tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18411488
23.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế Cuộc đời và sự nghiệp (12)

MỘT QUAN NIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SỬ


(Trích) Ưng Trình


Về Thực Lục, chúng ta đã đọc truyện bà Từ Dũ, truyện tên Đoàn Hữu Trưng, và đã phê bình; nay chúng ta muốn nhận thức sự nghiệp của một nhà đại nho, suốt đời đã chịu hy sinh, trước lợi quyền của dân của nước.


Truyện về Trương Đăng Quế, Tuy Lý Vương có tâu với vua Tự Đức rằng:


“Triều Minh Mệnh, chúng tôi theo học với Thân Văn Quyền, sau chúng tôi có thọ nghiệp với Trương Đăng Quế và Phan Thanh Giản. Tối hậu, chúng tôi chỉ chuyện học anh tôi là Miên Thẩm. Bốn nhà này, chưa bàn đến văn thơ, chỉ xét về tư cách làm người, thì mỗi việc làm, mỗi lời nói đều là thước ngọc khuôn vàng; còn về học thức thì rất uyên thâm, từ xưa đến nay, chúng tôi chưa thấy một nhà nho nào như thế ”.


Những lời trên này, có đăng trong tập văn Vỹ Dã, quyển nhất. Vậy thì về Trương Đăng Quế, Tuy Lý vương đã nhận thức phê bình.


Cũng trong tập văn Vỹ Dã, quyển bốn, Tuy Lý vương có làm bài “Thần đạo bi”, trò kể sự nghiệp của thầy, chạm vào bia; nay chúng ta không phê bình gì thêm, chỉ lấy vài đoạn trong bia, cũng đủ.


Tiên sinh người làng Mỹ Khê, phủ Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Từ thuở nhỏ, về văn học, tiên sinh đã nổi tiếng đầu cả miền Nam. Khoa Kỹ Mão (1819) ra Huế thi, khi đi qua Hải Vân quan, thơ tiên sinh có câu, đến nay vẫn còn truyền tụng:


“Cử đầu sơ nhật thượng.


Hồi thủ chúng sơn đê”.


(Nhìn lên vùng ánh sáng, Ngó xuống dãy non xanh). Vùng ánh sáng là tượng trưng có chúa anh minh; dãy non xanh, là nói bạn thanh niên, căn bản tương lai của nước.


Tiên sinh đậu Cử nhân khoa ấy, đến năm thứ 14 triều Minh Mệnh, (1833), tiên sinh đã làm đến Thượng thư Bộ Binh. Về chính trị và kinh tế, tiên sinh là nhân vật duy nhất của thời đại; ngoài Bắc có giặc, vua nhờ tiên sinh ra, trong Nam có bọn phiến loạn ở Cao Miên sang, vua cũng nhờ tiên sinh đối phó.


Đến tháng chạp năm thứ 21 (1840), vua Minh Mệnh vời tiên sinh đến một bên Ngự tháp; lúc ấy tiên sinh tuân mạng, tuyên bố giữa Tôn nhân và Đình thần rằng:


“Hoàng đế ban: Miên Tông Hoàng trưởng tử sẽ nối ngôi”.


Tiên sinh đóng vai Cố mạng Lương thần được vững vàng, là nhờ đã có sẵn uy tín.


Suốt 7 năm triều Thiệu Trị, tiên sinh cầm cán nước, điều khiển cả các cơ quan, từ Bắc đến Nam, lúc ấy nhà nước đương tuyển cán bộ chính trị trong bọn nhà Nho, có ba khoa Điện thí, tức là chọn hạng Tiến sĩ xuất thân, thì tiên sinh làm chức Độc quyển, nghĩa là chấm quyền thế vua, duy tiên sinh là người được giới sĩ phu đều tôn lên bậc thầy, bậc sơn đẩu.


Tháng 9 năm Đinh Vị (1847), vua trao cho tiên sinh bản Di chiếu nhờ phò Hoàng nhị tử Hồng Nhậm kế thống; vậy tiên sinh chịu chức Cố mạng lần thứ hai, vua Tự Đức lên ngôi, mời thêm Nguyễn Tri Phương, Vũ Văn Giải, Lâm Duy Nghĩa, đồng sung Phụ chính.


Năm 1855, tiên sinh soạn xong pho Hội điền, năm 1856, tiên sinh tu chính pho Việt sử; ngoài ra, về chính trị, về văn hóa, nhà nước kiến thiết những cơ quan gì, vua cũng phải nhờ tay tiên sinh tổ chức. Tuy tiên sinh có vạn việc, song khi nào cũng ung dung; người ta đã hình dung tiên sinh bằng một câu thơ:


“Ưu dân như hữu bệnh,


Kiến khách tợ vô quan!”


(Lo cho dân, như dân đương mắc bệnh; khi tiếp khách, thì như người không có một chức vụ gì).


Tiên sinh làm Tể tướng hơn 20 năm. Cung hàm đến Thái sư. Tước phong đến Quận Công, Điện hàm đến Cần Chánh, thế mà ngày tiên sinh về hưu, tại làng chỉ có một nóc nhà tranh, tiên sinh có đề trước cửa ngõ một câu đối rằng:


“Cố quận tự liên vô biệt nghiệp


Thử sinh nguyên dĩ hứa vi thần!”


(Về làng chẳng có cơ đồ sẵn; Giúp nước không màng lợi lộc riêng).


Tiên sinh vẫn tự hào, thường nói với con cháu rằng:


“Nếu muốn có lầu đài, thì ngày xưa ta đã đi làm nghề khác!”.


Dân tộc Việt Nam chúng ta may có Trương tiên sinh đại biểu, trên cõi Đông Nam Á, chúng ta có thể hãnh diện với người. Cả đời công, cả đời tư, tiên sinh tự giữ được hoàn toàn, trong nước cũng như trong nhà, không ai dị nghị gì được nữa.


Tiên sinh có để lại một tập thơ, một tập văn, tác giả tựa đề là “Học văn dư tập”   tác giả cho biết:


“… Ban đầu, tìm hiểu các phép tắc, các tiêu chuẩn của tác gia, rồi bàn luận phân tích, tôi nhận ra rằng, chung qui không ngoài hai chữ tánh linh”.


Mất năm Ất Sửu (1865), năm thứ 18 triều Tự Đức, tiên sinh hưởng thọ 73 tuổi. Cái quan định luận, trong bài Thần Đạo bi, Tuy Lý Vương, vừa là Hoàng tử, vừa là Hoàng đệ, vừa là Hoàng thúc, đã chứng kiến suốt đời, mới dám viết câu:


“Tìm cả ngàn xưa, chưa từng thấy có người như thế ”.


(Cầu chi thiên cổ, duyệt sở hãn kiến).


Trong sách Lữ Khôn có câu: “Ngôn ngữ chi ác, mạc đại ư tạo vu”. Có tổn hại đến danh giá của người đồng thời, hay là người thiên cổ.


Trích
CÔNG VĂN CỦA HẢI QUÂN PHÓ ĐÔ ĐỐC BONARD GỬI THƯỢNG THƯ BỘ NGOẠI GIAO PHÁP.
(EXTRAIT DE LA LETTRE DU AMIRAL BONARD AU MINISTRE DES AFFAIRES ETRANGERES)


Saigon, le 14 Janvier 1863


“… La dernière campagne de 1861, en enlevant les principales forteresses au roi d’Annam, en amenant la destruction de ses armées régulière ainsi que la conclusion et la signature d’ untraité, a complètement changé la face de la guerre, car il ne faut dissimuler que la paix écrite n’ a jamais été loyalement exécutée par la Cour de Hué.


Voyant qu’il ne pouvait résister à une guerre régulière, le Gouvernement Annamite a organisé, ouvertement avant la paix, clandestinement et sourdement après cette époque, sur la surface de la Cochinchine, une insurrection permanente qui a été repoussée partout mais n’a nulle part été dominée, faute de moyens suffisants: c’est un feu qui couve dans la cendre, prête à se rallumer, c’est une cause imminente de ruine, si l’on continue à n’ employer que des demi - moyens pour dominer la situation.


… Il y a à la tête des affaires de Hué et parmi les familles et les hommes influents, deux opinions en présence: le parti des gens sensés, voyant que la continuation de cette guerre ne tend qu’ à ruiner et à désorganiser la Cochinchine, même celle qui est restée sous l’autorité de Hué et à la tête duquel est Phan Thanh Gian, l’un des Ambassadeurs qui, en concluant et en signant le traité de paix, a fait pour ainsi dire la part du fau afin de rétablir l’ordre et la prospérité dans le reste du royaume d’ Annam.


L’autre parti, aveuglé par sa haine pour les Européens à la tête duquel figure le Ministre du Commerce actuel Truong, chargé des relations avec les étrangers, ne quence d’une lutte prolongée et au moyen de laquelle ils espèrent nous lasser, sans s’inquiéter des pertes et des sacrifices.


En ce moment, ce parti semble prendre le dessus: la vie de Phan Thanh Gian est fortement menacée: Je ne m’ étonnerais pas, quoiqu’il soit encore gouverneur des provinces du sud, de le voir obligé de chercher un refuge sur notre territoire.


Le parti hostile à la France se divise en plusieurs catégories, don’t les tendances commencent à se manifester clairrement par leurs actes et proclamations.


Tous s’entendent contre nous, sinon dans le but qu’ils se proposent, du moins pour nous forcer à quitter la Cochinchine.


Quan Dinh, chef de l’insurrection de Go Cong, quoique désavoué publiquement par le Vice Roi de Vinh Long, qui l’a sommé plusieurs fois d’avoir à se retirer pour que le traité de paix fut exécuté, s’y est refusé formellement: il est donc, en apparence en état de rebellion, même le Gouverment de Hué qui lui a donné publiquement des ordres auxquels il a désobéi, mais il est soutenu clandestinement et on lui fait parvenir des armes, des munitions et même des titres et des cachets.


(ASIE, tome 28,Archives du Ministère des Affaires Etrangères Paris)


Dịch:


Saigon, 14 tháng giêng năm 1863


“… Quân đội chính quy của vua An Nam bị đánh tan, các thành trì trọng yếu bị chiếm cứ, đầu mối việc ký kết một hòa ước, chiến dịch cuối cùng 1861 đã làm thay đổi hẳn bộ mặt chiến tranh, vì chẳng nên giấu giếm làm gì thái độ của triều đình Huế không bao giờ chịu thi hành nghiêm chỉnh hòa ước đã ký.


Nhận thấy không thể đương đầu với cuộc chiến chính thức, trước khi hòa bình lập lại, chính phủ An Nam đã tổ chức công khai nhưng bí ẩn và thầm lặng sau ngày ấy, một cuộc khởi nghĩa thường trực trên khắp đất Nam Kỳ. Dầu mọi nơi đều bị đẩy lui, nhưng vì thiếu phương tiện, chúng ta không thể nào dập tắt nổi cuộc khởi nghĩa này, trạng thái rối ren chẳng khác nào khói lửa cháy ngầm vùi kín dưới lớp tro, sẵn sàng bùng lên. Đó là một nguyên nhân gây đổ nát khó tránh được nếu người ta cứ tiếp tục chế ngự tình thế bằng những biện pháp nửa vời.


“… Hiện có hai dư luận đối lập chi phối tình huống chính sự ở Huế giữa các dòng họ và những nhân vật quyền uy: một phe gồm những người thức thời nhận định rằng nếu chiến tranh cứ tiếp tục kéo dài thì chỉ gây đổ nát và rối ren trật tự ở Nam Kỳ, kể cả vùng đất còn thuộc triều đình Huế kiểm soát. Đứng đầu phe này là Phan Thanh Giản, một trong các sứ giả thương nghị và ký hòa ước, đã chịu hy sinh để lập lại nền trật tự và thịnh vượng trên phần đất còn lại của vương quốc An Nam.


Phe kia, mù quáng vì sẵn lòng thù ghét người Tây phương tiêu biểu là Trương Đăng Quế đương kim Thượng thư Bộ thương mại giữ trọng trách giao thiệp với người ngoại quốc. Họ chẳng chịu cân nhắc những nguy khốn gây ra bởi cuộc chiến trường kỳ, mà còn hy vọng dùng phương tiện quấy rối khiến chúng ta mỏi mệt chán nản chẳng cần e ngại bao tổn thiệt và hy sinh.


Hiện thời, phe này dường như lấn át phe kia. Mạng sống của Phan Thanh Giản bị đe dọa nguy kịch. Mặc dù ông ta còn làm Kinh lược sứ các tỉnh miền Nam, tôi, vẫn sẽ không ngạc nhiên khi thấy ông phải xin lánh nạn trong lãnh địa của chúng ta.


Phe thù nghịch với Pháp chia thành nhiều nhóm mà xu hướng của họ bắt đầu được minh chứng rõ ràng qua lắm hành động và tuyên ngôn.


Họ nhất quyết chống lại chúng ta, nếu không nhằm mục đích định sẵn, thì ít ra cũng buộc chúng ta phải rời khỏi Nam Kỳ.


Quản Định cầm đầu cuộc khởi nghĩa Gò Công. Mặc dù Kinh lược sứ Vĩnh Long đã chính thức công kích hành động này và nhiều phen khuyên ông ta rút lui để tiện thi hành hòa ước; ông ta đã nhất quyết cự tuyệt. Như vậy, bề ngoài ông ta ở vào thế phản nghịch, chống lại mệnh lệnh của triều đình Huế ban ra, nhưng sự thật ông ta được khích lệ ngấm ngầm và được cung cấp khí giới quân nhu, luôn cả chức tước và ấn tín nữa”.


Tạp chí Á châu tập 28, văn khổ Bộ Ngoại giao PARIS


Người dịch: Trương Quang Gia


VUA TỰ ĐỨC LÀ CON AI?


Quốc Thái


Đã nhiều năm qua, một số sách báo tạp chí trong và ngoài nước đã đưa ra nhiều nghi vấn xung quanh nguồn gốc tông tộc của vua Tự Đức. tuy khác nhau ở các chi tiết, nhưng chúng đều thống nhất với nhau ở một số điểm: Tự Đức không phải là con trai của vua Thiệu Trị.


“Dư luận đương thời cho rằng Trương Quang Đản (con Trương Đăng Quế) là con vua Thiệu Trị, còn Tự Đức mới là con của Trương Đăng Quế tư thông với bà Từ Dũ” (Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 1991).


Ông Paul Gally, một giáo sĩ Thiên Chúa giáo, viết ngày 15-1-1852:


“Ông Quế, vị Thượng thư đầy quyền lực ở triều đình đã cướp ngôi của Hồng Bảo để dành cho con rể của ông là Tự Đức”.(YOSHIHARU TSUBOI – Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa – Ban KHXH thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 1990).


“Theo lời truyền khẩu, vua Tự Đức là con Trương Đăng Quế thông dâm bà Từ Dũ”. (Giặc chày vôi – Nguyễn Quang, tạp chí Phổ Thông số 32, Sàigòn, 15/4/1960).


“Tương truyền rằng Hồng Nhậm (sau này là vua Tự Đức) là con Trương Đăng Quế, lúc bấy giờ là một quyền thần rất có thế lực tại triều, lại là chồng của một bà công chúa em vua Thiệu Trị, nên xuất nhập bất cấm ở cung điện nhà vua. Nhân dịp vợ vua Thiệu Trị là Hoàng Thái hậu Từ Dũ và vợ Quế cùng sinh con trai nhằm một ngày, Quế lợi dụng sự bất cấm nói trên để đem con trai mình tên là Trương Quang Đản vào nội (giấu trong tay áo thụng), đánh lộn sòng với con trai vua Thiệu Trị. Trong hàng nội giám và thị nữ trong cung, có người hay chuyện nhưng không ai dám hé hôi vì sợ Quế hãm hại. Có lẽ cũng là một duyên cớ cho Đoàn Hữu Trưng vịn vào đó để mưu lật đổ vua Tự Đức và lập con Hồng Bảo là Ưng Đạo lên ngôi”. (Hoàng Trọng Thược, Tinh thần trào phúng thi ca xứ Huế, 1973).


Vua Tự Đức sinh ngày hai mươi lăm tháng tám, năm Kỷ Sửu (22-9-1829) thuộc niên hiệu Minh Mệnh thứ 10. Lúc đó, Hoàng Thái hậu Từ Dũ độ 15 – 16 tuổi. Vua Thiệu Trị còn đang là Hoàng Trưởng tử, 23 tuổi, đang độ cường tráng thanh xuân, khí huyết phương cương, tràn trề nhựa sống, thương yêu bà Từ Dũ hết mực, và tương lai sẽ lên ngôi vua trị vì thiên hạ. Thế thì bà còn ước muốn cái gì trên đời này nữa mà lại đi thông với một ông quan đáng tuổi cha mình (năm 1829 Trương Đăng Quế 36 tuổi)? Trong thời điểm đó, Trương Đăng Quế còn là ông quan bình thường, chưa có địa vị và tên tuổi gì đáng kể tại triều đình Huế.


Vua Tự Đức sinh ra trong thời kỳ vàng son cực thịnh, đỉnh cao nhất của các vị vua triều Nguyễn. Theo Quốc triều chính biên, Việt Nam sử lược và tư liệu của các sử gia cũng như giáo sĩ thừa sai của Tây phương thì Minh Mệnh là một ông vua chuyên chế, thông minh, cực kỳ nghiêm khắc; rất siêng năng cần mẫn, thận trọng nghiêm túc tối đa trong công việc triều chính và sử dụng nhân sự, việc gì cũng xem xét đến.


Các sử gia Tây phương đã thừa nhận thời kỳ Minh Mệnh là thời kỳ “quân chủ pháp trị”; kỷ luật nghiêm minh, trật tự qui củ, thưởng phạt đâu ra đó. Dù là hoàng thân quốc thích, nếu vô phận sự cũng không được lạm bàn việc triều chính; tham quan ô lại, dù là đại thần cũng bị thẳng tay trừng trị. Điển hình là việc nhà vua ra lệnh chặt tay Nguyễn Đức Tuyên, một viên quan tư vụ nội vụ ăn bớt nhựa thơm công quĩ. Tháng tư năm Đinh Hợi (1827), Minh Mệnh đã cho thi hành tức khắc án tử hình viên Chánh án Nam Định là Phạm Thanh và thư ký là Bùi Khắc Khan, can tội tham nhũng (bị chém ngang lưng), tịch thu gia sản phát cho dân nghèo. Tri phủ Nguyễn Công Túy tham tàn phải tội chết. Tri phủ Phạm Thọ, tri huyện Đại An Nguyễn Văn Nghiêm lại làm điều tác tệ, đều bị cách chức cả.


Về mặt xã hội, Minh Mệnh tự soạn và ban hành “Thập điều huấn dịch” để răn đe quan lại và cải hóa dân chúng. Trong 10 điều đó có 3 điều quan trọng hơn cả. Đó là:


Điều 1: Đôn nhân luân: Trọng tam cương ngũ thường.


Điều 8: Giới dân thắc: Răn giữ những điều dâm dục gian tà.


Điều 9: Thận pháp thủ: Cẩn thận mà giữ pháp luật cho nghiêm minh.


Vậy thì, sống trong môi trường và xã hội đương thời, dưới bàn tay khắc nghiệt “sắt máu” của một ông vua chuyên chế như Minh Mệnh, cho dù tình yêu không phân giai cấp và tuổi tác, dù là bị “tiếng sét ái tình”, thử hỏi liệu bà Từ Dũ, một cô gái xuân xanh (con gái quan đại thần Lễ bộ Thượng thư Phạm Đăng Hưng) lúc vào cung làm vợ vua Thiệu Trị mới 14 tuổi, và ông quan cực kỳ khôn ngoan Trương Đăng Quế kia có dám cả gan phiêu lưu mạo hiểm, vượt Tử cấm thành, qua mặt quan quân, thái giám và tam cung lục viện, để vuốt râu và giỡn mặt với “ông kẹ” Minh Mệnh luôn sẵn sàng ban phát “ân huệ” tru di tam tộc kia không? Đây là điều rất nhiều người lầm, cứ tưởng Tự Đức sinh ra trong thời điểm Thiệu Trị đang làm vua, mà Thiệu Trị lại là người thuần hòa nhu nhược, khiến Trương Đăng Quế dễ dàng qua mặt lộng hành.


Khi vào cung làm vợ vua Thiệu Trị, bà Từ Dũ như chim chích vào rừng. Bà được chính tay đức Thuận Thiên Cao hoàng hậu tuyển chọn cho Thiệu Trị, người cháu “đích tôn” được bà chăm sóc nuôi nấng dạy dỗ từ trong trứng nước. Lúc ấy Thiệu Trị đã chính thức là Đông Cung Thái tử. Vậy thì, tuy không nói ra, ai cũng biết bà Từ Dũ lúc ấy là cái đích “được” giám sát và chiếu cố thường xuyên trong cung cấm dưới con mắt của Cao hoàng hậu và toàn thể thái giám, cung nga thể nữ…


Về phần Trương Đăng Quế, trong các cựu thần nhà Nguyễn, ông là một danh thần được trọng dụng suốt 3 triều đại Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức. Sở dĩ Minh Mệnh đã ưu đãi trọng dụng ông vì ông đã tỏ ra là một bầy tôi lương đống, đã được thử lửa thử vàng nhiều lần về khả năng, đạo đức trên các phương diện hành chính, quân sự, văn học trong suốt 21 năm trị vì thiên hạ của vua Minh Mệnh. Chính các sử gia Tây phương, các tướng tá đô đốc xâm lược và các giáo sĩ thừa sai đương thời cũng công nhận tài ba lỗi lạc trải qua triều vua và suốt mấy chục năm làm quan liên tục đã đưa ông Quế lên tột đỉnh vinh quang.


Về nguồn gốc, Trương Đăng Quế là con thứ Trương Đăng Phác, một viên quan dưới triều Tây Sơn. Bản thân ông Quế đậu Cử nhân năm 1819 triều Gia Long. Việc ông Quế được đi thi rồi được ra làm quan là một ân huệ đặc biệt nằm trong chính sách “chiêu hiền đãi sĩ” của vua Gia Long. Ông Quế là người cực kỳ khôn ngoan, tính tình điềm đạm, cẩn mật, thận trọng, đâu có dại khờ ấu trĩ, đi làm cái việc phiêu lưu mạo hiểm kia.


Một ông vua thông minh, quả cảm và chuyên chế như Minh Mệnh chẳng lẽ lại nhầm lẫn trong việc “chọn mặt gửi vàng”? Cho rằng Minh Mệnh nhầm, chứ chẳng lẽ hai đời vua kế vị là Thiệu Trị và Tự Đức cũng nhầm sao?


Triều đình Huế dưới ba triều đại Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, có các đại thần thanh liêm trung nghĩa như Nguyễn Tri Phương, Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, Võ Trọng Bình, Võ Xuân Cẩn, Vũ Văn Giải… Đó là những khuôn mặt uy tín gạo cội, Trương Đăng Quế làm sao qua mặt và bịp bợm họ được? Ngoại trừ đức vua, họ đâu có ngán ai? Vào thời điểm Tự Đức ra đời, địa vị của Trương Đăng Quế so sánh với các tay tổ đại thần kia thì chưa thấm vào đâu cả. Chẳng lẽ từ vua Minh Mệnh là bá chủ cái triều đình được mệnh danh là “quân chủ pháp trị”, xuống đến vua Thiệu Trị là chồng bà Từ Dũ, và toàn thể quan lớn, quan bé, cho đến các ngự sử đều là bù nhìn câm điếc cả sao?


Những nghi vấn của ông Hoàng Trọng Thược cũng không có căn cứ, bởi lẽ Trương Đăng Quế không có bà vợ nào là công chúa em vua Thiệu Trị. Người lấy công chúa con vua Thiệu Trị là Trương Quang Trụ, con trưởng ông Quế, ông Quế có một bà vợ là Quận Chúa, cô họ vua Gia Long, thuộc dòng tôn thất chúa Nguyễn (chứ không phải công chúa). Trương Quang Đản sinh năm Nhâm Thìn (1833), Tự Đức sinh năm Kỷ Sửu (1829). Thời gian cách xa 4 năm, một người lên 4, một người mới sinh thì ông Quế làm cách nào bỏ vô tay áo thụng để “đánh lộn sòng” (cả hai ông Tự Đức và Trương Quang Đản đều sinh ra trong thời kỳ Minh Mệnh làm vua chứ không phải Thiệu Trị)? Bộ Trương Đăng Quế muốn giỡn mặt tử thần?


Vậy tại sao lại có những dư luận ác ý đương thời gán ghép cho Hoàng thái hậu Từ Dũ, vua Tự Đức và ông Trương Đăng Quế?


Khách quan mà nhận xét, dù sao ông Trương Đăng Quế cũng chỉ là người, không phải thần thánh. Trong nhiều năm ở tột đỉnh quyền uy, dù cho ông có tốt, có trung hậu thanh liêm trong sạch đến đâu, tất không thể tránh khỏi những điều nhầm lẫn do ông vô tình sơ sót, hoặc do thuộc cấp bưng bít che đậy, có thể gây ra ác cảm thù oán với nhiều người.


Triều đại Tự Đức là thời kỳ loạn lạc. Khi lên ngôi Tự Đức mới có 18 tuổi, còn quá trẻ so với một trọng trách lớn lao như vậy. Trong thời gian phụ chính cho Tự Đức, nhiều công việc trọng đại của triều đình do ông Quế quyết định. Tự Đức đã đối xử với ông quá ư đặc biệt, tránh sao cho khỏi sự suy bì ganh tị.


Mặt khác, việc Tự Đức lên ngôi là một “biến cố cung đình”. Vì là trưởng nam mà không được truyền ngôi, nên An Phong Công Hồng Bảo uất ức căm thù, ngấm ngầm liên kết với một phe triều thần và tôn thất để âm mưu phản loạn, chiếm lại ngai vàng.


“… Giữa Hồng Bảo và ông Trương Đăng Quế có một mối thù bất cộng đái thiên. Hồng Bảo thường hay nói rằng, ông bị truất ngôi là tại ông Quế, ông không tiếc gì chiếc ngai vàng để lại cho em, nhưng ông chỉ muốn làm vua một ngày để mổ ruột ông Quế cho hả giận” (trích thư của giáo sĩ Pháp Paul Gally, đề ngày 15-01-1852, đã đăng trong tạp chí Les Annales de la Propagation de la Foi, tập XXV 1853, các trang từ 35 – 38).


Công bằng mà nói, việc oán thù giữa ông Trương Đăng Quế và Hồng Bảo không phải là không có lý. Với danh vị Cố mạng Lương thần, Phụ chính đại thần, dĩ nhiên, khi Thiệu Trị lập di chiếu truyền ngôi cho Tự Đức, chắc chắn có ý kiến của ông Quế. Dưới con mắt của vua Thiệu Trị và ông Quế lúc đó, Hồng Bảo tuy lớn nhưng là con người phóng đãng, cờ bạc rượu chè, ăn chơi trụy lạc, đến nỗi khi vua Thiệu Trị sắp băng hà, các hoàng tử túc trực, chầu hầu bên cạnh, chỉ có Hồng Bảo vắng mặt vì đang ở ca lâu (theo Đại Nam thực lục).


Năm 1864 nổ ra vụ phản loạn của Hồng Tập (cháu nội Minh Mệnh), tiếp đến năm 1866 là vụ phản loạn giặc “Chày vôi” của anh em Đoàn Hữu Trưng âm mưu đưa Ưng Đạo lên ngôi (hai cuộc phản loạn này đều bị dập tắt nhanh chóng và tất cả những người trong cuộc đều bị tử hình).


Những dư luận xấu xa nhằm hạ uy tín của vua Tự Đức và cựu thần Trương Đăng Quế, chắc cũng từ những xung đột và mâu thuẫn trong nội bộ triều thần nhà Nguyễn mà phát sinh ra cả.


ĐÔI ĐIỀU HIỂU BIẾT VỀ TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ


Minh Tú


Trương Đăng Quế trước hết là một nhà yêu nước, ông chống Pháp đến cùng. Trong giai đoạn chống Pháp ông là người đầu tiên đề ra chiến lược vừa đánh vừa đàm, trong điều kiện đất nước ta lúc bấy giờ phải kháng chiến lâu dài thì mới thắng lợi.


Gần đây nhất được đọc bài Vua Tự Đức là con ai của nhà tác giả Quốc Thái trong Bán nguyệt san Thế Giới Mới số 37 – tháng 9-1992. Đây là một bài nhận định khá sâu sắc và chính xác của một nhà sử học có trách nhiệm, ông nhận định:


“Sở dĩ Minh Mệnh đã ưu đãi trọng dụng ông Trương Đăng Quế vì ông đã tỏ ra một bầy tôi lương đống, đã được thử lửa thử vàng nhiều lần về khả năng, đạo đức trên các phương diện hành chính, quân sự, văn học trong suốt 21 năm trị vì thiên hạ của vua Minh Mệnh. Chính các sử gia Tây phương, các tướng tá đô đốc xâm lược và các giáo sĩ thừa sai đương thời cũng công nhận tài ba lỗi lạc trải ba triều vua và suốt mấy chục năm làm quan liên tục đã đưa ông Quế lên tột đỉnh vinh quang”. (Bán nguyệt san Thế Giới Mới, tr.17)


Năm 1851, quân Pháp bắt đầu đánh đồn Gia Định, quân ta chạy lên đóng tại Biên Hòa. Để giải quyết đánh hay hòa, Vua Tự Đức phái Nguyễn Bá Nghi sung chức Khâm sai Đại Thần vào Biên Hòa để quan sát, Nguyễn Bá Nghi viết sớ tâu: “Sự thể Nam Kỳ”. Sớ này Vua Tự Đức giao cho ông Trương Đăng Quế xem, ông đã tâu:


“Người Pháp âm mưu chiếm nước ta, muốn chiếm Gia Định, rồi lại toan lấy Định Tường, sau đó lại Biên Hòa. Nếu ta hòa cũng không xong, trừ việc đánh vừa giữ – thế (ý nói đàm phán), không thể chuyển khác được”.


Như vậy ý của Trương Đăng Quế cùng với ý của Nguyễn Tri Phương chủ trương phải kháng chiến lâu dài.


Tháng 6 Kỷ Vị (1859) năm Tự Đức thứ 7, Pháp đem quân ra Đà Nẵng bắt buộc ta ba điều:


- Một là cắt đất cho chúng;


- Hai là thông thương buôn bán;


- Ba là được phép truyền đạo Thiên Chúa.


Vua Tự Đức hỏi viện Cơ mật, thì ý kiến trên của Trương Đăng Quế cũng rất thoáng và đúng đắn, khác với quan điểm của một số sử gia cho ông là người cố chấp bảo thủ.


Trước tình hình khẩn trương đất nước, để thực hiện chiến lược vừa đánh vừa đàm, với cương vị là Thái sư trong triều đình, ông tâu với vua Tự Đức: Một mặt xin cử ông Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp làm chánh phó phái đoàn thương thuyết với Pháp. Mặt khác thì bí mật cho người cung cấp vũ khí, quân nhu, chức tước và ấn tín cho Trương Định chống Pháp.


Người Pháp biết vấn đề này nên rất căm phẫn ông: Trong văn thư của hải quân Trung tướng Bonard gửi cho Bộ Ngoại giao Pháp ngày 14-1-1863 có đoạn:


“Phe thù nghịch với Pháp chia nhiều nhóm đã biểu thị rõ ràng xu hướng hành động và tuyên truyền. Họ đồng tình chống lại chúng ta vì mục đích: làm cho chúng ta phải rời bỏ đất Nam Kỳ.


Quản Định (Trương Định) cầm đầu cuộc khởi nghĩa ở Gò Công, mặc dù đã bị quan Kinh lược ở Vĩnh Long (Phan Thanh Giản) công khai không thừa nhận và nhiều phen khuyên y nên rút lui để thi hành hòa ước nhưng y đã khăng khăng cự tuyệt. Như vậy là bề ngoài y ở vào cái thế phiến loạn chống lại triều đình Huế, nhưng thực chất bên trong y vẫn được cổ võ ngấm ngầm và được cung cấp khí giới, quân nhu, chức tước và ấn tín nữa.


Những người cầm đầu cuộc kháng chiến ở Biên Hòa đã đưa ra một bản tuyên ngôn (đính theo văn thư này) hiển nhiên là họ theo quan điểm của phe kháng chiến do Thượng thư Trương Đăng Quế lãnh đạo”.


Asie– Archives du Ministère des Affaises Etrangère, Tập 28, Paris.


Người Pháp thực dân rất ghét và không thích ông Trương Đăng Quế vì ông đã chống lại họ đến cùng. Nhiều tài liệu của Pháp viết về ông với thái độ kính nể, nhưng đồng thời cũng có tên rất láo xược, nói xấu ông, gọi ông là “già Quế” (vieux Quou) trong lúc ông đường đường là vị Thái sư đứng đầu hai triều Thiệu Trị và Tự Đức. Trên ngực luôn luôn được phép mang thẻ bài ngọc do Hiến Tổ Chương Hoàng Đế (vua Thiệu Trị) ban tặng có ghi chữ vàng “Cố mạng lương thần”. Vì vậy, dưới thời Pháp thuộc, thời Mỹ tất cả các con đường trong nước không có con đường nào – bọn chúng đặt tên ông – Đó là điều tất nhiên.


Nghiên cứu về cuộc kháng chiến của Trương Định ta cũng thấy rất rõ đứng đằng sau Trương Định là ai. Trương Định có thể chiến đấu lâu dài chống Pháp vì được nhân dân ủng hộ và một điều không thể thiếu là đã có một cái “dù” rất lớn che chở. Cái dù đó chính là Trương Đăng Quế, Thái sư tại triều đình.


Có một điều cần lưu tâm: Ông Trương Đăng Quế và Trương Định là người đồng hương, quê của hai ông – cách nhau một quảng đồng ba cây số. Tác giả văn Phạm Trung Việt người Quảng Ngãi có viết:


“Làng Tư Cung Nam ở Tả ngạn Trà Giang, giáp ranh làng Mỹ Khê của Trương Đăng Quế chính là nơi sinh trưởng của Trương Định (Nơi chào đời của Trương Định, tr. 113). Cha ông Trương Định là Trương Cầm, thời Minh Mệnh đã theo ông Trương Đăng Quế giúp trong việc đi Kinh lý Nam Kỳ năm 1836 được thành công. Nên sau đó được ông Trương Đăng Quế tâu với Vua Thiệu Trị phong cho ông chức Hữu thủy vệ úy tại Gia Định. Hai gia đình có quan hệ sâu xa từ đó”.


Nhưng tiếc thay: Chiến lược vừa đánh vừa đàm đầu tiên và đúng đắn này lại không thành công. Vì sự phản bội. Ông Trương Đăng Quế phải về hưu năm Quý Hợi (1863). Phe kháng chiến trong triều đình tan rã, Trương Định mất một chỗ dựa quan trọng, không thể cầm cự được lâu, đúng một năm sau, năm Giáp Tý (1864) ông Trương Định anh dũng hy sinh. Lại một năm sau, năm 1865 ông Trương Đăng Quế vì buồn rầu mà sanh bệnh cũng đi vào cõi vĩnh hằng. “Để lại một mái nhà tranh đơn sơ như lúc còn thư sinh sau 43 năm (1820 – 1863) làm quan đến chức tuyệt đỉnh của triều đình nhà Nguyễn”. (Ưng Trình “Tùng Thiện vương”, tr. 125).


Chiến lược vừa đánh vừa đàm là một chiến lược sáng tạo và đúng đắn. Nhờ chiến lược này, Đảng ta tiếp thu truyền thống của cha ông lãnh đạo thắng lợi ở hội nghị Genève năm 1954 và hội nghị Paris năm 1972. Đó là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và vai trò lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân quyết tâm kháng chiến đến cùng.


Còn chiến lược vừa đánh vừa đàm của Trương Đăng Quế trong giai đoạn ấy không được vua Tự Đức hoàn toàn nhất trí, thực hiện một cách rời rạc không quyết tâm. Tư tưởng sợ địch lan tràn trong quan lại triều Nguyễn đã mục nát. Mặc dù nhân dân Nam Kỳ giàu lòng yêu nước nhưng vẫn thất bại đó là điều tất yếu.


Vấn đề xây dựng Nam Kỳ và Sài Gòn ông Trương Đăng Quế là nhà tổ chức có kinh nghiệm và đầy tài năng.


Dưới thời Gia Long, Nam Kỳ chưa củng cố được gì, chiến tranh loạn lạc, tranh giành quyền lực, mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, biên giới không rõ ràng… Tất cả những điều trên cũng thấy rõ rất nhiều khó khăn trong việc cai trị của nhà Nguyễn tại Nam Kỳ. Và lòng dân khao khát hòa bình, mong muốn an cư lạc nghiệp. Đến thời Minh Mệnh là thời kỳ mới được chú ý củng cố, xây dựng từ cơ sở.


Đây là một nhiệm vụ quá khó khăn. Chỉ có năm tháng trời, với điều kiện giao thông chưa có gì, chỉ có đi bộ, đi ngựa và đi thuyền thế mà ông đã đi “cùng trời cuối đất”, khắp biên giới xây dựng được địa bạ và đinh bạ cho mỗi thôn xã ở Nam Kỳ. Ông làm quá giỏi, sau này người Pháp phải khen ngợi và thán phục.


Ông Phan Thanh Giản gốc là người Nam Kỳ cũng phải ca ngợi ông trong nhiệm vụ khó khăn này.


Trong cuốn sách “Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh” do nhà sử học nổi tiếng, Giáo sư Trần Văn Giàu làm chủ biên, xuất bản tháng 10-1987 tại thành phố Hồ Chí Minh, là một cuốn sách có giá trị lớn về lịch sử có ghi về công lao của ông Trương Đăng Quế trong việc chỉ huy lập Địa bạ Nam Kỳ.


Trong chuyến đi công cán bằng thuyền, thấy Côn Đảo đẹp, giàu có và lợi hại về phương tiện quân sự, kinh tế, ông tâu với vua Minh Mệnh lập đồn tại Côn Đảo, đưa quân và cho dân ra đảo khai hoang lập ấp giữ đảo. Ông có biết đâu biển hiện nay là cả một kho tàng quý giá của Tổ quốc.


Công lao này thật lớn lao, xứng đáng được nhân dân ghi nhớ.


Trương Đăng Quế còn là một nhà thơ nổi tiếng, bấy giờ với rất nhiều bài thơ hay được truyền tụng lúc ấy.


Khi nhận thấy vua Tự Đức hèn yếu, không thực hiện đúng chiến lược lâu dài, ông thấy trước cuộc kháng chiến sẽ thất bại. Tâm hồn ông không thoải mái, tâm trạng chán nản công danh. Ông đã bộc lộ trong mấy câu thơ trích bài:


XUÂN NHẬT THƯ HOÀI


Ngã kim cánh hà sự


Nhật tịch đồ dinh dinh


Khổ vì thăng đầu lụy


Lưu hận thù thân danh


Tạm dịch:


Ta nay sao cứ mãi


Sáng chiều ra vào cung


Lụy vì thăng đấu phỏng


Để hận cái thân danh.


Bận việc triều đình nhưng tâm hồn ông cũng rất lãng mạn, yêu sông Trà Khúc, con sông quê hương xứ sở của mình, cảm hứng viết lên câu thơ đẹp trong bài:


XUÂN GIANG KHÚC


Tạc dạ vũ thủy hạ


Xuân giang vi lãng sinh


Thiếp tâm hữu sở cảm


Duyên ngạn tự vi hành


Tạm dịch:


Đêm qua có mưa nhỏ


Dòng sông sóng gợn mờ


Lòng em xao xuyến nhớ


Ven sông bước bước hờ


Khi kinh lý Nam Kỳ, ông đi bằng thuyền từ Phú Xuân vào Nam. Qua Quảng Ngãi cố hương, ông xúc động làm thơ đầy tình cảm với những dòng tha thiết yêu quê hương:


THUYỀN QUÁ QUẢNG NGÃI CỐ HƯƠNG


Xuân phong tống chinh nghịch


Thuẫn tức vượt trùng ba


Lộ chỉ có hương qua


Tình huyền du tử da


Không hoài tang tứ kính


Trùng xướng thử miêu ca


Khởi lập thuyền đầu vọng


Dao thôn ẩn bệ la.


Dịch:


Gió xuân, cánh chim biển


Thoáng chốc, vượt sóng trào


Thuyền nhắm hướng quê trẩy


Du tử lòng nôn nao.


Quê nhà thương biết mấy!


Xóm thôn giờ thế nào?


Đầu thuyền, xa chỉ thấy


Quê mình dưới tàng cao


Tùng Thiện vương và Tuy Lý Vương, hai nhà thơ nổi tiếng thời bấy giờ, được ca ngợi:


Văn như Siêu Quát vô tiền Hán


Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường.


Hai ông vô cùng mến phục và đều là học trò của ông Trương Đăng Quế.


Trong cuốn Từ Điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1992, trang 919 có nhận xét rõ về ông:


- Trương Đăng Quế là người cầm đầu phe chủ chiến dưới thời Tự Đức, cương quyết đánh Pháp đến cùng.


- Ông sáng tác văn học rất nhiều. Tùng Thiện vương Miên Thẩm và Mai Am Nguyễn Thị Trinh Thận, Lương Khê Phan Thanh Giản, người đỗ tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ rất kính phục và quý mến về tài văn học uyên thâm của ông.


Qua các sự kiện lịch sử trên, với tinh thần trở về với cội nguồn, chúng ta đứng trên quan điểm lịch sử, nghiên cứu thêm nhân vật này một cách khách quan và nghiêm túc.


Ông là người thật sự có công lao đóng góp lợi ích cho Tổ quốc, cho nhân dân, mặc dù ông Trương Đăng Quế đã phục vụ cho triều đình nhà Nguyễn trong suốt 43 năm trời.


 


Trương Quảng Khê tiên sinh thi tập
(Học văn dư tập)


Tác giả


Trương Đăng Quế


 


Bản dịch:


Lê Sơn Phương Ngọc


 


 


Ý nghĩa “Học văn”
(của “Học văn dư tập”).


Sách Luận ngữ – thiên Học nhi có câu: “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu dư lực tắc dĩ học văn” (Người quân tử ở nhà thì giữ chữ hiếu, ra ngoài biết tôn trọng người khác, cẩn thận mà tin thật, thương yêu mọi người, gần gũi người có đức nhân, làm được những điều ấy, còn dư sức thì dùng để học văn).


Theo Trương Đăng Quế, “Học văn” là hành chỉ của bậc sĩ quân tử, là đạo đức của nhà nho. Sống hiếu thuận, đối xử trung nghĩa, tín thật trước đã, tức là làm xong trách nhiệm theo đạo lý, rồi mới học văn. Nếu không hoàn thành trách nhiệm mà học văn, thì sẽ không được gì. Đức “Nhân” là gốc, văn học là ngọn, xét cho đến gốc ngọn, biết rõ việc trước sau, mới là có đạo đức.


“Người chưa được dư sức mà học văn thì làm mất cả bản chất, nhưng nếu dư sức mà không học văn thì có bản chất mà quê mùa, không thể xét được phép tắc của thánh hiền và không biết lẽ đương nhiên của sự lý, dễ dẫn đến sai lầm. (Chu Hy)


(diễn giải của ND)


 


Lời tựa (1)


của Lương Khê Phan Thanh Giản


Người thời Tống có câu: “Leo núi thì phải lên tới tận đỉnh, thăm một linh tích thì hỏi rõ lịch sử của linh tích”. Người leo núi mà không lên tới tận đỉnh, đi thăm một linh tích mà không hiểu rõ lịch sử của linh tích ấy thì nhất định về sau sẽ hối tiếc, huống chi đối với một công trình sáng tạo đồ sộ như sách nầy!


Tôi vinh hạnh có được cuốn Học văn dư tập của Duyên Phương Trương tiên sinh, vui thích đọc liền một hơi không rời tay. Tôi vốn là người sinh trưởng ở phương Nam, lại tiến thân muộn, chưa từng được hầu các bậc tiên sinh đại nhân. Do học vấn nông cạn, nên làm thơ chỉ tàm tạm, giao thiệp không ngoài một quận một huyện, tầm nhìn không quá một gò đồi một hang núi. Cho đến bây giờ cũng chưa từng được thăm viếng các danh lam thắng tích trong thiên hạ; chưa từng được gặp các nhân vật văn chương đỉnh cao của triều ta.


Khoa Ất Dậu, may đậu Hương tuyển, tôi mới có dịp đến kinh, được tiếp xúc với các bậc hiền sĩ, nhưng chưa học được chút gì cung cách tao nhã của các nhà đại công thần. Lúc bấy giờ, thì tiên sinh là người trên, người trước, làm quan ở kinh đô đã hơn mười năm rồi, danh tiếng nổi như cồn, không sách nào tiên sinh chưa đọc tới, lại đặc biệt sở trường thơ văn. Tại kinh đô, người ta đều bảo rằng tiên sinh là bậc đáng kính, đứng đầu giới tao nhã. Trong những cuộc tương hội của giới mũ áo nơi văn đàn, thì tiên sinh lúc nào cũng làm người chủ trì.


Tôi kính cẩn ngưỡng mộ tiên sinh, mong được ra mắt nơi long môn nhưng chưa có phúc phận. Về sau nhờ có người dìu dắt ra mắt tiên sinh được một lần, được lọt vào mắt xanh, song lúc bấy giờ, thú thật tôi vẫn chưa nhận đúng tài năng sắc sảo của tiên sinh. Chờ đến khi được làm việc ở Nội các cùng tiên sinh, có dịp gần gũi trao đổi, tôi mới thực sự nhận ra cái chí khí to lớn, cái sở học sâu rộng, cái tài năng kỳ diệu của tiên sinh.


 Thời tiên sinh phụng mệnh vua, lo việc đạc điền phân định cương vực ở Nam Bộ quê tôi, một vùng đất mới, công việc đòi hỏi phải hết sức linh hoạt vì tất cả đều mới lạ, không thể cứ câu nệ lấy cách làm thông thường và sử dụng các loại dụng cụ đo đạc cũ mà thực hiẹn suôn sẻ được, lại còn phải quan tâm và đừng gây phiền hà cho dân, thế mà tiên sinh đã hoàn thành chỉ trong vòng có năm tháng! Vả lại, tiên sinh từng trải, nắm vững vùng đất Nam Kỳ lục tỉnh như lòng bàn tay, nhìn xa trông rộng, xác định những nơi hiểm yếu, tâu xin xây dựng thành trì ở Tây Ninh là điều mà tôi tuy là người gốc Nam Bộ, thật tình cũng chưa từng nghĩ tới.


 Thông thường người ta chỉ nếm thử một miếng ăn là biết được đầu bếp nấu ăn ngon, thấy một cái vệt vằn đủ biết cái đẹp của bộ lông con báo gấm. Nếu không phải là người lo trước cái lo của dân, ngay ngáy ưu tư đến việc phòng bị bờ cõi đất nước, thì nhất định không thể làm được như vậy. Thế cho nên, hoàng thượng đã đặc biệt ưu đãi tiên sinh, ban ơn mưa móc lâu dài cho gia đình tiên sinh cũng là việc rất phải đạo mà thôi.


 Nay kẻ đàn em nầy có thể vung tay tự phụ cho rằng mình đã biết thế nào là “chân diện mục núi Lư Sơn”. Nhân được đọc Học văn dư tập  thích quá mà viết mấy lời nầy, để làm lời tựa cho sách.


Minh Mệnh, năm thứ mười bảy (1836),một ngày sau tiết hàn thực


LƯƠNG KHÊ PHAN THANH GIẢN.


(Hàn Lâm viện Thừa chỉ sung hành tẩu Nội các)


Lời tựa (2)


Tùng Thiện vương Miên Thẩm


Người xưa bảo:


 Nghiên cứu học tập lục kinh, quý ở việc đem ra thực hành; tập họp các chữ làm thành câu văn, cốt ở chỗ thể hiện được ý mình muốn nói. Lời tán trong thiên Cao Dao mô(1), thiên Ích Tắc(2) không tốn nhiều lời; Ngôn ngữ trong thiên Thiệu Cáo(3), thơ Chu Công(4) vốn vẫn mưu cầu thực tiễn. Còn trong thơ văn, mà thiếu cái tình với đấng quân phụ, thiếu tính ôn nhu trong việc dạy người, thì chẳng khác gì người thợ chỉ giỏi tô điểm vẽ vời, giàu lời mà cạn nghĩa, chuộng hình thức mà thiếu nội dung, thì chuyển tải ý tưởng cao xa làm sao được!


Thế cho nên,


Tài đại bút như Vương Tuân(5) nghĩ sâu xa như Quách Lộ, có thể điều khiển vạn cảnh khi ngồi trong xe; cổ xúy bát phong đưa vào luật. Thì sự nghiệp mới lẫy lừng đến như thế!


Do vậy,


Bằng việc biết người để luận thế, mới có thể quán thông đạo lý, sáng tạo văn chương. Trước đã không thẹn với Tang Văn Trọng(1) ở tôn chỉ lập ngôn; sau cũng xứng với Tào Tử Hoàn(2) trong việc kinh dinh đất nước. Tuy sưu tập thơ văn nhiều, mà thảy đều đạt chuẩn hết cả.


Đoan Trai tiên sinh Trương công, vốn là sao Chu Điểu(3); thuộc dòng họ vua Kim Thiên(4).


Thời niên thiếu,


Mơ mình hóa bướm, để được thưởng hoa thoả thích; canh khuya chăm chỉ sách đèn như con tằm ăn lá dâu.


Lúc tiến thân,


Hết lòng trung, lo toan chức trách công; lại thuộc sách, nên được giảng kinh nơi cung học. Người khen là nhớ giỏi, hệt con nhà ba rương sách Hà Đông(5). Được hoàng đế tin yêu, như cháu chắt thuộc dòng hoàng tộc. Vua tôi cá nước, nhạn mệnh ra làm chức đại quan; học Trịnh Đàm(1), suốt ba năm không rời khỏi đô môn; giống Chu Xả(2), trải hai mươi năm dự bàn Viện Cơ mật.


 Thật là, rạng rỡ nhà vàng, tin cẩn thẻ son; khác chi Tạ An(3) khi ở ẩn, có rất nhiều lời nói còn được lưu truyền; cũng như Vương Kiệm lúc còn nhỏ, đã gởi gắm chí mình trong thi phú. Qui mô đã khác, ý tượng bất phàm.


 Bá Khuê(4) nổi tiếng, vì vốn là dòng dõi danh lưu; Vương Ngạc(5) lẫy lừng, ai không biết là người quý tướng. Thi văn tức là người, chẳng sai đâu vậy!


 Các nước phiên sử dụng nhạc khí Hán là công của Từ Si(6) sáng thể, thì việc quay thuyền tùy quận nhờ ở văn thư của Tạ Diêu(7) tài tình. Hãy nhìn xa mà lo răn mình, đừng quên thu thật. Xem Thố viên(8), liền phát sinh nhiều điều giáo hóa, biết Hạc cấm, chẳng ít lần hiến tặng các bài châm.


Mỗi sáng sớm, leo lên ngọn Lũng Thủ rong chơi nhàn tản, mỗi chiều tà, ra khỏi Đoan môn ngâm câu Thoái thực thơ xưa. Hoăc vịnh cổ, những áng văn của Nguyên, Bạch(1); hoặc cảm hoài làm thơ tặng cho Hà, Vương(2). Chưa từng gọt chữ dũa câu, mà uyển chuyển tựa đường bay viên đạn; lời lẽ toàn nào trung nào hiếu, ý tưởng đủ cả chung cả riêng. Cá sông Khúc luyện mĩ không hợp thời; sóng sông Yến lan tỏa đi xa vời vợi.


 Ra công ngừa nạn nơi phương Bắc; dốc sức khẩn đất ở phương nam. Múa ngọn giáo trên sông như Tào Tháo(3) sáng tác hành ca; Biến phép đạc điền của Quản tử(4) thành văn, thể thơ đoản vịnh. Trong cái nhỏ mà nhìn thấy cái vô biên, như giấu quả núi to trong hạt cải mầm nhỏ xíu; kiếm chút nhàn trong công việc bận rộn, làm thơ văn chép đầy trên giấy hoa đàm. Hà Tôn Quyền liếc xem mà quên bước; Phan Thanh Giản(5) nhác thấy hóa ngẩn ngơ. Khảo chứng hiền nhân đời trước, làm ra ba mươi sáu thiên cố sự, có lẽ chưa công bố; rong chơi trong rừng nghệ thuật, chọn lấy một trăm linh năm bậc tài hoa, đâu có lạ lùng gì!


Hái rau cần Phán Thủy, làm bài tụng Thung Dung. Chim phượng gáy trong thiên Quyền A(6), tiếng tên bay nơi bài Bạn Hoán.Thận trọng giữ chí khí nơi quan trường; xót thương những thân phận trái bầu trôi nỗi.


Điều hòa các phe Lạc, Thục(2), ngăn chặn phát sinh thói bè đảng kết phe; răn đe khuynh hướng Thân, Hàn(1), không đề cao thuyết hình danh của họ. Nuôi dưỡng thể khoan đại, không mang tiếng hung hăng. Lời tâu đầy phong nhã, lưu loát mà đúng pháp qui; nói rồi vẫn tiếp tục nghĩ suy, nên can gián khiến người ta tỉnh.


Trương Vĩ(2) về quê, chưa kịp họa bài thơ vua ban khi đi thăm mộ; Kinh công(3) bệnh suyễn, không trả công được cho người tặng sâm làm thuốc cho mình. Tình cảm tuy nồng ấm; văn chương vẫn chưa tròn.


Tiên sinh chắc phải nhiều trăn trở, mấy lần dâng biểu xin nghỉ hưu; nghẹn ngào cổ họng, qua những thiên phục tán ân cần; dao động trong lòng, từ các tác phẩm phát đô quyến luyến.


Nói năng châm chước, giữ nguyên lòng ưu ái của vua; việc rất khó chi, đến tiên sinh hóa ra lại dễ. Nếu không do tài học, há dễ tìm ra được nguồn cơn; ngoài hạng văn tôn, khó mà kiếm chút thảnh thơi cho được. Lòng trắng trong lo toan chính sự, thời giờ đâu dốc ý thơ văn.


Song le, lời Nhạc Quảng súc tích tư duy, văn Quý Na(1) không bao giờ nháp trước. Như Chung Hội(2) định chữ được chúa nhà Tấn khen là lạ; giống Nhi Khoan(3) tâu bày được vua nhà Hán cho là hay. Song đến giờ vẫn còn cất trong rương, đợi nhàn rỗi tiên sinh mới tính.


Miên Thẩm tôi,


Ngay từ thời còn nhỏ, đã nhiều năm được theo hầu học tập; tiên sinh chiếu cố, đã ra công trau vàng rất mất sức, chuốt ngọc rất tốn công; tiên sinh thương yêu, không ngần ngại lục tung trướng Mã, dốc cạn bầu Đường.


Miên Thẩm tôi,


Xin là miếng mồi dư của cá, sao chép biên tập thành sách; hái những hạt châu dưới cổ con ly long làm thành bốn quyển. Tuy những gì để lại của tiên sinh sẽ được ghi vào sử sách, song phần nhiều lời người quân tử vẫn thường bị quên đi. Sách nầy giữ lại tinh hoa của tiên sinh để cho người đời sau thưởng lãm, góp phần rao giảng những điều tốt lành của các bậc tiền liệt. Suy tôn cao lệ Bốc Thương(4), quả hợp với Biện Thi.Chỉ hiềm tuổi đời của vãn sinh chưa đủ để biểu dương tên tuổi Tả Tư với bài Tam Đô phú(5). Dám đâu nghĩa kết khó từ, hoặc trộm ví với áng văn đề tựa tuyệt phẩm của Vệ công(6) vậy.


Miên Thẩm


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. NXB Văn học. 1-2009.








(1) Thiên Cao Dao mô: thuc sách Thượng Thư (Kinh Thư), có nghĩa là ghi li ông Cao Dao (2255 – 2208 Tr. Công nguyên), làm quan lo v hình pháp thi nhà Ngu ca vua Thun. Ông được y thác chn hưng ngũ hình.




(2) Thiên Ích Tc: thuc sách Thượng Thư (Kinh Thư), nói v vic tr thy ca Ông Vũ thi vua Thun. Ông Ích giúp Ông Vũ kiếm cho dân các thc ăn tươi. Ông Tc giúp Ông Vũ gieo các th thóc.




(3) Thiên Thiu cáo: thuc sách Thượng Thư (Kinh Thư), cáo là li răn bo người dưới được b nhim ra làm vic. Thiu cáo là li ca ông Chu Công dn ông Thiu Công Thích trước khi ông Thiu đi Lc p xây dng kinh đô.




(4) Chu Công: tc Chu Công Đán, em vua Vũ Vương nhà Chu, là người tài năng, đạo đức có công san định Kinh Dch trước Khng T c ngàn năm.




(5) Vương Tuân, Quách L: người tài đời nhà Tn Trung Quc.




(1) Tang Văn Trng: còn có tên là Tang Tôn Thìn, làm quan đại phu nước L, được cho là người thông tu, ông ct riêng mt ngôi nhà để nuôi mt con rùa to, ý để xem bói toán.




(2) Tào T Hoàn: là con trưởng Tào Tháo, còn tên là Tào Phi, cướp ngôi nhà Hán, lên làm vua, ci cách toàn b th chế lc hu ca triu nhà Hán.




(3) Chu Điu: còn gi là Chu Tước, là chòm sao gm 7 ngôi sao phương nam là: Tĩnh, Quý, Liu, Tinh, Trương, Dc, Chn. Sách “Tam ph hoàng đồ” cho biết 4 chòm sao linh 4 phương tri là: Thanh Long, Bch H, Chu Tước, Huyn Vũ.




(4) Kim Thiên: là h ca vua Thiếu Ho (2697-2513 tr, CN).




(5)Đông: Vua Vũ Đế nhà Hán đi tun đến Hà Đông, quên đem theo ba rương sách. Khi vua hi vic có liên quan đến ni dung sách, các quan đều bí, ch có Trương An Thế làm quan túc v, thut sách làu làu.




(1) Trnh Đàm: người đời Đường, làm chc Hàn lâm vin th ging hc sĩ. Là người làm vic tn ty mu mc, được thăng cp Tế Tu, kiêm Ngũ kinh bác sĩ trông coi nhà Thái hc.




(2) Chu X: Người đời nhà Lương, tinh thông kinh s, làm đến chc Thượng thư, mt tay son định nghi l, d cơ mt hơn hai mươi năm.




(3) T An: Người đời nhà Tn, tài gii nhưng đi n. Sau Hoàn Ôn vi ra làm quan. Hoàn Ôn li làm phn, ông cùng Vương Thn Chi hết lòng phò vua, nước mi yên. Ông li đánh phá gic Phù Kiên, gi vng b cõi, được trng vng gi là T Thái phó.




(4) Vương Kim: Người thi Nam T, làm quan thi Tng Minh đế. Vương Kim thích hc L, gii Xuân Thu, ngh lun Nho giáo rành r, áo mão xng hp li chung kinh thut. Tác phm có C kim tang phc tp ký, Văn tp.




(5) Vương Ngc: Người đời Đường, có công d hàng Vương Quc Lương, làm Thiu Châu Th s, ri Giang châu Th s, Hng lô T khanh, Hà Đông Tiết độ s. V sau còn được phong chc Kim hiu Tư không đồng Trung thư môn h Bình chương s.




(6) T Si: Người đời nhà Lương, lãm thông kinh s, có công đề ra các phép tc mi có hiu qu.




(7) T Diêu: Người đời Nam T, làm Tuyên thành Thái thú. Văn chương đẹp đẽ trong sáng. Gii thơ ngũ ngôn.




(8) Th viên, Hc cm: Lương Hiếu vương rt thích xây dng dinh th, vườn tược, trng nhiu cây ci, nuôi nhiu thú l, đặt tên là Th viên, Hc cm.




(1) Nguyên Chn, Bch Cư D: hai thi hào ni tiếng thi nhà Đường.




(2) Hà Vương: tc Hà Yến và Vương Bt. Hà Yến người thi Tam quc, có tài văn thơ, theo thuyết Lão Trang, khiến cho sĩ đại phu nước Ngy bt chước thành thi thượng. Vương Bt là tác gi bài phú ni tiếng “Đằng vương các t”. Là người sm bc l tài văn chương t lúc còn rt tr.




(3) Đon ca hành: Khi Tào Tháo kéo quân xung Giang Đông, đóng trên sông Xích Bích, uy danh vang di. Đang đêm đãi tic, ung rượu say, múa giáo ng khu bài Đon ca hành rt hay.




(4) Qun t: tc Qun Trng người thi Xuân Thu, có công canh tân nước T đưa T Hoàn công lên vai trò bá ch chư hu.




(5) Hà Tôn Quyn, Phan Thanh Gin: Hai viên quan ni tiếng văn hay ch tt, làm chc quan to, thi vua T Đức.




(6) Thiên Quyn A: mt thiên trong phn Đại Nhã (Kinh Thi). Thiu Khang công đi theo vua Thành Vương do chơi nơi núi đồi, làm bài ca ny. Thiên Quyn A có bài: “Phng hoàng minh hĩ. Vu b cao cương. Ngô đồng sinh hĩ, Vu b triêu dương. Bng hng thê thê, ung dung giê giê”. (Chim phượng hoàng gáy, trên đỉnh núi cao kia, cây ngô đồng mc lên, mt phía đông trái núi kia. Cây ngô đồng mc lên rm rp. Tiếng chim phượng hoàng kêu nghe du hòa).




(2) Lc, Thc: Triu vua Triết tông nhà Tng. Triu thn chia làm 3 đảng: Lc đảng do Trùng Di cm đầu, Thc đảng do Tô Thc cm đầu, Sóc đảng do Lưu Chi cm đầu, nên rt ri lon.




(1) Thân, Hàn: tc Thân Bt Hi và Hàn Phi ch trương hình danh hc, nên v sau thuyết hình danh còn gi là thuyết Thân Hàn. Hình danh cũng gi là hình tch, tiêu biu cho chế độ chuyên chế, áp dng lut pháp trong tr nước.




(2) Trương Vĩ: Người đời nhà Đường, nhà giàu, thích tic tùng đãi khách. Khi làm quan thì quyn hành khuynh loát triu đình, được vua ban ân sng khó ai sánh kp.




(3) Nhc Qung: Người đời Tn, tính tình phóng khoáng, kiến thc uyên thâm.




(1) Quý Na: Người đời Thanh, thông lãm kinh đin, tác phm Tùng vân văn sao.




(2) Chung Hi: Người thi Tam quc.




(3) Nhi Khoan: Người đời Hán.




(4) Bc Thương: t T H, người nước V thi Xuân Thu, hc trò đức Khng T. Sau khi thy mt, ông dy hc Tây Hà, được Ngy Văn hu trng vng xem như thy.




(5) Tam Đô phú: bài phú do T Tư son viết v 3 kinh đô ca 3 nước thi Tam quc. Người ta đua nhau chép, khiến cho Lc Dương thiếu giy.




(6) V công: tc Lý Tnh thi nhà Đường, là người thông hiu kinh s lai có tài võ lược, được phong là Đại Quc công. Đánh trn có công, được phong là V Quc công.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
Những đám khói - Võ Phiến 23.03.2017
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
Mười ngày rung chuyển thế giới (11- tiếp và hết) - John "Jack" Silas Reed 15.03.2017
Hoàng Đạo Thúy với những trang viết về Hà Nội - Hoài Anh 13.03.2017
xem thêm »