hạ từ Bắc chí Nam nhớ và thuộc lòng từ bảy chục năm về trước cho đến bây giờ. Cô lái đò trên bến sông kia đã nặng thề cùng ai ba xuân trước nay đành lỗi ước với tình quân. Bỏ thuyền. Bỏ bến. Bỏ dòng sông. Bỏ lại nỗi buồn cho bao lữ khách để cô đi lấy chồng. Cô hàng xóm ở cạnh nhà tôi chỉ cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn và con bướm trắng vô tư bay đi bay lại chẳng thể làm gì khi cô đơn buồn lại thêm buồn. Cô hàng xóm đã chết từ đêm hôm trước. Bướm trắng cứ bay mà chẳng nguôi ngoai được nỗi buồn cố nhân. Giấc mơ của anh lái đò bến sông kia năm xưa chở người con gái chiều chiều sang bãi tước đay để ai mong ước một ngày võng nhuộm màu điều đón người đỗ trạng cùng sang sông trên một chuyến đò. Nhưng người ấy đã xuống đò sang sông mất rồi. Anh lái đò chỉ biết buông sào cho nước sông trôi. Đến cả sân ga vốn là nơi người đời xum họp, đoàn viên sau thời xa cách, Nguyễn Bính cũng chỉ thấy nơi này là sự chia ly lỡ bước, nơi nhắn lại mình về thương lấy mẹ mình ơi. Với Nguyễn Bính, cuộc đời này chỉ là sân ga cho người trong thiên hạ sống xa nhau. Vì thế ông chỉ thấy bóng người mà không thấy người. Hà nội 36 phố phường bao nhiêu tao nhân mặc khách là thế mà thi nhân chỉ thấy một ngôi nhà có mặt trời vì người con gái ở đó càng hờ hững bao nhiêu, người tình si càng mê đắm bấy nhiêu. Kết cục là một bên pháo đỏ mặt đường. Còn phía bên kia chỉ là khổ đau không gì bù lại. Để một ngày kia cứ đi mãi mãi vào sơn cước. Bỏ lại sau lưng lá úa rơi ngập đất kinh thành. Chỉ còn xót xa khi nghĩ về xe hoa cưới cửa kính huy hoàng vạt áo thêu. Chiều nay trở thành chiều thương nhớ nhất. Cả một trời quan tái và bóng người đẹp chập chờn trong cốc rượu đầy. Thi nhân uống mãi mà chẳng thể nào say được... Cùng với Một trời quan tái và một số bài thơ khác, nổi tiếng nhất cho cảm hứng chủ đạo này đã ghi danh Nguyễn Bính vào lịch sử thi ca, để đủ hạng người trong thiên hạ thuộc như thuộc Truyện Kiều là bài Lỡ bước sang ngang. Tự sự của người chị lỡ bước sang ngang với người em nghe hơi hướng giọng điệu của Thúy Kiều dặn dò Thúy Vân trước khi dứt áo đoạn trường.


Chị đi một bước trăm đường xót xa. Cậy em em ở lại nhà trồng dâu chăm sóc mẹ già. Tôi cứ đọc đi đọc lại mãi xem anh chồng mà chị ấy phải sang ngang là ai, sống hay chết? Thi nhân chẳng nói ra cho rõ. Chết thật hay chết ở trong lòng thì cũng thế mà thôi. Làm cho người đọc day dứt không nguôi về mười năm chị ôm mối hận bên giường... Rồi người nghệ sỹ qua bến sông này đoái thương duyên phận lỡ làng. Hồi sinh lại tình yêu đã chết. Để rồi lại phải chia ly cho chị trở về tháng ngày qua cửa phòng the. Nhặt hoa lê cuối mùa đã rụng. Thế là tàn một giấc mơ... Có lần, tôi tưởng Nguyễn Bính đã từ bỏ cái cảm hứng lỡ bước sang ngang của mình để ngợi ca sự đoàn viên. Hoa với rượu kể:


Thuở ấy làm sao thật thái bình


Giai hiền bạn với gái đồng trinh.


Trời bắt chàng làm thi sỹ phải đi dan díu với kinh thành. Cô gái tên Nhi bỏ nơi làng cũ. Một ngày kia thi nhân như người lữ khách vô tình gõ cửa nhà ai xin ngủ trọ. Giật mình bỗng gặp lại người xưa. Đêm ấy họ lại giót rượu cho nhau uống lại những ngày sầu. Vườn xuân trắng xóa hoa cam rụng minh chứng cho hai kẻ nên vợ nên chồng. Tưởng là một câu chuyện có hậu. Ai ngờ ông Bính vẫn dằn lòng cho lỡ bước sang ngang. Đó chỉ là một giấc mộng của hoa tàn rượu ế.


Nguyễn Bính sinh ra để làm thơ cho lỡ bước sang ngang với sự đồng cảm xót xa như chính đời ông trải nghiệm. Nhưng dường như để xoa dịu những nỗi chia ly không hẹn đoàn viên ấy của con người, phong cảnh làng quê thật dịu hiền dân dã. Những bức tranh quê làm xao xuyến lòng người còn ở lại mãi với mai sau như thể chia đau xẻ buồn với những kiếp người nhân thế.


Với Nguyễn Bính, nơi phố xá kinh thành chỉ là nơi cát bụi. Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe. Với ông chỉ có làng quê mới là thanh khiết. Cô gái quê chỉ đi tỉnh có mỗi một lần mà cái chân quê hương đồng gió nội đã bay đi mất ít nhiều rồi. Đẹp nhất là những bức quê xuân.


Cảnh hoa xoan rụng dưới trời xuân hội chèo làng Đặng.


Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay


Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.


Mưa xuân - 1936.


Cảnh thôn quê tươi sáng thanh bình lúc trời quang mây tạnh hiện ra có thật trước mắt như là không phải đã ở trong thơ Nguyễn Bính.


Thong thả dân gian nghỉ việc đồng


Lúa thì con gái mượt như nhung


Đầy vườn hoa bưởi hoa cau rụng


Ngào ngạt hương bay bướm vẽ vòng.


Xuân về - 1937.


Mùa xuân xanh thanh bình của lúa và ánh sáng mặt trời.


Mùa xuân là cả một màu xanh


Giời ở trên cao lá ở cành


Lúa ở đồng anh và lúa ở


Đồng nàng và lúa ở đồng anh.


Mùa xuân xanh.


Những bức quê nằm trong cảm hứng hoài cổ cũng góp phần cho vẻ đẹp thuần phác của thơ Nguyễn Bính. Tôi yêu những câu thơ hoài cổ của các thi sỹ phong trào Thơ Mới. Tươi sáng mà thanh bình xiết bao những cô thôn vàng nhuộm nắng chiều tươi trên đường về chốn cũ của Chế Lan Viên đến câu hỏi những người muôn năm cũ bày mực tàu giấy đỏ bây giờ đi đâu về đâu của Vũ Đình Liên. Thơ về Huế của nguyễn Bính đẹp một cách kiêu sa như dệt bằng thanh sắc của những tích chèo cổ. Xóm ngự viên xưa là nơi những cung nữ đa tình vua thiếu niên, nơi đón gót sen bước nhẹ lầu tôn nữ, ngựa bạch buông trùng áo trạng nguyên giờ chỉ là xóm Ngự viên nhà cửa liền nhau, Giậu đổ dây leo suồng sã, xóm vắng rêu xanh những lối hè. Tôn nữ ngày xưa lại ngồi đan từng chiếc áo... Bài thơ Vài nét Huế viết 1941 là những dòng lục bát hoài cổ thật xót xa. Đôi bờ của dòng sông ấy như đôi cánh tay vua giờ có còn cung nga úp mặt làm thơ thất tình nữa hay không? Con sông không rộng mà dài ấy con đò không chở những người chính chuyên nữa. Bóng dáng của một kinh thành xưa chỉ như con én lẻ loi đàn.


Thâm u một dải hoàng thành


Đình suông con én không đành bay đi.


Trong dòng chảy hoài cổ đó, có một lần Nguyễn Bính tìm được một ngõ nhỏ để thả hồn mình. Trăng vàng đầy ngõ gió mênh mông.


Làng quê đẹp như bức tranh xuân hay tần ngần xao xuyến trong hoài cổ đều bộc lộ sự viên mãn trong vẻ đẹp thiên nhiên tương phản với tình đời, tình người khắc khoải thêm hơn cái cơ sự lỡ bước sang ngang và điều đó làm cho những vần thơ thôn quê vốn buồn và cô đơn trở nên xa vắng mà không bi lụy.


Bức tranh làng quê của Thơ Nguyễn Bính đi từ ca dao dân ca và Truyện Kiều để nón thúng quai thao góp mặt với làng Thơ Mới trước hết ở việc sử dụng thể thơ 6.8, bánh trưng của thơ truyền thống Việt Nam. Không phải không có lúc, có bài, có câu dễ dãi nhưng thơ Nguyễn Bính chiếu sáng thêm lên những khía cạnh mỹ học và vẻ đẹp của thể thơ truyền thống lục bát dân gian thời hiện đại đến mức nói đến ông người ta nghĩ ngay đến 6.8 dân dã làng quê giống như nhắc đến La Fontaine thì nói đến thơ ngụ ngôn vậy. Lục bát nhuần nhụy kết hợp với lối nói dân gian giàu biểu tượng góp phần cho thơ Nguyễn Bính mang âm hưởng ca dao mặc dù nó chuyển tải nội dung trữ tình lãng mạn trong cảm xúc và ý tưởng thơ mà thời đại đã sản sinh ra. Dưới đây là ví dụ con số 9 trong Giấc mơ anh lái đò. 1938.


Đồn rằng đám cưới cô to


Nhà giai thuê chín con đò đón dâu


Nhà gái ăn chín buồng cau


Tiền cheo tiền cưới chừng đâu chín nghìn.


Bốn câu trên đây của số 9 chỉ là chuyện kể bình thường như nhặt ra từ ca dao, số 9 của hai câu tiếp theo mới ám ảnh người đời về sự lưỡng lự không nói được thành lời cho một việc lỡ duyên.


Lang thang tôi dạm bán thuyền


Có người giả chín quan tiền lại thôi.


Phải đâu bởi tại 9 quan tiền. Con đò ấy với giấc mơ của anh lái đò, của những người xưa ăn đời ở kiếp với ca dao dân ca như cô lái đò, cô bán rượu... đã sống nghìn năm trong đời sống tâm linh và ước vọng bao đời tưởng như họ cứ lưỡng lự như thế cho đến ngày nay, khi mà nông thôn đất Việt nhiều nơi có đèn điện nước máy mà vẫn yêu thơ này của Nguyễn Bính. Phải chăng cho đến bây giờ mỗi con người chúng ta vẫn còn ẩn náu một người nhà quê từ thuở xa xưa ấy?


Cũng trên nền tảng văn hóa dân gian làng quê Việt, Nguyễn Bính đã chuyển hóa thành công lối nói lặp chữ, điệp ngữ của dân ca tạo nên những cảm xúc thẩm mỹ đặc sắc riêng có của thơ ông.


Qua nhà. 1936.


Giếng thơi mưa ngập nước tràn


Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều.


Đường rừng chiều. 1938.


Đèo cao cho suối ngập ngừng


Nắng thoai thoải nắng chiều lưng lửng chiều.


Không đề. 1938


Anh đi đấy, anh về đâu


Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm.


Người hàng xóm. 1940.


Bên hiên vẫn vắng bóng nàng


Rưng rưng tôi gục xuống bàn... rưng rưng...


Xuân tha hương. 1942.


Ôi! chị một em, em một chị


Giời làm xa cách mấy con sông.


Câu thơ được nhiều người cho là đã khiến Rượu xuân say đắm mà ngậm ngùi đến thế và cũng là chuyện tình có thật của ông với người nữ sỹ tỉnh Bắc Giang thời ấy trong giai thoại.


Thấy tình duyên của đôi ta


Đến đây là... đến đây là... là thôi.


Thơ Nguyễn Bính dung dị không chỉ ở cảm xúc và hình tượng thơ theo bóng dáng thời xưa và thôn quê dân dã, Nguyễn Bính còn giữ lại cho chúng ta cái phông văn hóa rộng rãi đầy bản sắc của làng quê Việt nửa đầu thế kỷ 20. Những cảnh những người bây giờ đã mai một huống gì là cho đến ngày sau. Bến nước. Dòng sông. Hội làng. Thôn Đoài. Thôn Đông. Phường chèo. Vườn cải. Dậu tầm xuân. Trống chèo. Dâu tốt lá. Tằm ươm tơ. Khung cửi. Thoi tơ. Giàn giầu. Cau liên phòng. Sương muối. Bã giầu. Bướm trắng. Dậu mồng tơi. Hoa xoan. Hoa cau. Hoa chanh. Hoa dâm bụt. Hoa cải. Cô lái đò. Cô hàng xóm. Yếm lụa sồi. Dây lưng đũi. Khăn mỏ quạ. Quần nái đen. Yếm đỏ. Khăn thâm v.v... và cảnh ra ngoài giêng đồng lúa trổ đòng. Lúa chiêm xấp xỉ giỗ từ tháng ba. Một thế giới không phải tĩnh lặng, lẻ loi mà luôn luôn sống động bởi hồn thơ Nguyễn Bính. Có người bảo những cái đó chỉ là đối tượng ít nhiều mang chút hồn quê thôi mà chưa đủ đem lại hồn vía cho một thi phẩm. Nhưng thử so sánh cái được gọi là đối tượng ấy thể hiện trong thơ của 5 trong số những nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ Mới như Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ... xem xem có cái đối tượng tập trung, đậm đặc, giàu biểu tượng ấy như trong thơ Nguyễn Bính hay không? - Không. Tuyệt nhiên là không. Đành rằng đối tượng ấy đã được gọi tên trong từ trường cảm xúc của thi nhân và tự nó tập hợp lại vào các câu chuyện, thực là cái phông văn hóa làng quê Việt.


 Từ dạo rời xa chốn quan trường, nhiều khi một mình với Nguyễn Bính, vị thức giả ở phố hàng Bạc thường tự hỏi mình. Thi ca dân gian ông bà ta hay gọi con cò con vạc con nông đến cái cò là cái cò quăm để đau đáu những phận người trên đồng cạn dưới đồng sâu là thế mà sao ông ấy không lặp lại? Cái ta hay gặp nhất trong thơ Nguyễn Bính lại là con bướm trắng giống như hồn bướm mơ tiên là cảm hứng thường thấy của văn chương lãng mạn 1930 - 1945 đến mức thi sỹ Lưu Kỳ Linh, người anh ruột của Lưu Trọng Lư mà Hoài Thanh bảo là đôi bài thơ của ông ấy có cái vi diêu của vần thơ xưa đã từng viết. Bướm kia ai biết là thi sĩ, Kiếp trước đa tình lại hóa thân. Nghĩ vậy thôi. Văn nhân trước sau không phải là người cày sâu cuốc bẫm. Phải chăng con bướm trắng mang trên đôi cánh mỏng tang của nó những đối tượng vừa kể trên kia đã bay về từ hồn thơ của thi sỹ lãng mạn để bay đi bay lại nhiều hơn giữa làng quê Việt Nam thuở ấy? Thơ Nguyễn Bính với tư cách là một bộ phận của thi ca lãng mạn khác với thơ ca dân gian là ở chỗ đó chăng?


Nhưng Nguyễn Bính còn gần gũi với Thơ ca dân gian và Truyện nôm, kể cả khuyết danh thế kỷ 18 ở chỗ mỗi bài thơ, kể cả bài dài, nhiều khi cả những bài rất ngắn đều là những câu chuyện. Vào những năm 1940, khi Nguyễn Bính giang hồ gió bụi đến ở Nam Phong tiểu các của Đông Hồ, viết truyện thơ dài bằng lục bát dưới ánh sáng hồng lạp, cái thứ ánh sáng sang trọng ở vùng Hà Tiên tỉnh nhỏ hồi đó khi ai nấy cũng phải đốt đèn bằng dầu dừa hoặc dầu cá. Bằng linh cảm tinh tế của một thi sỹ, ông thường bảo với Mộng Tuyết: Truyện thơ tả cảnh tả tình không khó. Tự sự mới thiệt khó khăn. Văn tự sự bằng lục bát của Nguyễn Du quả là tài tình. Người sau khó mà theo kịp. Khoảng 40 năm sau, giáo sư Phan Ngọc, trong công trình danh tiếng của ông Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều 1985 cũng gặp lại Nguyễn Bính như một sự đồng điệu của lớp hậu sinh khi ông đề cập đến phương pháp tự sự riêng biệt của Nguyễn Tiên Điền. Với Nguyễn Bính, phương pháp tự sự của ông độc đáo ở chỗ cùng là một sự lỡ bước sang ngang, Nguyễn Bính đã nhập hồn thơ của mình vào nhân vật, vào thập loại chúng sinh, vào chị em người lỡ bước sang ngang, cô lái đò, cô em ở đất kinh kỳ, cô hàng xóm, anh lái đò... để giúp họ trần thuật, tự sự trữ tình câu chuyện của chính bản thân họ hòa đồng với nỗi lòng trắc ẩn của thi nhân. Phải chăng điều đó làm cho thơ Nguyễn Bính dễ đồng cảm, góp phần làm nên cái thôn quê và dường như thấy cả một trời quan tái rừng thu lá đổ của người thơ ở trong đó. Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, người đồng hương hàng tỉnh với Nguyễn Bính, thuộc nhiều bài thơ của tác giả lỡ bước sang ngang lắm. Ông cũng kiên trì đứng chân ở dòng thơ tự sự. Có lần ông ấy bảo tôi. Dựng hoạt cảnh về Thơ Nguyễn Bính chắc là dễ hơn nhiều với Thơ của Chế Lan Viên.


Chiều ngày 6 tháng 12 năm 2013, tôi theo xe của Đoàn Hội nhà văn Việt nam về Vụ Bản viếng mộ Nguyễn Bính. Trong xe đó có bà Nguyễn Bính Hồng Cầu, con gái đầu của nhà thơ. Mới từ ở trong Nam ra. Cuộc đời thật chật hẹp xiết bao. Những năm ở Đồng Tháp Mười xa xôi trong thời gian của Nguyễn Bính tưởng như không còn gì nữa bỗng chốc bước chân về theo nhịp võng ru.


Vợ tôi giăng võng gốc dừa


Đặt con tôi ngủ giữa trưa mùa hè.


Trưa hè. 1956.


Lại nhớ mông lung bài viết của bà ấy về cái chết của cha mình đăng trên mạng, tự dưng cảm thấy ngậm ngùi cho phút lâm chung ngày tận cùng năm âm lịch 1966 cũng dân dã cát bụi như đời thơ Nguyễn Bính, như cô hàng xóm đã để tình ai than lạnh tro tàn trên những dòng lục bát đầy ma lực âm dương của ông.


Đã đến ngôi từ đường nhỏ bé thờ chung cả ông bà cha mẹ Nguyễn Bính. Cũng là nơi lưu niệm nhà thơ. Phía trái đi vào, mộ Nguyễn Bính khiêm nhường nằm đó giữa đông thưa thớt nắng chiều. Nhà thơ Nguyễn Hoa bảo tôi. Thửa đất này vốn đã sang tên cho một người họ hàng. Cách đây quãng chừng hai chục năm, bà em gái của Nguyễn Bính cùng chính quyền địa phương chuộc lại để đưa mộ nhà thơ từ bờ tre đâu đó về ở chốn này. Bãi đất nhỏ sát mộ giằng rịt những dây khoai lang bò ngang bò dọc như cố nói lên rằng vẫn còn chưa đủ nói hết sự đan xen và đa đoan của một kiếp giang hồ. Chẳng thấy dậu mồng tơi, cô hàng xóm ngày xưa nữa.


Đến cánh bướm trắng như là nghiệp chướng hồ điệp của đời thơ ông cũng không thấy rơi rớt lại. Chỉ có ba cây cau trước mộ chẳng biết có phải là cau liên phòng hay không mà buồng quả xanh ra vẻ nao núng giục mùa đón dâu se lạnh một thời đã lỡ bước sang ngang ở làng quê xứ Bắc lắm rồi. Không khỏi chạnh lòng trước ngôi mộ nhỏ thi nhân, người khoác áo gió bụi phong trần để đi dan díu với giang hồ thuở trước đã xa cõi dương gian chỉ còn hai năm nữa thì đầy nửa thế kỷ. Trước khuôn viên ngôi từ đường nhỏ ấy, cái cổng xây gạch với hai trụ vuông cao và mái bằng lực lưỡng quét vôi đã nhạt nhòa vàng. Trụ bên phải ở quãng giữa có gắn một bảng nhỏ màu đen hình chữ nhật, chiều dài bảng dọc theo thân trụ, trên đó thấy có khắc những dòng chữ in nhỏ. Hai chữ đầu to hơn cùng một màu vàng trên nền đen. Nguyên văn như sau: Lưu niệm. Nhà thơ Nguyễn Bính ở đây. Quý khách đến thăm gặp ông Tài ở cổng đối diện sang mở cửa đón tiếp. Chao ôi! Sao người ta lại nhầm đến nỗi trộn lẫn giữa cái vĩnh cửu muôn năm với cái thường ngày trên bảng vàng nhỏ bé mà danh giá kia? Nguyễn Bính ở đây thì đúng rồi. Còn cái người mở cổng hàng ngày cho khách tới thăm kia dù có quan trọng đến đâu thì việc gì phải ghi chung vào đấy? Để cho... tiện thôi sao? Cái bảng nhỏ lưu niệm này cũng muốn... lỡ bước sang ngang rồi sao? Chẳng có dậu mồng tơi nữa nên phía sau lưng mộ nhà thơ là bức tường thấp cũ kĩ trần trụi rêu xanh. Tôi muốn học đòi người xưa tưới chén rượu trắng xuống đất để gọi thi nhân và bọn người mê mẩn kiếp làm thơ như chúng tôi đang lưu lạc ở thế gian này về đây đọc một câu Nguyễn Bính.


Quê nhà xa lắc xa lơ đó


Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.


Hành phương Nam. 1943.


Tôi âm thầm mang nỗi buồn một mình ấy vào trong hội trường nhà văn hóa Trung tâm thành Nam Định sớm ngày hôm sau. Chỉ sợ có ai biết được. Buổi sáng ngày 7-12-2013, lễ kỷ niệm 95 năm ngày sinh nhà thơ thật trang trọng, rộn rã với những hoạt cảnh thơ Tiểu đoàn 307, Người vợ miền Nam... đến như Ghen của Nguyễn Bính cũng được dàn dựng thành một màn nhảy hoành tráng với một cô gái trẻ mặc váy trắng ngắn đẹp như Thiên Nga giữa những chàng trai ăn mặc đồng phục hiện đại như Hàn Quốc. Nhí nhảnh vui tươi lắm. Đã đành lễ kỷ niệm ai lại dựng nỗi buồn. Hơn nữa nỗi buồn cô đơn là của ngày xưa chứ có phải ngày nay đâu? Mặc dầu vậy, tôi một mình cảm thấy còn thiêu thiếu một cái gì của riêng Nguyễn Bính, u ẩn mà thấm đẫm chủ nghĩa nhân văn trong phần lớn thi phẩm hay nhất của ông như đã ngấm vào câu hát võng ru nơi thôn giã từ hơn nửa thế kỷ trước. Tôi trở nên lạc lõng giữa đông nghịt những người, dù trước đó đã có những hoạt cảnh chợ quê, trạng nguyên với mấy người đeo kính đen đội nón lá, kéo nhị ngồi hát cùng mấy cô mặc áo nâu sồng v.v... Cái con người bước ra từ thẳm sâu của ca dao dân ca và Truyện Kiều để ca hát hồn xưa đất Việt dường như cũng đã về đây trong hội trường này giữa những dãy ghế dài đông đảo và nhộn nhịp khách thập phương tụ họp để vinh danh tên tuổi ông. Ông lặng lẽ ngồi ở kia lắng nghe những tiếng lòng đã xa ông bấy lâu nay trầm lặng nhập vào đời sống tinh thần của người Việt. Cả hôm nay và mai sau. Câu chuyện dựng hoạt cảnh Thơ Nguyễn Bính trọn vẹn cũng không phải là điều dễ dàng, xét ở phần chủ đạo trong thế giới tinh thần của ông.


Hà Nội 24/12/2013


KBN.


vanvn.net

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Võ Hồng Anh, một nhà khoa học chân chính - Tư liệu sưu tầm 21.10.2017
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 19.10.2017
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
xem thêm »