tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22987337
Tiểu thuyết
05.03.2014
Ngũ Hà Miên
Bão

Chàng không vội có ý kiến gì sớm, hẳn wait and see, thái độ của kẻ khôn ngoan. Mười lăm năm sau, làm Phó chủ tịch Hội đồng thành phố, đi thăm vùng kinh tế mới Chơn Thành, nghỉ chân trong một quán nhỏ vào một buổi trưa nắng cháy, chàng chứng kiến cảnh hai cha con ông lão di dân nọ, người Thái Bình cùng vô trú nắng. Họ mượn nồi, xin củi nước, nhóm lửa, khuấy bột khoai mì với muối dùng bữa. Người cha đã già, tranh thủ nói về tình hình thế giới, về nạn Trung Quốc xâm lăng và về viễn tượng huy hoàng của Tổ quốc ta. Người con, áng chừng là một bộ đội mới phục viên, liên tục gật đầu tán thưởng.


Họ đã thưởng thức một cách nhanh chóng và ngon lành bữa trưa lõng bõng, cực kỳ đạm bạc ngoài sức tưởng tượng kia, của thời kỳ bao cấp. Sau đó, không cần nghỉ ngơi, họ lóc cóc, kĩu kịt gánh đám bao bột mì sắn và lũ dao liềm cuốc rựa lên đường, mất hút vào mớ bụi mù gió xoáy trên con đường cát nóng như thiêu như đốt của một vùng mênh mông, chưa khai phá không một bóng cây.


Ăn cháo khoai mì cầm hơi, nhưng nhờ có kiên trì nền hòa bình thế giới mà hai cha con ông lão nọ đã vượt qua nắng nóng và con đường xa vất vả: Có khi tinh thần đã đẻ ra vật chất chăng?


Hồi học chỉnh huấn ở Liên khu Năm, chàng đã nôm na nghe giảng giải về duy vật biện chứng, về hạt lúa và cái mầm. Hạt lúa là triều đại nhà Ngô ở miền Nam, từ Bến Hải đến Cà Mau, có nhà máy điện Đa Nhim, có than Nông Sơn, có dệt Vinatexco, có xi măng Hà Tiên, có vòng đua xe đạp xuyên Đông dương, có đảng Cần lao, Thanh niên Cộng hòa, có Đại học Huế… thì mầm cũng là trường Đại học Huế, là cha Cao Văn Luận, là sinh viên cả ở Sài Gòn, là giáo sư Wulf – người Đức, là các ông cố vấn Mỹ ở Tòa Đại sứ, những Meiller, Colmann… cho nên các sinh viên trẻ tuổi Phan Đình Bính, Tôn Thất Chiểu, Lê Hữu Bôi… mới mạnh dạn tuyên cáo bất bình với chế độ và mạnh dạn xuống đường đào mồ chôn nó.


Sau khi chấm thi về tới nhà, chàng không dám đi đâu, bèn cho đứa cháu kêu bằng cậu ra gọi Nguyệt, cô nữ sinh đệ Nhị vốn là huynh trưởng Phật tử đến, đưa các thông bạch của Từ Đàm gửi lên chùa Tỉnh hội Quảng Ngãi. Chú Mười hai và anh Cả chàng ra thăm, đều được chàng mời lên đó thăm để biết tình hình. Hai vị này đều đang làm Phật sự ở quê, hồi kháng chiến đã vô Đảng, nói chung rất e dè.


Tại Quảng Ngãi, bấy giờ có ba nhà sư được nhiều người biết: Quí thầy Thích Giải An, Thích Giải Hậu, Thích Hồng Ân. Thầy Giải An lớn tuổi hơn cả mà rất cầu an. Phật tử đến mời ông cầm đầu cuộc đấu tranh, ông nói:


– Quý vị muốn làm gì thì làm. Riêng tôi, không tham gia chính trị.


Rồi ông đóng cửa, tụng kinh một mình.


Thầy Giải Hậu từng ra chùa Báo Quốc (Huế) họa đạo trước 1945, cùng lứa và tinh thông giáo lý như sư huynh Giải An của mình, người khắc khổ, có em ruột tập kết từng chấp nhận làm đệ tử và quy y cho thằng Quới, con chàng. Từ lâu, chùa Hội Phước của ông vẫn là trung tâm bài xích Ngô Đình Diệm, đã mấy lần ông bị công an mời hỏi rồi lại thả.


Thầy Hồng Ân thì nói tới Công giáo là đồng nghĩa với Ngô Đình Diệm, cặp mắt ông long lên sòng sọc.


Nhưng hai người đồng chính kiến không đội trời chung với Ngô triều, nhưng cạnh tranh nhau trong ảnh hưởng bổn đạo, coi nhau như kẻ thù. Thầy Giải Hậu cho rằng Hồng Ân là đệ tử của Huyền Trí là sư huynh ông, đáng lẽ Ân phải thờ Hậu như sư chú. Đàng này, sau khi thầy Huyền Trí bí mật tham gia hội kín Việt minh từ những năm bốn mươi, cởi áo cà sa mặc chiến bào, Hồng Ân được sư huynh của Lục tổ Diệu Quang nhận làm đệ tử, nên chiếu theo phổ hệ truyền thừa Phật giáo Quảng Ngãi, ông xem các vị có pháp danh chữ Huyền, chữ Giải cùng lứa như mình. Mối kình chống nhau nảy sinh từ đó.


Sự tranh giành mất đi khi người ta bỏ mọi thứ để đến với cõi thiền. Chàng đã biết rõ điều đó nên lúc đến thăm viếng người này, chàng tuyệt nhiên không bao giờ đề cập tới người kia.


Tập trung quần chúng, in roneo tài liệu, thuyết pháp trong khuôn viên chùa chiền với liều lượng thích hợp cho đối tượng Phật tử nông thôn còn khiếp sợ trước đám công an và an ninh quân đội vốn thô bạo, dữ dằn, chàng khéo léo kéo một số đông thiên tả trong học sinh với những trung niên trí thức Quốc dân đảng căm thù Diệm đi cùng Phật giáo.


Mặc nhiên, tất cả hình thành nên một lực lượng đáng kể. Có người thấy tình hình bất lợi cho nhà Ngô, muốn tấn công, làm bộ lo ngại tới hỏi tỉnh trưởng Tất. Tất vốn chẳng học hành, chỉ nhờ là cháu kêu Diệm bằng cậu mà cục đất nặn thành ông Táo. Và, đã làm ông Táo được lâu ngày thì tự khắc rồi cũng học hỏi trở thành thông thái. Tất nói:


– Có gì mà lo, vài ba ông sư, dăm bảy anh trí thức, vài thằng chăm bổn đạo tương đối liều lĩnh cho cái tỉnh gần triệu dân này mà chúng mình đã cài vô đó mấy chục mật vụ rồi. Cứ để họ tổ chức khóa lễ, tuyệt thực cho xả hơi. Cái đáng lo là điều gì sẽ xảy ra ở Sài Gòn. Thằng mũi lõ tại đó nhận lịnh chi từ Oasinhtơn kia. Dinh Gia Long mà bật đèn xanh, chỉ mươi lăm phút ta hốt hết.


Đấy cái con người mà thầy Trí Quang và đám Quốc dân đảng địa phương thường khinh bỉ gọi bằng thằng, nó điềm đạm và đạt nhân tri mệnh biết bao! Những ai quan tâm tới thời cuộc bấy giờ ở miền Nam đúng ra phải nói là họ ở trong đảng BBC. Bởi vì, họ làm chính trị nhất nhất đều dựa theo những bản tin BBC phát thanh sáu giờ ba mươi chiều hàng ngày:


Hôm qua, từ chùa Xá Lợi xuất phát một đoàn biểu tình dài hơn cây số, vàng rực tà áo cà sa của các tăng ni đến ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt một vị sư già điềm tĩnh mở cửa xe, chậm rãi ngồi xuống tọa thiền. Một nhà sư trẻ cầm lấy can xăng xối vào người. Hòa thượng Quảng Đức thản nhiên bật một que diêm tự thiêu, quang cảnh và hành động cực kỳ hùng tráng, cả thế giới đều rúng động…


Những ngày hôm sau, những tuần sau, đều có những tin tức mà mọi cái radio ở khắp miền Nam chỉ mong ngóng từng phút cho tới giờ là bật lên nghe, để tấm tức khóc, nung thêm lòng căm hận, thỏa mãn, sung sướng hơn một chút thấy lực lượng chống đối theo ý ưng của mình ngày một đông đảo: từ Huế, Quảng Nam, Nha Trang, Đà Lạt… có thêm những tăng ni Phật tử tự nguyện hiến thân mình làm bó đuốc. Ngày song thất, Nhất Linh uống độc dược nguyên sinh, Nhất Chi Mai chết để nói được nên lời, Mai Tuyết An cắt máu ở cánh tay…


Để phát triển phong trào chống chánh quyền, cuối tháng bảy, anh em trí thức Quảng Ngãi tổ chức một khóa lễ cầu siêu cho Hòa thượng Quảng Đức và nhà văn Nhất Linh ở chùa Tỉnh hội đường Trần Hưng Đạo, học sinh và những người có chút học vấn trong tỉnh đến dự rất đông. Một cựu học sinh của chàng bấy giờ đã đi dạy học, Đào Đức Nhuận đội sớ, sư Hồng Ân chủ lễ. Chàng cũng cung kính quỳ trước Phật đài khấn nguyện cho quốc thái dân an.


Đang làm lễ thì thằng Quới, con đầu lòng chàng được ai đó thồ xe đạp đến báo tin là vợ chàng mới sinh đứa con thứ tư. Đúng như lời Tỉnh trưởng Tất tiên liệu trước đây, ngày 20-8 chùa chiền trên khắp miền Nam bị tấn công. Tại Quảng Ngãi, các sư Giải Hậu, Hồng Ân, Phật tử Nguyễn Thái Sơn, Quốc dân đảng Lê Nguyên Long… đều bị bắt.


Dạo đó, đang mùa thi, hiệu trưởng đi chấm thi ở Nha Trang, người ta cử chàng làm Xử lý thường vụ việc trường. Ở đời cái gì cũng có số, vì lý do vớ vẩn đó chàng khỏi bị hốt.


Các vị sư được nhốt riêng, không cho thăm nuôi. Chàng lo việc tiếp tế cho đám cư sĩ, đặc biệt là món canh miến, cái món mà chàng nghe nói cụ Mao rất thích trong suốt chặng đường dài dặc Vạn lý trường chinh… Như mật hiệu đã định trước, Sơn và Long khi nhận cà mèn canh bao giờ cũng phải nhớ cào tận cặn để tìm cho kỳ được một mảnh giấy quyến vấn thuốc hút, gói trong ni lông cực mỏng, có ghi những lời khai mà các bạn phải đọc kĩ để khi tụi nó lấy cung, phe ta trả lời cho hợp nhau.


Anh Sáu thì đã chuẩn bị sẵn một bộ đồ bà ba đen để chuẩn bị vào tù, nhưng mãi không thấy công an bắt lên nhà lao. Anh thấy trong lúc anh em lâm nạn mà mình vẫn không hề hấn gì thì tự lấy làm rất ăn năn. Thỉnh thoảng, ông Tất cũng lệnh xuống trại giam cho anh Tùng về thăm con cái, anh Hoàng thì vẫn đi dạy bình thường.


Thái độ của Tỉnh trưởng Tất rõ ràng muốn tách Đảng phái khỏi Phật giáo, coi Quốc dân đảng Quảng Ngãi như nơpa, càng làm các anh Diễn Hoàng, trừ Tùng bực tức. Thủ lãnh tăng ni Phật giáo và các nhân tố tích cực như các Thượng tọa Giải Hậu, Hồng Ân, ni sư Như Huyền, cư sĩ Thái Sơn, Nguyên Long, Nguyễn Văn Bảng sau đó ít lâu đều được đưa bằng trực thăng lên nhốt ở Pleiku.


Một ban Phật giáo thuần túy được bày ra lo chuyện chuông mõ cho một số tín đồ gốc công chức tới lễ bái trong không khí hiu hắt ảm đạm của đầu mùa mưa bão Ất mão tại miền Trung.


Sông Trà Khúc mênh mông nước loáng, bao nhiêu rêu rác từ thượng nguồn lênh đênh trôi về càng làm cho cái số kiếp phiêu bồng của cảnh vật và con người u ám thêm.


Một buổi tối, trong không khí ngột ngạt bế tắc, chàng vào chùa Hội Phước gần nhà hỏi tin tức về các thầy thì gặp một người đàn ông trung niên, được bà già đang công quả ở đó gọi là anh Sáu.


Anh đã năm mươi, người đẫy đà, trong câu chuyện thỉnh thoảng chen tiếng Tây.


– Situation này nghiêm trọng rồi đó. Chắc là ông Diệm sẽ ra đi thôi. Nhưng vấn đề sau đó là gì, chúng ta phải chuẩn bị. Tôi nghĩ, phe đảng anticom dù phân rã nhưng sẽ chia nhau nắm quyền sinh sát ở một số địa phương, cụ thể Quảng Trị: Đại Việt, Huế: nhóm người Phật giáo từng hợp tác với Pháp, Mỹ, Quảng Nam, Quảng Ngãi: Quốc dân đảng. Người Phật giáo chơn chánh nên tranh thủ mọi cái để giữ được vai trò trong một thế chiến lược lâu dài của nhân dân, nói chung là neuter.


Chàng nhìn nước da ngăm ngăm đen của anh, thấy lạ hoắc vậy mà anh quay sang chàng nở một nụ cười rất dễ mến, nói như người thân thiết đã lâu:


– Như thầy Một đây (anh biết rất kỹ chàng thứ mười một), dạy học được học trò thương, mấy anh em ruột đều là trí thức có tiếng trong tỉnh. Thầy Diễn tuy không thích Cộng sản nhưng thực chất thầy là người xã hội, đã tìm hiểu những chủ nghĩa tiến bộ từ những năm đầu bốn mươi. Cái làm cho thầy xa kháng chiến, phải kể tới sự vụng về của cán bộ Việt minh sau khởi nghĩa. Từ tiếp thu ít lâu, thầy tham gia quần dài đen chống ông Diệm, thực chất mà nói chưa làm gì có hại cho phía Cộng sản.


Anh ngừng một lát, chậm rãi:


– Thầy Một không biết tui đấy, chớ tụi tôi thì phục thầy lắm. Con tôi là thằng Dũng học Việt văn đệ ngũ với thầy bảy năm trước, nay đang theo Y khoa Sài Gòn. Nghe nói ở trong đó nó cũng đang hăng hái xuống đường và đã bị bắt.


Chàng sướng nở mũi, nhưng đếch nhớ được có cậu học trò nào tên Dũng những gần chục năm xưa. Dù sao có học trò cũ sắp ra bác sĩ cũng đủ oai rồi. Nên chàng ậm ờ nói mò:


– Phải là thằng hồi đó da rắn chắc, cũng ngăm ngăm, dễ thương không? Ủa, sao nghe nói ba nó tập kết?


Chó ngáp phải ruồi, chẳng dè lời đoán ẩu của mình làm anh Sáu hốt hoảng:


– Làm gì có, tui chẳng đi theo phe nào, ở tận Tịnh Kỳ, gần Sơn Hà, hồi giờ buôn quế, cũng là đệ tử thầy Giải Hậu đây, nghe nói thầy bị bắt, hôm qua mới xuống thăm.


Chàng tự nhiên có cảm tình với ông này:


– Vậy lâu lâu, anh Sáu ghé đây chơi, có ý kiến gì hay anh giúp cho, quý thầy và các anh em nòng cốt bị bắt cả rồi. Quốc dân đảng không, Phật cũng chưa thuần thành. Chỉ có chút lòng.


Anh Sáu cướp lời:


Hồi chiều, có mấy đạo hữu tới đây. Họ nói thầy Một có làm mấy câu thơ, để coi tôi có nhớ không… mà đây rồi:


Là kẻ đam mê nhưng nhút nhát,


Vì tôi biết, giữa cuộc đời bão cát


Tôi chỉ là cây sậy buổi thu sang


Thân xác xơ, cành lá úa vàng


Đâu kham nổi mưa sa gió táp


– Vậy là thầy bi quan. Diệm áp bức dân. Dân nhứt định sẽ nổi lên chống lại. Dân đông đảo lắm, đâu phải lẻ loi mình thầy mà lo? Tôi thì việc buôn bán, lui tới thất thường. Cái chút lòng mà thầy vừa nói đó là cái quý nhất. Cần nhất đấy, không có nó con người coi như bỏ đi.


Anh nhấn mạnh. Thốt nhiên, chàng đã biết ông này là ai rồi, dù hai bên chẳng nói ra. Phe ông Cẩn vô tới Quảng Ngãi, lập tức nhiều cán bộ thương nghiệp kháng chiến biến thành quân gia nhà Ngô, sốt sắng lãnh việc kinh tài buôn quế, khoác áo thiện chí Quốc gia mà hoạt động.


Bấy giờ, thằng Cu em, con thứ hai của chàng đã học vỡ lòng, thầy dạy là anh giáo Cư bên nhà. Anh này đỗ Rime xưa, thợ may, vừa làm nghề vừa trông coi mấy đứa trẻ trong tổ ngũ gia liên bảo. Cu em trắng trẻo, thắng sơ mi trắng, quần short xanh, đi giày ba ta, tóc chải ngược, mắt đen láy, đẹp như một thiên thần. Một hôm Kem đi học về, khoe:


– Má ơi, tụi nó nói con là hoa khôi con trai trường thầy Cư.


Mẹ nó hỏi:


– Vậy ai là hoa khôi con gái?


– Con Nguyên!


Ba nó thắc mắc:


– Nguyên nào?


Mẹ nó bảo :


– Con ông Ngâm làm trên Tòa tỉnh.


Hôm sau mẹ nó đi chợ, gặp bà Ngâm kể lại chuyện. Cả hai cười vui. Bà cho biết thầy Cư làm mật vụ cho Diệm, thầy là đảng viên thời chín năm có con tập kết.


Cuộc chiến cài răng lược bắt buộc một hình thái phi chính phi tà trong xã hội. Từ ấy, mỗi tối đi ngủ, chàng đóng kín mít các cửa sổ, nhiều đêm thao thức. Mỗi khi có tiếng xe jeep đỗ trước nhà chàng không giấu hết nỗi lo âu. Kể từ cái đêm súng nổ tấn công chùa chiền, nay đã hơn hai tháng. Trong chờ mong, sao mà thời gian đi chậm thế? Chỉ còn trông cậy vào ông thần BBC. Ông loan tin: Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu phản đối Tổng thống Diệm, từ chức, cạo đầu đi tu, cha bà Ngô Đình Nhu là đại sứ Trần Văn Chương ở Liên hiệp quốc cũng không chịu nổi những lời điêu ngoa báng bổ của con gái, phái đoàn Liên hiệp quốc điều tra về việc đàn áp Phật giáo đã tới Việt Nam.


Bà Nhu chu du thế giới giải độc, nhà ngoại giao lão luyện Cabot Lodge tới Sài Gòn. Còn Đài phát thanh rỉ tai của nhân dân thì hư có thật có, nào trên cây đa gần dinh Gia Long có con yêu, nửa đêm nó xõa tóc trêu khách bộ hành, vú và ngực để trần trắng muốt, to bằng cái mâm lớn, nào anh em ông Nhu Diệm cãi vã nhau, nào hồn ma ở Đài Phát thanh Huế tối mùng một nào cũng hú lên đòi mạng thật ghê rợn, nào ông tướng Tôn Thất Đình, nghĩa từ của ông Diệm được cử làm Tổng trấn đô thành Sài Gòn.


Mọi người cầu xin Trời Phật cho ông Diệm mau đổ mà ổng cứ ngồi hoài. Trước ngày lễ Tử sĩ (fête des morts), chàng dẫn thằng Vân về Thi Phổ cúng ông bà chút hoa quả. Khi trở lại thị xã, thấy bà con ai nấy nhốn nháo ngơ ngác mới hay Sài Gòn lại có đảo chánh. Nhưng rút kinh nghiệm lần trước, sợ lại hố, ai cũng im lặng, không tỏ thái độ gì ra mặt. Mãi sáng hôm sau, khi Đài Phát thanh Sài Gòn loan tin tổng thống và người em trai đã bị bắn chết mọi người mới nhảy cỡn lên vui sướng.


Mở bia ăn mừng. Rồi thôi, ở tỉnh lẻ, lấy cớ phải ngăn ngừa Việt cộng, người ta ban hành quân luật. Hình ảnh ông Diệm bị hạ xuống băm vằm, đốt. Từ đây tới thằng bé con chăn bò cũng gọi ông bằng thằng Diệm, thằng Nhu, con Lệ Xuân cho đã miệng.


Ở Quảng Ngãi, thằng Tất của thầy Trí Quang được thay thế bằng một trung tá: Lê Trung Tường, lại cũng người Huế.


Theo lời người đầy tớ gái, Hiệu trưởng khóa cửa buồng riêng khóc, trường học tạm nghỉ mấy ngày. Mãi khi Tỉnh trưởng mới gọi lên, truyền:


– Mở cửa cho đến khi có lệnh mới thì học trò mới đi học lại.


Tại Sài Gòn, xuất hiện một Hội đồng Quân nhân cách mạng gồm những người từng đi lính đánh giặc thuê cho Pháp trước đây, sau 1954 họ trở mặt thờ Mỹ, hầu hạ Diệm và được cất nhắc, bây giờ đều là những tướng cả rồi, đổi rượu sâm banh ra wishky, ăn Hamburger và nhảy Rock.


Tội nghiệp cho những người tri thức như anh Trần Hoàng, anh Sáu Diễn. Mấy ảnh cứ nghĩ là để thay thế một ông quan Nam triều phong kiến, gia đình trị thì trong bàn cờ chính trị mới, thế nào Mỹ cũng dùng tới trí thức Quốc dân đảng.


Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học, của người tân học đầy nhiệt huyết, của không thành công cũng thành nhân, của một Nhất Linh nhà văn, nuôi lan thanh ngọc, đã phải uống độc dược quyên sinh nhằm khỏi bị Diệm mang ra xử ở tòa, bỏ lại một đám anh em ngơ ngác, tủn mủn từng nhóm.


Không một ai trong số các anh từng làm qua cái chức tổ trưởng dân phố chớ đừng nói là lãnh đạo. Tam dân Chủ nghĩa mà các anh chọn làm mô hình cũng không thực tế như Tôn Trung Sơn, sau khi bôn ba nhiều năm ở Mỹ, Nhật về. Qua chuyện trò, chàng thấy trong óc tưởng tượng của các ảnh như một thứ xã hội thời Nghiêu Thuấn trong sách, ai có tài thì cử lên làm, không cần có lương, các tận sở năng, các tận sở nhu, nói chung rất gần với lý tưởng Cộng sản. Vậy mà cứ khăng khăng là chống Cộng, oái oăm quá, một ông thì tính hay nói thẳng, hài hước pha chút cay độc, cán bộ Việt minh không thích, một ông thì nhiệt tâm, nóng nảy, không chịu sự giả dối của ông chú họ, đi làm cách mạng kiểu lý hương, được thời thế trao quyền cho thuở 1945, dù cả hai đều học rộng, siêng năng, có lòng. Nhưng thiên hạ kỳ thực đã ở cái thời hạ ngươn của dượng Tám.


Cái gì đến, đã đến. Ông Dương Văn Minh làm chủ tịch Hội đồng Quân nhân cách mạng và ông Nguyễn Ngọc Thơ làm Thủ tướng. Ở cái địa phương Quảng Ngãi nhỏ bé này, đảng phái mọc lên như nấm, Cần lao cũ biến thái thành Nhân chủ, Đại Việt phân chia làm ba, bốn nhánh, Hà Thúc Ký, Nguyên Tôn Hoàn, Đặng Văn Sung… Quốc dân đảng Kỳ Bộ Trung Việt, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, Chủ Lực… thi nhau gây thế lực, tranh giành đảng viên và tranh thủ cảm tình của các tướng tá gốc Lê dương thậm chí nói xấu, ám sát lẫn nhau.


Được thả về từ Pleiku, Sơn nhanh chóng đến ở hẳn trong chùa và dốc sức tổ chức lực lượng gia đình Phật tử. Học trò công kênh hoan nghênh anh như thần tượng. Vô cùng nhạy bén, anh tổ chức cho học sinh diễu hành vào Tòa Lãnh sự Mỹ ở trong nội thành Quảng Ngãi cảm ơn Hoa Kỳ đã ủng hộ phế truất nhà Ngô.


Viên Lãnh sự khôn ngoan lắm. Ông nói đại khái đây là việc nội bộ của người Việt Nam. Sau đó, Sơn cho học trò mit tinh lên án chế độ cũ và lập Ban Đại diện học sinh, góp tiền ủng hộ những chiến sĩ đã có công lật đổ Diệm - Nhu. Chàng học hỏi Sơn thái độ rất ngang hàng đối với người Mỹ. Sơn nói:


– Toa biết không? Bao giờ tụi mình cũng phải tỏ ra là même pied với đám mũi lõ đó. Thực sự chúng cũng chẳng hơn đếch gì chúng mình. Dân da vàng, nhiều đời bị áp bức khốn khổ, sinh ra tự ti. Ngay đối với những anh trong nước đang cầm quyền sinh sát như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, thì cũng chỉ là những kẻ học hành dở dang, đi lính cho Tây kiếm sống, rồi sống lâu lên lão làng.


Ở trong quân đội Lê dương đánh nhau với bộ đội Cụ Hồ thua chạy tét đít, khiến tớ phải đầu hàng, thế mà rồi cũng thành quan. Đối diện với chúng, cứ xem chúng như nơ pa thì ta mới chủ động và tính toán được. Vả, mình có phải là quân gia của lũ chúng đâu mà sợ.


Điều Sơn nói cũ và đơn giản thôi, nhưng đã mở ra một lối nhìn mới, quan trọng trong phần đời còn lại của chàng. Năm ấy chàng ba mươi hai tuổi.


Hiệu trưởng thấy bộ sậu Cần lao vẫn vững như bàn thạch, bèn mon men đến gặp trung tá Tường, bí mật vận động trong hậu trường, nhằm bám giữ chức vụ cũ. Rủi ro cho ông, phe địa phương dò biết được, thế là một cuộc xách động quần chúng tố cáo Cần lao bùng nổ. Học trò bao vây tư thất hiệu trưởng hô vang khẩu hiệu: Đả đảo Cần lao, Đả đảo tay sai ác ôn Nhu Diệm và để khỏi bị chụp mũ Cộng sản, họ hoan hô cả Hội đồng Quân nhân cách mạng! Hiệu trưởng vì thế bắt buộc phải từ chức. Có bằng cấp cao nhất và niên trưởng, anh Sáu được cử Xử lý thường vụ hiệu trưởng, một chức vụ mà chỉ có người rất thật thà mới chịu nhận trong tình hình bấy giờ ở địa phương. Nhưng từ đó, trong trường cũng như ngoài nhân dân hình thành một trận tuyến vô hình giữa hai nhóm đối đầu nhau: nhóm Quảng Ngãi và nhóm Huế.


Nhóm địa phương được đồng hóa với Quốc dân đảng độc tài. Tất nhiên, trong nhà trường thì nhóm Huế có đa số áp đảo vì phần lớn giáo sư dạy ở đây đều là người ngoài ấy. Hai bên kiện cáo nhau đủ điều, mạnh bên nào bên nấy kêu gọi bãi khóa. Nhóm Huế thì gốc Gia đình từ 1946 đã sớm theo Tây sống nhờ đi lính và làm công chức cho Pháp nên nhân thân đều là ông nọ bà kia từng thét ra lửa. Không ở Sài Gòn, Huế thì cũng tại các địa phương tỉnh lẻ trong chế độ cũ. Nay, qua một đêm ngon giấc, tỉnh dậy họ nhanh chóng hoan hô cách mạng, lại làm quan cầm cân nẩy mực mà chấp đơn xét xử.


Nhóm Quảng Ngãi ít hơn, cô thế. Ít lâu sau, quả có tướng Trần Văn Đôn đi kinh lý Quảng Ngãi. Ông này dân Tây, cao lớn như Tây, tiếng Tây rành hơn tiếng Việt, cha làm bác sĩ. Trước ông từng học võ bị Saint Cyr. Đến cái thị xã nhỏ bé này, ông được tỉnh trưởng tổ chức sẵn một số học sinh lên tận sân bay nghênh đón như một người hùng giữa hàng ngàn cờ bay và áo nữ sinh đi trắng lốp đầy đường. Sau khi làm việc ở Tòa tỉnh, ông được vị nhân sĩ Thị Ẩn khả kính mà ta từng gặp trong đầu truyện này đón về mời cơm tại quán ăn ngay nhà mình đường Phan Bội Châu.


Số là hai người con gái của nhân sĩ đã quá tuổi đào tơ vẫn còn khá mởn. Ông đã cò mồi cho cậu Cẩn bắt Trần Hoàng và Phạm Viết Tùng tám năm trước. Nay cậu bị giam rồi, chẳng mấy chốc ông dựng lại ngọn cờ Quốc dân đảng chống Diệm rực rỡ huy hoàng trong phòng, cải tạo tiệm bán sách hiu hắt trở thành một nhà hàng ăn Deluxe tỉnh lẻ.


Hai bóng hồng con gái ông thướt tha lại thu hút bao chàng trai sĩ quan, cả tướng tá nữa. Câu chuyện đã trở thành đề tài cho nhà thơ trào phúng của cái địa phương đầy quái nhân này ứng khẩu mấy câu:


Thuở trước em làm gái bán văn


Bây giờ úp bát mở hàng ăn


Cho nên việc Trung tướng Phó chủ tịch Hội đồng Quân nhân cách mạng Trần Văn Đôn đến nhà Thị Ẩn, người ta bu lại xem đông nghịt, khiến cả một đội cảnh sát phải được điều tới xua đuổi cũng là chuyện thường. Cho nên không bao lâu sau ngày kinh lý của phái đoàn thì có lệnh về cho anh Sáu nghỉ chức quyền hiệu trưởng và một người học trò cũ của anh, người địa phương thay làm Xử lý thường vụ. Cuộc khủng hoảng tạm lắng dịu. Tuy thời gian điều hành công việc chưa bao lâu, anh Sáu cũng đã đủ cơ hội xin cho một người học trò cũ của anh là Phạm Huệ, đang dạy ở Bình Tuy về trường Trần Quốc Tuấn, Quảng Ngãi. Mẹ Huệ là em ruột Thủ khoa Trần Phan và Cử nhân chót Trần Tuân, người đã bị lột lại mũ áo cân đai chỉ vì trong bài thi viết nhầm miếu hiệu vua Tự Đức từ Dực Tông Anh Hoàng đế ra Anh Tông Dực Hoàng đế. Vì không có con trai, từ vài năm trước trong cảnh già cô đơn của mình cụ tú Tuân hay ra tỉnh ở chơi với chàng. Đồng cảnh ngộ với cụ, có cụ tú Nguyễn Đóa ở Nghĩa Hành, hai già một trẻ.


Cụ tú Nguyễn Đóa văn chương mẫn tiệp, tự chấm lấy số tử vi của mình, thấy rằng mạng không quyền, lộc lại gặp cô quả nên thất chí, chỉ thích rượu chè ngâm hoa vịnh nguyệt. Kì thi nào cụ cũng lều chõng vô Bình Định. Sau khi nhập vi, cụ chỉ chuyên làm bài mướn cho người ta lấy tiền ăn chơi. Theo thể lệ xưa, người nào đỗ Nhị trường trở lên thì chẳng những được miễn sưu dịch, mà còn được cấp phần công điền nhiều hơn dân thường, nên cụ luôn được mướn làm bài thi khá đắt hàng.


Hai cái tâm hồn già cả, sinh bất phùng thời, lưu lạc đó, cộng với một người trẻ là chàng, cháu ngoại quan thủ khoa, thầy học thời xưa của cả tỉnh, không nói ai cũng biết, tình cảm họ trìu mến nhau tới đâu. Chàng không giỏi rượu nhưng cũng ráng nhâm nhi chút ít cho hai người bạn vong niên vui. Buổi tối sau khi cơm nước xong, họ lên cái gác gỗ lộng gió nhà chàng ngâm thơ xưa. Ông tú ngâm một câu thì chàng ứng khẩu dịch ngay câu đó, khiến tâm hồn họ ngày càng quyện lấy nhau. Cho đến cuối đời, chàng vẫn thấy đây là giai đoạn mà tình bạn làm chàng hạnh phúc nhất.


Cụ tú Tuân ngâm:


Thủy lưu hoa tạ lượng vô tình


Tống tận Đông phong đáo Sở thành


Hồ điệp mộng trung gia vạn lý


Đỗ quyên chi thượng nguyệt tam canh


Cố viên sơ động kinh niên tuyệt


Hoa phát xuân thôi lưỡng mấn sinh



Ngũ Hồ yên ảnh vị thùy tranh?


Chàng ư ử ngâm dịch theo ngay:


Hoa trôi nước chảy thảy vô tình


Theo gió Đông đưa tận Sở thành


Trong giấc điệp mơ, nhà vạn dặm


Trên cành quyên hót, nguyệt ba canh


Vườn xưa tiếng cuốc luôn năm biệt


Xuân dục trên đầu tóc bạc nhanh



 Ngũ Hồ khói sóng, ấy ai dành?


Lần đó ông tú khoái chí đến nỗi nằm ngủ chung với chàng, ông không gãi đùi mình lại cào sang người chàng, sáng ra bắp vế đỏ rần cả lên. Họ cùng kể lại, cười với nhau thỏa thích. Còn cái người tài hoa tú Đóa, từ quê vợ chàng Hành Thiện bốn bề núi che, khi đi ngang qua bức cổ thành nơi chôn nhau cắt rốn, lòng cảm khái vô hạn:


Trải bao gió dập tuồng dâu bể


Mà vẫn gan liền với nắng mưa


Sau này, chàng đổi vô Sài Gòn dạy học, hai ông tú đã tiễn chàng bằng một bài Đường luật, mà hai câu kết chàng nhớ đời:


Giáo dục tiền đồ, quân đắc ý


Lưu liên thán ngã vị thùy giao!


Hỡi hai cụ tú mến thương! Cháu ra đi nào có vui vẻ gì, chẳng qua dòng đời xuôi ngược phải chiều theo số phận mà thôi. Từ ấy họ không còn duyên tái ngộ nữa, mãi khi chàng được tin thì hai cụ đã ra người thiên cổ.


Karma nhiệm màu chỉ cho chúng ta gặp nhau có thế, chúc hai cụ ngủ yên miền Cực lạc, nơi có con chim Bằng cánh xòe ngàn dặm che kín cả một vùng trời và con cá Côn quẫy tung bọt trắng xóa đến muôn trượng biển Bắc, cùng đám lau lách ngàn năm bạc đầu canh thức cho các cụ, những kẻ không có tuổi già và không bao giờ chết trong lòng chàng.


Lại hãy nói về Huệ. Huệ nhỏ con, khi nói hai hàm răng khít rịt, rất thông minh, là học trò cũ và không biết từ lúc nào, trở thành đồng chí của anh Sáu, nhưng trên hết Huệ là bạn của chàng. Mới ra dạy được chừng một năm, chưa dành dụm được gì, Huệ còn phải gánh trên vai một lố kêu bằng chú, cậu đang đi học. Theo gương Bảo Thúc với Quản Trọng, chàng thông cảm và luôn giúp Huệ. Dĩ nhiên, Huệ xếp hàng vào cánh Quốc dân đảng trí thức Trần Hoàng, đầu tiên là để có đối tượng đấu đá và nói cay cú, khôi hài thâm độc chơi.


Hồi học Sư phạm Sài Gòn, Huệ có một người yêu, Bắc di cư, Phật giáo, ở đường Bà Lê Chân. Cuộc tình kéo dài nhiều năm, mà cho đến khi về quê nhà Huệ vẫn độc hành. Vua Gia Long, trong nhận xét về một số địa phương được ghi trong Đại Nam Nhất Thống Địa Dư Chí của Trịnh Hoài Đức có ngự phê về Quảng Ngãi: Quảng Ngãi đa nghĩa nhân. Vinh dự thay, Quảng Ngãi có nhiều người nghĩa khí. Nhưng nhà vua chưa sát một điều: Quảng Ngãi ít khi có tới hai người cùng chịu phục nhau. Người đầu tiên Huệ không thích là Nguyễn Nghĩa Thục. Thục lớn hơn Huệ nhưng sau đình chiến mới lại tiếp tục bút nghiên nên lại thành cùng lứa. Cả hai ở bên bờ của cái khúc cuối cùng con sông Vệ nhỏ bé mà một nhà thơ trẻ Quảng Ngãi, Trần Thuật Ngữ đã tả rất hay:


Cuối khúc sông buồn tôi lớn khôn


Tuổi trôi con nước bỏ xa nguồn.


Huệ ở An Chuẩn, quê của Lê Văn Tỵ, vị thống tướng duy nhất của chế độ Cộng hòa ở miền Nam. Còn Thục ở Long Phụng, nơi nổi tiếng trù phú ngang với Thi Phổ qua câu tục ngữ: Công điền Thi Phổ, công thổ Long Phụng, nhiều nhà giàu, nhiều người đi học.


Vậy Huệ đã nhập Quốc dân đảng, Trần Hoàng thì nhất định Thục phải có một thứ Quốc dân đảng nào đó để hoạt động đối địch lại.


Cùng ở tù Côn Đảo với Thục năm 60 có Võ quê Tư Nghĩa, ít học, da ngăm đen như một chiến sĩ dãi dầu sương gió, người cao to như Thục và tính tình thẳng thắn. Thục dựng Võ thành ngọn cờ Quốc dân đảng thứ hai ở Quảng Ngãi, với đặc trưng nông dân, cách mạng thứ thiệt.


Phe Trần Hoàng nhiều trí thức nhưng già cả, chậm chạp và thận trọng, được tầng lớp trên coi trọng và kính nể. Còn phe Võ trẻ trung, gốc nghèo khổ, ít học, nói là làm, giao thiệp với tướng tá cựu Côm măng đô thì đủ sức đối ẩm, uống rượu như hũ chìm, chửi thề không ngượng miệng. Việc gì cần bạo hành đối với đám dân chúng mà Hoàng thường xem là phải thận trọng thì khi được Mỹ và chính quyền giao cho, là Võ ra tay ngay không thương xót.


Nên, Quốc dân đảng Võ dù mới thành lập vẫn nhanh chóng thắng thế. Bối cảnh chính trị địa phương hình thành theo cái thế, tỉnh trưởng, quận trưởng là sĩ quan đạo Phật, xã trưởng và chỉ huy địa phương quân ở cơ sở thì hai phía Quốc dân đảng này, ai có thế lực ở khu vực nào, làm lãnh chúa khu vực nấy.


Phí Việt minh mạnh nhất, tuy chưa lập chính quyền công khai, nhưng kiểm soát hầu hết vùng gần núi, nhất là vào ban đêm.


Ba cánh (hai Quốc, một Công) đem quân đánh lẫn nhau. Lính chính quy của Việt Nam Cộng hòa có Trung đoàn 51 biệt lập đóng ở Ba Gia do một trung tá Quốc dân đảng từng tham gia đảo chính Ngô Đình Diệm thất bại chạy qua Phnompenh bảy năm trước với Nguyễn Chánh Thi, nay mới trở về, vừa được bố trí ra cầm quân chống Cộng gần cái nôi của du kích Ba Tơ này: Trung tá Phan Trọng Chinh, cháu Tướng Phan Trọng Tuệ ngoài Bắc.


Chinh người nhỏ con, được tiếng là trong sạch nhưng thích văn nghệ và tử vi bói toán, ham đàm đạo nho nhã với đám nhà thơ tỉnh lẻ hơn luận bàn binh thư.


Còn phải kể thêm Lực lượng Dân vệ của các xứ đạo Công giáo lớn như Bầu Gốc và các nhóm vũ trang của nhánh Cao đài truyền giáo Trung kỳ đang gom các gia đình tín đồ ở Bầu Giang, lập nên một khu định cư rất lớn, được USAID[1] Mỹ ủng hộ rất nhiều, từ vật liệu xây dựng cho tới áo quần, thuốc men.


Phe Võ dần dà làm lành và khéo léo thu phục các nhân vật Cần lao đồng thời gây cảm tình với tướng tá, phút chốc đẩy nhóm Trần Hoàng thành một đám trí thức salon yếu thế, dù nhóm này vừa có thêm một cựu tỉnh trưởng Quảng Ngãi năm 1954, con một thế gia, đỗ tú tài Tây, cùng ở tù Ngô Đình Diệm với Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu trở về tham gia: Phạm Đình Nghị.


Trong ê kíp của Trần Hoàng, Huệ là mưu sĩ số một. Nhìn cảnh xuống dốc của phe ta, Huệ bàn với cán bộ, nhà thơ Vũ Quang Bình:


– Đồng ý là ta có nhiều anh em học thức, là ta đã có tổ chức chống Diệm từ 1954, khi Diệm mới về. Vậy thì ta phải làm nổi bật hai ưu điểm đó lên.


Bình, nhà thơ có cái tên nói lái là Vũ Quỳnh Bang, vốn từng than thở: Đời hết chuyện rồi, đọc sách ngâm thơ, bỗng trở nên hài hước:


– Vậy thì theo ý Phệ Hoạm (nói lái tên Phạm Huệ), mình nên cố vấn cho Tùng, Hoàng cái gì?


– Dễ ợt, trước tiên phải bắt chước Tào Tháo nói láo. Trận Xích Bích ổng có 83 vạn quân mà xưng lên tới trăm vạn. Ta bây giờ, với lá bài Phạm Đình Nghị bị Việt minh bắt giam năm 1945, vậy cứ coi như đã có cái Tỉnh đảng bộ Quốc dân đảng này từ hồi đó đi, để coi 45, …63 đến nay đã mười tám năm. Phải làm lễ Đại hội thật to để biểu dương thanh thế.


Bình nhiệt tâm, kéo ghế toan đứng dậy: – Thôi, để tớ chạy tới bàn với ông Hoàng.


Huệ vịn vào vai Bình ấn xuống:


– Hãy khoan đã nào. Quảng Ngãi ta vốn trọng nghĩa, thích văn nghệ. Nhóm ông Tùng, Hoàng, Diễn hồi giờ vẫn theo Nhất Linh, thần tượng này còn nằm trong lòng tiếc nhớ của đám học sinh, trí thức. Nhân danh tuy niệm Nhất Linh thu hút cỡ vạn người lên sân vận động, mời tướng Thi ở Quân đoàn I vô, bà Nguyễn Tường Tam, ông Phan Quang Đán, giáo sư Nguyễn Thành Vinh… từ Sài Gòn ra, thân nhân có, chính khách có, trí thức có.


Lâu nay, cánh Võ tuyên truyền là phe ông Hoàng chỉ lơ thơ mấy anh trí thức mất mùa, giờ thử chứng minh một cách hùng hồn sức mạnh quần chúng của ta đi. Có điều, tay lãnh sự Mỹ ở trong thành không mấy thích hạng học thức gốc Pháp của mấy ổng…


Huệ cố chậm rãi và cuối cùng dừng lại.


Bình sốt ruột: – Vậy thì sao?


– Cũng không khó gì. Đây là lúc sử dụng Nguyễn Thái Sơn: nhờ anh ấy vào nói trước với tay lãnh sự là mấy ông Tùng, Hoàng, Diễn tuy học Tây nhưng không chống Mỹ.


Bình cực kì hoan hỉ:


– Mày thực là Gia Cát tái thế. Tao không vô đảng điếc gì, nhưng thấy cái đám thằng Võ, Thục lộng quá, tao ghét. Lại vốn cùng quê với anh Hoàng, mà còn dạy học chung với nhau từ hồi Lê Khiết mới mở ở Liên khu Năm, rồi cùng không ưa Diệm mà trở thành thân nhau.


Hồi ông Nhất Linh tự tử, Huệ còn ở Bình Tuy. Trước ngày đi chôn ông, Huệ gần Sài Gòn hơn, biết được rõ thời gian, bèn đánh về Quảng Ngãi cho thầy Diễn một điện tín quái lạ. Điện tín thì bằng Quốc ngữ, câu kéo lại chữ Hán, như sau:


Nhất vũ vu, xa chuyển luân, cận thời Thiên chúa nhật.


Mấy ông Tùng, Hoàng không ai biết chữ Hán, phải cho người xuống hỏi chàng. Chàng coi kĩ rồi nói: Nhất vũ vu, hai chữ vũ vu ghép lại là chữ linh, Nhất Vũ Vu là Nhất Linh, ý bức điện nói xe tang Nhất Linh chuyển bánh vào Chủ nhật.


Anh Tùng nói: Chắc của thằng Huệ rồi. Có người hỏi: Huệ là đứa nào? Hồ Anh Triết, Thẩm sát viên Cảnh sát đã bí mật tham gia Quốc dân đảng từ mấy năm rồi, nhân vật dạn dày nghiệp vụ, giơ cái bàn tay phải sáu ngón của mình lên, xác quyết:


– Đích là ông nội đó rồi, mưu kế và hay chơi chữ lắm.


Tháng Mười âm lịch Quí mão 1963, miền Trung mưa bão lớn. Nhưng khi giới trí thức nghe nói là hai ông thầy cả trong tỉnh, là thầy Hoàng, thầy Diễn tổ chức truy điệu Nhất Linh, học trò các trường Trung học khắp nơi đổ về tham dự như nước, kéo theo phụ huynh họ và những Phật tử, những kẻ hiếu kì, dù đen dù vàng, áo mưa đủ màu đứng chật ních cả sân vận động.


Giữa cái rét buốt của gió heo may và cơn mưa mù, cũng có một số người áo tơi nón lá từ miền núi xa xôi như Ba Tơ, Trà Bồng lặn lội xuống. Đấy, những âm vang mà tác giả Đoạn TuyệtĐời Mưa Gió đã để lại trong lòng người dân Quảng Ngãi đãi ra sạn trong thời đại này. Người ta có thể không phục Nhất Linh trong cuộc đời chính trị của ông, chàng nghĩ, nhưng văn chương nghệ thuật và cái chết ông tự chọn để đánh thức những trái tim, đối lại trước sự tàn bạo của Ngô Đình Diệm thì thật tuyệt hảo.


Cho nên khi anh Trần Hoàng đích thân nhờ chàng viết hộ bài văn tế để đọc trong buổi lễ thì chàng vui vẻ nhận lời, sau khi hỏi đùa:


– Đảng của anh đang hồi Chấn hưng (Chấn hưng là tên hệ phái Quốc dân đảng của anh). Viết bài này anh trả công tôi bằng cái chức Hiệu trưởng trường Trần Quốc Tuấn được không?


Anh cũng chẳng vừa gì:


– Cậu thì ta biết tỏng rồi, sống như mơ, mê thơ và gái đẹp, ta đang làm chính trị mà cũng muốn giải nghệ theo cậu đó.


Rồi anh cười ha hả, ai biết đâu anh nói chơi hay thật?


Cựu học sinh Trung học Trần Quốc Tuấn, cán bộ Đào Đức Nhuận lại áo rộng xanh, khăn đóng quì xuống trước bàn lộ thiên, khói hương nghi ngút, trên trời vần vũ mây mù, đọc bài văn tế mà chàng đã soạn cấp tốc trong đó có mấy câu:


Vốc nước suối mài gươm tráng sĩ, rừng đa mê che mắt quân thù


Góp hương rừng nuôi khí hạo nhiên, hồ Than Thở siết tay đồng đội.


… Tuổi Bính ngọ, sáu mươi chưa giáp, vợ con còn đó, anh em còn đó, ngậm ngùi thay non Thái núi Sa.


Năm sáu ba trùng thất vội đi, văn hữu tìm đâu, chiến hữu tìm đâu đau đớn bấy, hạt châu mưa xối…


Vậy mà cũng có nước mắt rơi đầm đìa, cùng sụt sùi với mưa than gió khóc buổi đầu đông.


Chàng thấy Hướng Dương đang cầm khăn lau những giọt lệ lăn xuống má. Nàng khóc cho Nhất Linh chăng? Không, nàng khóc cho chính nàng. Nàng mới làm đám cưới mấy tháng trước, đang mang bầu thì chồng nàng bị bắt đi lính, và đã ngã xuống ngoài bìa rừng Dê, Sơn Tịnh, giữa những cây sim bạt ngàn hoa tím mà thuở bé chồng nàng thường cùng bạn nhỏ ra đào dế, bắt chim.


Còn ông Diệm hay không, cuộc chiến vẫn tồn tại gây tang tóc cho bao người. Nhìn người yêu đội mảnh khăn xô trên đầu, chàng nhớ cái màu xanh cỏ non năm nọ trên đỉnh đồi Thiên Ấn, bất giác cũng thấy nước mắt mình thấm ra làm nhòe hết mọi thứ từ đám cờ quạt ngổn ngang tới những câu hoan hô đả đảo vang trời.


Phải, chỉ có tình yêu, tình yêu không cưới hỏi, không xác thịt, không có mái nhà, mâm cơm và những đứa con can thiệp vào thì mới tồn tại mãi, luôn trong sáng và thơ ngây, như cái cành khế non vườn cũ, như những làn nước bạc của cơn lụt đầu mùa của nàng Nhụy, nàng Liên ngày xưa và của Hướng Dương bây giờ.


Sáng hôm sau, tại rạp Kiến Thành, giáo sư Trần Hoàng, veston cà vạt tử tế long trọng đọc diễn văn khai mạc Đại hội 18 năm tỉnh Đảng bộ Quốc dân đảng Quảng Ngãi. Giáo sư Nguyễn Diễn và Phạm Đình Nghị nghiêm nghị ngồi ghế chủ tọa đoàn. Bỗng bên ngoài nghe có tiếng huyên náo, mấy người phụ trách trật tự nhìn ra thì thấy một đoàn diễu hành khác, đồng phục đen Dân vệ mang cả liên thanh và súng trường, đông ước cả ngàn người, trương vô số cờ đỏ với ngôi sao trắng giữa một vòng tròn xanh. Họ giơ cao những khẩu hiệu và hô: Đả đảo Trần Hoàng và đồng bọn mạo danh Quốc dân đảng! Tình hình cực kỳ căng thẳng.


Hồ Anh Triết nhanh chóng triển khai lực lượng Công an ứng phó dàn ra bên ngoài. Chỉ cần một cú cướp cò vớ vẩn nào đó thì cũng sẽ đưa tới một cuộc khai hỏa khốc liệt của ngần ấy súng ống võ trang.


May thay, trong số quan khách hàng đầu dự lễ khai mạc có vị tỉnh trưởng. Ông ta nhanh chóng hiểu ra rằng, nếu xung đột đẫm máu nổ ra thì trách nhiệm sau cùng sẽ đổ lên đầu ông. Lực lượng hai bên toàn là những xạ thủ có cỡ, và đều thuộc địa phương quân và dân vệ mà ông là chỉ huy cao nhất.


Diễn viên vẫn tiếp tục, tiếng vỗ tay được tổ chức trước từng chặp một vẫn ngắt quãng như muốn vỡ hội trường. Tỉnh trưởng hùng dũng đứng dậy, vuốt ngay ngắn hai chiếc hoa mai bạc đính trên ve áo, lẳng lặng tiến ra cửa. Thoáng thấy ông, phe Võ tung hô ầm ĩ:


– Hoan hô Trung tá Tỉnh trưởng, hoan hô Trung tá Tỉnh trưởng!


Từ từ tiến đến bắt tay người điều hành biểu tình, ông hô nghiêm một cách dõng dạc. Một sĩ quan cận vệ chìa ngay cho ông ống loa cầm tay.


Ông nói:


– Nhân danh Tỉnh trưởng, Chỉ huy trưởng các lực lượng võ trang: nghĩa quân, địa phương quân, dân vệ… tôi ra lệnh cho tất cả lập tức trở về đơn vị. Quân đội là của Nhà nước, không thể công khai mang nhãn hiệu của bất kì Đảng phái nào. Ra lệnh.


Thế là cờ quạt xếp lại, đoàn biểu tình xẹp xuống như cái bong bóng lợn xì hơi của thằng Hạm hồi nhỏ. Tuy bị dẹp một cách bất ngờ và biết rõ là Tỉnh trưởng có thái độ cứng rắn như vậy vì có sự hiện diện của cụ Phạm Đình Nghị, đám người này gỡ gạc bằng cách trên đường giải tán, họ cố đi ngang nhà cụ Nghị và nhà Huệ, hô vang: Đả đảo Phạm Đình Nghị, địa chủ phong kiến, đả đảo Phạm Đình Nghị, đại chủ phong kiến, đả đảo Phạm Huệ, Cộng sản nằm vùng.


Không trực diện đối đầu nhau ban ngày thì người ta bắn giết nhau ban đêm, những cuộc ám sát xảy ra như cơm bữa, phe nào cũng đổ cho Cộng sản là thủ phạm, tất nhiên không phải chỉ có bàn tay của hai phe Quốc dân đảng mà còn có cựu dư đảng Cần lao, mấy nhánh Đại Việt. Công giáo và Phật giáo cung cấp đảng viên và thế lực cho họ.


Đại bộ phận dân chúng vẫn mải lo cái ăn cái mặc, lượm phân, trồng lúa bắp, nuôi heo, bầy gà hay buôn thúng bán bưng, mặc cho Quân đội và Đảng phái tung tác trên số phận họ. Ai chạy được thì cũng như chàng tìm mọi cách trốn quân địch. Con em vẫn cắp sách đến trường. Tôn Thất Hòa, Huỳnh Ngọc Hiến, hai người học trò cưng nhất của chàng đã đỗ tú tài I hạng Bình, người ban Toán, người ban văn chương và đang theo lớp đệ Nhất. Những sáng Chủ nhật, họ hay tới nhà chàng, như hai môn đệ ngày xưa, luôn mong được truyền tâm ấn, cùng thầy đàm đạo khi chính trị, khi văn chương, lúc nào cũng phảng phất cái mùi khoa học và triết học.


Hiến hỏi:


– Đạo cảm thông, không thể nghĩ bàn, câu đó tới đứa con nít mới tới chùa cũng biết. Thưa thầy, vậy Phật giáo cũng là một bất khả tri luận chăng?


Chàng rót một chum trà, ôi! Cái thứ trà Đài Loan Thiết Quan Âm kỳ chủng này thơm quá. Chàng cố chậm rãi để có cái giải đáp mà anh Tú này chấp nhận được:


– Vận tốc tức thời của một động tử trong phương trình f(x) là lim của tỉ delta Y trên delta X lúc delta X tiến đến zero. Khi mẫu số bằng không, phương trình vô nghiệm. Vậy mà luôn luôn con người có thể tìm được tốc độ. Thầy có mấy câu thơ:


Ai thắc mắc cảnh đời thực mộng


Tôi đêm dài nằm đọc đạo hàm


Mẫu số bằng không là kim chỉ nam


Nghiệm có đấy mà luôn luôn giả thiết.


Giữa sự kiêu ngạo của con người, tự cho là với trí óc vô địch của mình, bằng logic, chúng ta có thể nắm bắt mọi thứ. Nhưng lòng khiêm nhượng của những đạo sĩ, dù đã đắc pháp qua vô lượng kiếp, vẫn phải vòng tay khấu đầu thụ nhiệm Karma.


Theo thầy cảm nhận được, giữa bất khả tri và khả tri phải có một đường biên Asymtote một cách biện chứng. Ở vô cực của đường biên này, hai bên sẽ gặp nhau, như là, theo lý thuyết, khi tới xã hội Cộng sản, chính quyền phải giải tán đi vậy. Nhưng muốn qua sông, phải có thuyền. Các bạn biết đấy, Phật dạy: Độ giang khí thuyền.


Hai người học trò nhìn thầy lòng rưng rưng. Chàng nhìn tờ lịch: đã gần hết tháng Chạp 1963.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info







[1] Chữ viết tắt theo tiếng Anh: Cơ quan đầu tư phát triển Mỹ (TX).


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 18.06.2018
Trại súc vật - George Orwell 13.06.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.06.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 11.05.2018
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 07.05.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 07.05.2018
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 07.05.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 20.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
xem thêm »