tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18984313
25.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế Cuộc đời và sự nghiệp (13)

Vãn học MIÊN THẨM


Lời nói đầu (Tự tự)


Trương Đăng Quế


Lúc nhỏ, tôi thích làm thơ, song không có thầy dạy. Không đầu đuôi không qui củ chi cả, gạp việc hứng thú, xúc cảnh sinh tình, tôi làm thơ cốt thể hiện cái tình thật của mình, chứ không mong lưu danh để tiếng.


Lớn lên, tôi theo đòi cái học cử nghiệp, đi du học ở kinh sư, rồi thi đỗ Hương tiến, được tuyển sung trực học, dần dần được tiếp xúc, làm quen với các quan trong triều. Rồi thì, hoặc những lúc rảnh rỗi sau giờ giảng dạy, hoặc những khi họp mặt tiệc tùng dưới mái nhà Nghiệp(1) hoặc những buổi cùng nhau chuốc chén trên dòng sông Khúc(2), hoặc tiễn đón người đi, hoặc gặp gỡ bạn bè, thì người xướng kẻ họa, cùng nhau đẽo gọt mài dũa, truy tìm tận gốc, chắt lọc cho ra cái cốt lõi. Nhờ đó mà sành sỏi thơ văn của các danh gia qua các triều đai; từ thời Tấn, Ngụy, lưỡng Hán trở về trước, tôi đều khảo sát cẩn thận, không để sót một bài nào.


Ban đầu, tìm hiểu các phép tắc, các tiêu chuẩn của tác gia, rồi bàn luận phân tích, tôi nhận ra rằng, chung qui không ngoài hai chữ tánh linh. Cho nên làm thơ, nói cho cùng là không nên nương tựa vào cửa nhà người khác. Ý nảy ra là viết liền, chưa nói chi đến chỗ cao sâu, nhưng được cốt cách riêng, phảng phất cái tinh thần chủ yếu của ba trăm thiên Kinh Thi vậy. Tuy nhiên, tùy lúc tùy nơi, khi làm khi bỏ, chỉ còn giữ lại một phần, viết trên các tấm phiếu cất giữ trong rương, chưa cho ai biết, cũng chưa từng đặt tên. Hai lần phụng mệnh đi công cán Nam Kỳ, Bắc kỳ, những khi hành trình nhàn hạ, cũng có lúc ngẫu hứng làm thơ đề vịnh, cho thư ký chép thành tập nhỏ. Ông Phan Mai Xuyên(1) làm việc ở Nội các, ngẫu nhiên đọc qua, cho rằng có nhiều bài hay, thích mà viết cho lời tựa. Nhưng tôi vẫn để đó, chưa vội vàng gì, rồi dần dần quên bẵng đi. Thời gian sau đó, ít có cơ hội cấu tứ, lúc rỗi tôi cũng làm đôi bài thơ ứng chế, nhưng cũng chẳng quan tâm khéo vụng, hay dở.


Tùng Thiện công, hoàng tử thứ mười triều vua trước, là người hiếu học, giỏi thơ, không sách nào không đọc tới, lại là người có chí phong nhã. Tôi thường bàn về thơ văn với ông, cũng như với ông Mai Xuyên, ít khi bàn với ai khác nữa. Riêng Tùng Thiện công có vẻ hợp tính tôi, nên những khi nhàn rỗi, chúng tôi thường bàn luận chuyện cổ kim, nhận định chuyện được mất, bàn về thể cách văn từ, cùng những điều lý thú, thảy đều mổ xẻ đến nơi đến chốn, quán triệt đến chỗ huyền vi.


Vả lại, Tùng Thiện công là người học rộng tài cao, là đại gia chốn kinh kỳ; mỗi lời, mỗi chữ đều được người ta chuyền nhau, ai cũng xem ông là tay cự phách. Suốt bao nhiêu năm qua trên đất nước nầy, chưa từng thấy có ai được như vậy. Tôi với Tùng Thiện công vốn biết nhau qua văn chương, rồi nhân trong một ngày nhàn hạ, cùng nhau bên song vân nơi trướng hồng xuân muộn, hỏi đến tác phẩm trước kia của tôi, rồi gia công biên tập, lược bỏ đi nhiều, chỉ giữ lại phần chính yếu, làm thành bốn quyển, cho khắc mộc bản để in ra.


Tôi lấy nhan đề là Học văn dư tập, có nghĩa là “dùng cái sức dư để học văn”(1).


Thế cho nên, viết mấy lời đầu sách nầy để thuật lại những sở đắc học thơ văn của đời mình là như thế, và như tôi đã nói từ đầu là không có ý mong truyền lại.


Tự Đức năm thứ mười, cuối xuân Đinh Tỵ.


DUYÊN PHƯƠNG THỊ


QUẢNG KHÊ TẨU TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ


TRƯƠNG QUẢNG KHÊ TIÊN SINH THI TẬP


Quyển 1.


Biên tập: Miên Thẩm (Thận Minh)


THỂ NHẠC PHỦ


HẬN LẦU XANH


Hoa dương đương bắt mắt,


Hoa đào lại tốt tươi.


Nhan sắc thật ngắn ngủi!


Già lụ khụ liền thôi!


Ai cũng vậy cả.


Có tay ăn chơi tuổi còn trẻ,


Đây đó Tràng An khắp mọi vẻ


Hình dung phong thái thật dễ thương


Mà bạn đồng tâm đâu có dễ?


Lầu son gác tía, đời bông lông,


Ngập ngừng bao lời, không vẫn không


Mỗi tối chong đèn ngồi trước kiếng,


Tự cho nhan sắc vẫn tươi hồng.


Vấn tóc điểm tô đổi dung mạo


Gá với gió xuân đâu chịu lép!


Chàng xem có phải đẹp hơn hoa.


Ai chẳng thích chơi với hoa đẹp?


Lời bình: Tựa bài “Thanh lâu oán”, đối tượng chủ đề là các cô gái lầu xanh. Thế mà trong bài tác giả dùng các từ thiếu niên, du đãng tử… có vẻ như là tác giả đang nói về một chàng thanh niên. Lầm đấy! Ngay bài thơ tiếp sau đây tác giả dùng từ thiếu niên đối vối cô gái bị người tình ruồng bỏ khi nhan sắc không còn. Hơn nữa, trong văn học ngày xưa, chữ “tử” được dùng chỉ cho cả nam lẫn nữ, những người trẻ trung. Vả lại, trong câu 15, “giá dữ xuân phong…”, chữ “giá” bộ nữ, nghĩa là lấy chồng.


LỜI NGƯỜI PHỤ NỮ BỊ RUỒNG BỎ


Xưa thiếp đương xuân thì


Hai ta tình tương tri,


Thề trăm năm sum họp,


Vui sướng, còn nói chi!


Nay nhan sắc vừa suy,


Là lúc chàng bỏ đi.


Muốn nói mà không được,


Gặp nhau đâu dễ gì!


Chàng như tùng trên núi,


Một tấc chẳng du di,


Thiếp phận thuyền phiêu bạc


Trôi nổi, biết làm gì?


Đêm ngày mãi suy nghĩ.


Nỗi niềm cùng ai nhỉ?


Những tưởng bỏ mà đi


Đi đâu? nào biết chi.


Cách nhau đâu mấy dặm!


Mà như tận chân trời.


Chàng làm cao cố chấp,


Thiếp còn biết làm chi.


Lời bình: Thơ văn các cụ ngày xưa phần lớn sa vào các vấn đề to lớn, ít chú ý đến những thân phận nhỏ nhoi, đời thường như hai bài trên đây. Ít lắm, Đỗ Phủ có bài thơ nói về anh lính trở về quê sau chiến tranh, Tùng Thiện vương có bài thơ nói về người nông dân đi bán tre (Mại trúc diêu), đều là tuyệt tác cả. Thơ của Duyên Phương đúng như Tùng Thiện vương viết trong Lời tựa(2) “xót thương những thân phận trái bầu trôi nổi”.


MÙA XUÂN BÊN SÔNG


Đêm qua có mưa nhỏ


Lòng sông sóng gợn mờ


Lòng em xao xuyến bấy


Bên sông bước bước hờ.  (Dịch giả không đề tên)


ĐƯỜNG PHỐ DÀI


Chàng phương phi tài giỏi,


Sao lại cứ ẩn danh!


Tuổi Giáp Thìn có phải?


Chàng thiếp cùng năm sanh.


LỜI RIÊNG


Yêu chàng, không cự chàng,


Chàng lại hay làm giặc


Mọi sự có thể chìu,


Nhưng chuyện ấy cấm ngặt


Bản dịch của Huỳnh Châu


THỂ TỨ NGÔN


RƯỢU


Có rượu có rượu.


Rót đi uống đi.


Mọi người say cả,


Ta tỉnh làm gì?


Mênh mang lòng ta.


Phiêu phiêu tấc dạ.


Ưu sầu uất kết.


Sao không gặp thì.


Ấu thơ côi cút,


Nương tựa nơi anh,


Một sớm dứt áo,


Ra đi cũng đành.


Buổi đầu gặp gỡ,


Không tiện tương tri


Người trong cõi thế,


Nhiều khổ sầu bi


Bồng Lai có chăng?


Đào nguyên thị phi?


Tri âm khó gặp,


Ta nào khác gì!


Bản dịch của Huỳnh Châu


NGŨ NGÔN CỔ PHONG


HỌA BÀI THƠ BÀN VỀ VIỆC LẤY VỢ CHO BẠCH LẠC THIÊN


Lấy vợ như thế nào?


Đạo lý ra làm sao?


Xưa lấy không cầu phú,


Nay không chọn nhà nghèo.


Chất cổ, ta mong muốn


Ý nay, phải bàn nhiều.


Con gái nhà phú quý


Chẳng ai không tự kiêu.


Con gái nhà nghèo khó,


Chẳng ai không hạ mình.


Hạ mình đâu hợp đạo,


Kiêu kỳ hợp đạo chăng?


Nghe ông tính lấy vợ,


Tôi góp ý thật lòng.


Lấy vợ nhà nghèo khó


Tránh vợ Chu Mãi Thần(1) y vợ nhà phú quý,


Phải như Hoàn Thiếu Quân(1).


 


DU HỌC Ở TRÀNG AN


Khi ta rời khỏi nhà,


Nói là đi du học,


Vợ may cho áo mới,


Chị nắm cơm đi đường


Từ biệt ai cũng dặn


Phải nhớ ngủ cho ngon.


Vạn dặm đất khách xa


Cực khổ một thân ta.


Đột nhiên trong một sớm


Dậy trong lòng chí lớn,


Uống toàn rượu Đỗ Khang(2)


Áo Thiên Tôn cho sang(3)


Bạn mới, trang hiệp khách


Cố tri là phú thương


Dạo chơi khắp thành thị


Vui suốt chẳng ngày nghỉ


Ý khí thật mênh mông


Mênh mông mà rỗng không


Than ôi! Ta lo lắm.


Hỏng vì đời lông bông.


 


ĐỂ LẠI CHO CHỊ


Phiền muộn nhiều sinh bệnh,


Chức cao dễ oán thù.


Thương thay bà chị họ,


Vì ta mà âu lo


Ngày ta mới ra đi


Chưa có chức tước gì


Mới thấy lòng chị qúi


Tốt xấu khó hợp hòa


Lòng mỗi người mỗi xa


Làm sao kết nhau được.


Bản dịch của Huỳnh Châu




 


GỞI BÁNH CHO CHÁU BÉ BỐN TUỔI


Xa nhà chưa trọn tháng,


Mãi nghĩ tới cháu tôi,


Gởi cho cháu ít bánh,


Nước mắt không ngừng rơi.


Cha cháu khổ vì nghèo,


Khuyên giải nghèo sao được!


Mẹ cháu mãi lo lắng,


Lấn bấn quá nên đau


Em cháu chưa đầy tuổi,


Nửa bước khó đi đâu.


Ta ở xa cháu lắm,


Nghĩ đến, càng thương thôi


Lời bình: Ngày xưa rất hiếm những bài thơ mến chị, thương cháu như thế. Những suy nghĩ ở đây lại rất chi tiết, rất đời thường, quả là lạ lắm.


GỞI BẠN


Tính vụng nên ít bạn,


Tương tri mình bác thôi


Từ dạo đi trấn nhậm,


Rời quê nhà, kinh sư,


Một mình thân đất khách,


Nhiều hôm chạnh nhớ người.


Cuộc đời quý an thích,


Bác thì chẳng ân cư


Việc tôi đâu được nhàn.


Khoác áo vào, mặc kệ!


Gió chiều se se mát


Mưa chiều rơi lâm thâm


Vợi trông về hướng bác.


Bãi triều chậm bước chân.


Thăm người nghèo vừa xong,


Cùng vợ con một lát,


Lòng vẫn nặng nỗi buồn.


Biết bạn lòng vẫn vậy


Dù xa tình chẳng thay


Xưa nay, đạo bạn hữu


Răn dạy mấy điều nầy,


Quyền quí ta chẳng thích,


Thường nhớ mình bạn đây.


CẢNH ĐI THUYỀN TỪ KINH ĐÔ VỀ QUÊ


Ở Tràng An đã lâu,


Se se gió bấc về,


Dậy trong lòng nỗi nhớ,


Lên thuyền về thăm quê.


Lữ hoài ai không khổ?


Thu hứng đâu đây thôi


Xa xa làn nước biếc,


Mênh mông, mặc thuyền trôi.


Nhấp nhô hoa sóng gợn,


Trời cao muôn vẻ thanh,


Ráng hồng tia nhấp nháy,


Cây xanh và sóng xanh.


Chiều tà biển thật đẹp,


Mây núi lại càng xinh


Gió len khe vách hẹp


Mưa rơi đâu bên chằm


Trên bờ trông buồm chạy,


Trên thuyền thấy đảo đi,


Quên hết đường dài ngắn,


Quên chuyện đời hưng suy.


Cứ bảo không lúc rỗi


Thì đây ngâm vịnh đi,


Trải lòng hay quá đỗi


Nào chuốc chén tương tri.


ĐỘI MƯA ĐI VÀO TRONG XÓM THĂM BẠN, NỬA ĐƯỜNG    TRỜI TỐI BUỒN MÀ VỀ


Mưa dầm dề không dứt,


Thì cũng đi mà thôi!


Trong lòng nghe bứt rứt,


Bạn sống ra sao rồi?


Cổng nhà bạn cài then,


Bạn nằm không ánh đèn.


Buồn đường quan trắc trở,


Chuyện trò càng khó khăn!


Bóng tối sụp xuống rồi,


Lác đác hạt mưa rơi,


Tàng cây vương chút khói,


Vài ánh sao bên trời.


Càng nhắc càng thương quá,


Ngồi chơi đã lâu rồi.


Bần thần trở về nghỉ,


Ngoài trời mưa vẫn rơi.


SÁU BÀI TẠP HỨNG


I.


Ngâm sẵn một bầu rượu,


Là ta riêng có ý,


Sáng chiều nhấp một tí,


Đủ cho người lơ mơ


Khi say thật thú vị


Quên hết mọi nỗi lo


Mình ta tỉnh làm gì?


Thiên hạ đều túy lúy.


II.


Suốt tuần mưa tầm tã,


Quanh vườn thật buồn bã


Trong lòng bao nỗi lo,


Gió thu thêm tơi tả


Suốt ngày quanh trong nhà


Rối bời trong lòng ta


Bên hiên vài khóm cúc,


Sóng cuộn ngoài biển xa.


III.


Bất cứ người thế nào


Ra đời phải tranh nhau


Ta một mình vò võ


Biết mưu mô gì đâu


Mấy lời nhắn thiên hạ


Ta vừa cuộc viễn du


Đến bên nguồn cực lạc


Xem nước chảy rì rào


Phú quý ta không ước


Làm tôi tớ được sao?


IV.


Sớm mai ra trước cổng


Muôn vẻ tươi phô bày


Anh đào xinh mấy đóa


Ngắt một cành hay hay.


Lên cao sầu vẫn sầu


Đường dài biết đi đâu


Chiều xuống quay về lại


Sương rơi ướt mái đầu.


 


V.


Xưa nằm mộng lên tiên


Nhẹ bước Bồng Lai đảo


Gặp gỡ bao nhiêu cô


Mắt sáng trưng diễm ảo


Áo lụa đỏ lộng lẫy


Đón mời thân thật đấy


Ôi! Tiên khác với trần


Lưu luyến làm chi vậy.


VI.


Người xưa trọng kết giao


Ngày nay sao cẩu thả


Ta vốn người quê mùa


Mở lời kém tao nhã


Tu hành ba mươi năm


Thang thuốc đây thuộc cả


Luyện được Thanh lương tán


Bao ưu phiền hết cả.




 


CẢM XÚC NGÀY XUÂN


Đất khách vui được mấy


Một mình, thoảng gió xuân


Sáng sớm đi thong thả


Xem sinh hoạt nhân dân


Lăn xăn người qua lại


Vui vẻ mặt tươi tỉnh


Riêng ta lòng ưu tư


Ngày một thêm chồng chất.


Vườn xưa ven đông nam


Cây cối mọc xanh tốt.


Anh ta còn ở nhà


Đôn đốc việc trồng trọt.


Cháu bé chơi bên cạnh


Hả hê đùa thật thích


Việc chi ta cứ mãi


Ngày đêm ra vào cung


Lụy vì thăng đấu phỏng?


Để hận cái thân danh.


 


HOÀI THU


Việc quan còn thư thả,


Ngồi không nghĩ vẩn vơ


Xem vết người đi trước


Cảm khái chuyện bây giờ


Giữa minh mông vũ trụ,


Trong vô tận việc đời


Tạo vật huyền hoặc quá.


Gió về mát lắm thôi


Tiếng ve ran cảnh vắng


Bên hè đôm đốm soi


Rảnh rơi cùng đêm vắng


Không thấy lòng xa xôi


 


ĐÊM MƯA NHỚ BẠN


Mưa gió mù trời đất


Cảnh viên đình hoang sơ


Leo lắt đèn đêm lạnh


Trống canh vọng bâng quơ


Trăng hạ tuần nhàn nhạt


Mặt nước hồ gợn mờ


Nhớ bạn mà không thấy


Lòng càng thêm chơ vơ.




BỐN THÚ NHÀN


1. Thú Đánh cá


Sông xanh sóng lăn tăn


Rạng đông mờ đất trời


Gõ chèo câu Thương lãng


Theo sóng thả thuyền trôi


Được cá thật vui thích


Ít nghĩ ngợi chuyện đời


Đổi cá lấy rượu uống


Đi về lòng thảnh thơi


2. Thú hái củi


Vừa sáng lên trên núi


Chiều đã về tới nhà


Rau dưa lòng thanh thản


Chẳng lo người ganh ta


Chân dẫm khắp nơi hiểm


Mắt nhìn bao vẻ xinh


Tự thấy ta sang quá


Thị phi gì với mình!


 


3. Thú làm ruộng


Chung sức nhau làm nông


Dậy sớm đi ra đồng


Hát vui cùng chim chóc


Cấy hái ngại công không


Ngũ cốc tùy loại đất


Cỏ dại nhổ sạch xong


Siêng năng, nghèo không sợ


Còn lo chi trong lòng.


4. Thú chăn thả


Vật đều có tính riêng


Phải biết rõ từng con


Sáng dắt ra đồng cỏ


Chiều gom về lại chuồng


Ngày nào cũng như thế


Đừng để lạc một con


Rong chơi cảnh rừng núi


Cười giỡn suốt ngày luôn.


 


NHỚ LẠI CUỘC ĐI CHƠI TRÊN SÔNG


Nhớ cuộc đi chơi trước


Lên thuyền xem cảnh sông


Sông chiều đẹp thích quá


Mặc sóng xuôi theo dòng.


Núi non hiện sắc lạ


Màu xanh mượt cánh đồng


Xa xa ghềnh đá xám


Bọt nước trắng như bông.


Ánh chiều đọng tàng cây


Bãi cát màu thanh bạch


Bơi trong bể hoạn nầy


Ta vẫn phong trần khách.


Lòng ta buồn mênh mông


Tình ý riêng trong lòng


Khi chưa tròn ơn trọng


Sớm chiều thêm bâng khuâng


TẾT ĐOAN NGỌ


Sống lâu ngày đất khách


Xuân đi tự bao giờ


Người bảo tết Đoan ngọ


Sáng dậy ra ngoại ô


Người lấn chen hối hả


Có cô gái hàng hoa


“Răng nỏ mua bông nợ


Ngày tháng mô có chờ?”


Ta cảm thấy ngường ngượng


Mua cô nàng chuỗi hoa


Hương thanh sực nức mũi


Xuân quả thật đã qua


Vấn vương quá bất ngờ


Hè nắng nôi khá rõ


Ta chẳng chút xôn xao


Quang cảnh thật ồn ã


Mua lễ cúng ông bà


Mời chào ta niềm nở:


Ngồi một chắc xụi lơ?


Phải sống răng cho sướng


Khắng túi moi tiền ra


Về treo trên giường ngủ


Rõ nhưng rồi tiệc hoa


Lần chuỗi hoa còn tủi…


Bản dịch Ngô Văn Lại


 


CHUỐC CHÉN TIỄN BẠN


Thuở làm việc cùng ông


Riêng ta hiểu ông nhất


Nay tiễn ông lên đường


Tặng ông khúc đàn cầm


Đàn khúc ca Thương ly


Tiếng đàn nghe sầu bi


Bạn tương tri ngày ấy


Quý tấm lòng tương tri


TẶNG CỐ NHÂN KHI TỪ BIỆT


Năm ngoái ta tạm biệt


Buồn biết mấy bạn ơi!


Năm nay ta gặp lại


Mừng nói chẳng thành lời


Gió lùa ngoài song cửa


Đừng vội đi gió ơi!


 


GHI CHÉP TRÊN ĐƯỜNG CÔNG CÁN


Cuối năm lệnh đi bắc,


Gió bấc thổi càng rét,


Chí trai nào sá gì!


Buông bút khoác nhung y.


Thư sinh chưa trận mạc,


Song từng quan nhà binh,


Mưu chước trong chinh chiến,


Thuật Tôn Ngô phải tinh.


Tướng sĩ ta dũng tiến,


Giặc cỏ chạy trốn tất,


Cơ bản việc đã xong,


Công bố chuyện được mất.


Thổ dân ai chưa hiểu,


Đầu phạm chưa bị gông,


Dùng kế vây chặt núi,


Thử hỏi thoát được không?


Phải tính kế lâu dài


Vừa chống lại vừa xây,


Nên mở đường nhân đạo,


Vỗ về dân ở đây.


Trong vòng có mươi hôm,


Lần lượt giặc ra hàng,


Hung hăng rồi cũng tỉnh,


Một sớm dẹp sạch xong.


Cấm tuyệt lính tham tàn,


Tránh làm khổ nhân dân,


Nhớ lúc ta vừa đến,


Kể sao xiết gian nan,


Đường quanh co, sông suối


Dốc núi chót vót cao.


Nắng mưa mái lá rừng,


Không một chỗ nằm ngủ


Bốn bên núi đựng đứng


Cây cối dàn kín bưng


Chướng khí tỏa ngùn ngụt


Có khi nắng vừa lên


Hốt nhiên nổi mưa gió


Trời đất tối như mực


Suốt đêm tiếng điêu đẩu(1)


Đốm lửa hồng lưa thưa


Ba tháng ròng từng trải


Tóc tai mọc bờm xờm


Thánh triều uy đức khắp


Tận xóm làng hoang vu


Khải hoàn ta rửa giáp,


Cầm bút ghi sự thực.


(còn tiếp)



Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. Nhóm biên soạn: NGUYỄN VĂN CHỪNG, DƯƠNG MINH CHÍNH, LÊ VĂN CÔNG, LÊ SƠN - NGUYỄN VĂN THANH. NXB Văn học. 1-2009.



 



 









(1) Mái Nghiệp: chỉ đài Đồng Tước do Tào Tháo cho xây ở tây nam thành Nghiệp, huyện Lâm Chương, tỉnh Hà Nam, là nơi ăn uống vui chơi của danh sĩ, giai nhân.




(2) Sông Khúc: sông gần Lạc ấp, kinh đô nhà Thương, Chu Công, Tần Chiêu vương thường đi thuyền dạo chơi uống rượu trên sông Khúc.




(1) Phan Mai Xuyên: tức Phan Thanh Giản.




(1) Sức dư: Sách Luận ngữ – thiên Học nhi có câu: “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu dư lực tắc dĩ học văn” (Người quân tử ở nhà thì giữ chữ hiếu, ra ngoài biết tôn trọng người khác, cẩn thận mà tin thật, thương yêu mọi người, gần gũi người có đức nhân, làm được những điều ấy, còn dư sức thì dùng để học văn).


Ở đây, Trương Đăng Quế nói đến đạo làm người của nhà Nho.




(1) Chu Mãi Thần: nhà nghèo ham học, bán củi độ nhật, tay lúc nào cũng cầm cuốn sách.Vợ ông không chịu được cảnh nghèo, bỏ đi lấy chồng khác. Sau ông được tiến cử với Hán Vũ Đế, lập công trạng, được phong chức Thái thú. Mãi Thần gặp lại vợ cũ, muốn giúp đỡ, nhưng người vợ xấu hổ, thắt cổ chết.




(1) Hoàn Thiếu Quân: Vợ của Bảo Tuyên, vốn con nhà khá giả. Ngày vu quy, nàng đem theo nhiều của hồi môn, ăn mặc sang trọng. Thấy chồng không vừa ý, nàng thay áo ngắn vải thô, theo về nhà chồng, hầu hạ cha mẹ chồng chu đáo rất mực. Ai cũng khen là dâu thảo.




(2) Đỗ Khang: Rượu Đỗ Khang ngon nổi tiếng. Tương truyền Lưu Linh uống rượu Đỗ Khang say suốt một năm mới tỉnh.




(3) Thiên Tôn: tức sao Chức Nữ. Ngoài chuyện tình với Tiêu Lang, Chức Nữ nổi tiếng may vá khéo tay. Ao Thiên Tôn do Chức Nữ may thì đẹp nhất.




(1) Điêu đẩu: cái cho bng gang, lính dùng  nu cơm va dùng để gõ cm canh



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
Những đám khói - Võ Phiến 23.03.2017
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
xem thêm »