tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22987363
Tiểu thuyết
21.01.2014
Ngũ Hà Miên
Bão

Oái oăm thay, ông bà bác sĩ Bá ba ngày liền đãi chàng những món sơn hào hải vị, chàng vờ đụng đũa khen ngon nhưng vẫn chẳng dám ăn. Dối trá với hai ông bà, chàng áy náy lắm mãi tới ngày về.


Sau ngày Nguyên tiêu, với bộ mặt thiểu não nhất, chàng ra Đà Nẵng thăm bác sĩ Đối. Đi đường, ngẫm lời anh Tùng, chàng cười thầm một mình. Trong Tết, ảnh có tới thăm chàng. Nghe chuyện chàng, anh nói:


– Mày có gặp ông Đối, cho tao gửi lời thăm. Với tao, ổng luôn luôn là bác… bác… bác… sĩ.


– Ủa, anh cà lăm hay sao vậy?


– Đâu có, tao chỉ muốn diễn cái điều rằng là so với tụi bác sĩ con nít mới ra trường Y khoa bây giờ thì phải gọi ổng bằng ngần ấy từ bác… bác… lặp lại như vậy, để phân biệt nhân vật đó lão thành uyên bác tới đâu.


– Anh muốn chế giễu ông cũ kỹ lạc hậu hở?


– Tao không dám. Nhưng mầy nên nhớ ông thuộc thế hệ của cụ Lệ thần Trần Trọng Kim mười lăm năm trước. Thời gian đó đủ cho Kiều từ một cô gái mười sáu ngây thơ trở thành một người già dặn, ông Lệ thần đã làm Thủ tướng Việt Nam.


Đúng là cái cốt cách riêng của Phạm Viết Tùng, độc đáo không nhầm lẫn với ai được. Ý ảnh muốn nói, những người thuộc thế hệ ông cha chúng ta được đào tạo trong cái học sĩ quân tử Khổng - Mạnh hay cái học Chính Nhân của văn chương Pháp đều rất giỏi, rất lý tưởng nhưng thật thà, ai cũng lừa phỉnh được.


Vậy mà chính anh, con người tinh quái đó, lại bị lừa phỉnh hơn ai hết. Suốt đời anh toàn sống trong nhà tù.


Tại Trung tâm I nhập ngũ Đà Nẵng, người ta đọc hồ sơ hoãn dịch của chàng khá kỹ. Đã nhịn ăn suốt nửa tháng liền, chàng còn tàn phá sức khỏe mình bằng cách uống dầu đu đủ cho xổ rốc ráy cả người. Chàng bắt chước khổ nhục kế của Huỳnh Cái trong Tam Quốc Chí, nhưng không vì một lý tưởng gì cả. Chàng không muốn cầm súng và chết cho Diệm, đơn giản thế thôi.


Bác sĩ Lâm da trắng, người vừa tầm, đi hơi khòm, đặc biệt ông có một cục bướu nhỏ trên đầu. Chàng hơi lấy làm lạ, sao ông thầy thuốc này lại để nó yên ổn như thế, vừa mất mỹ quan, vừa xúc phạm tới tài năng nổi tiếng của ông tại cái đất miền Trung nhỏ bé này.


Ông hất hàm ra lệnh cho viên hạ sĩ quan trợ y: Cân.


Chàng đã thoát y hoàn toàn, chỉ còn mỗi chiếc xì líp, lảo đảo trong cơn gió bấc rét buốt tháng Giêng, bước lên chiếc bàn cân to xù xì. Hình như ngoài trời đang có mưa phùn.


– Dạ, hai mươi chín- Viên trung sĩ vừa hô vừa ghi vào hồ sơ.


– Úi dà! - Bác sĩ xuýt xoa bằng cái giọng rất Huế: Đếm đủ mười mấy cái xương sườn. Bận áo quần nhanh cho ông ấy kẻo chết vì cảm bây chừ.


Chàng cũng làm bộ run lập cập, bác sĩ nhìn thương hại:


– Thôi, cho miễn dịch vĩnh viễn đi. Ra phòng ngoài chờ lấy giấy tờ. Sau lưng, chàng còn nghe ông nói nhỏ với viên trung sĩ:


Tội nghiệp, người nhà của bác sĩ Đối đấy, nghe nói trước có đi kháng chiến, bị sốt rét rừng ăn hết máu.


Chàng thấy rõ là trong tâm tư giới tri thức từng sống trong vùng bị chiếm, cuộc kháng chiến thật hoành tráng. Về chỗ trọ, chàng được Vàng hoan hỉ báo tin anh ta cũng thoát nạn nhờ khói thuốc lá làm đen hình phim phổi. Anh ta ba hoa:


– Tui với ông đều tuổi Ngọ, năm nay Sửu., Sửu Ngọ hại. Vậy mà cả hai đứa mình đều gặp may, chỉ vì chúng mình là Lộ bàng thổ, còn Tân Sửu là Bích thượng thổ, lưỡng thổ thành sơn, chẳng ai làm gì nổi nữa là cái lệnh bắt lính của ông Diệm. Để rồi ông coi, hai năm nữa, gặp năm Mão, thế nào cái thằng Mèo nó cũng chụp cái mạng Tí của tổng thống nhà mình cho coi.


Vung vít như thế, nhưng tính vốn nhát gan, anh ta tự bụm miệng mình:


Tai vách mạch rừng, cố làm thinh, hẳn để ra trường đi dạy kiếm cơm cho vợ con đã.


Hôm sau, nhờ bác sĩ Đối chỉ nhà, chàng đến thăm bác sĩ Lâm, ở đường Ông Ích Khiêm. Nhìn căn phòng bày biện đơn sơ, chàng thầm phục cuộc sống liêm khiết của bác sĩ. Chàng nghĩ, nếu ông này chịu ăn hối lộ thì của cải chất đâu cho hết vì bao nhiêu thanh niên con nhà khá giả có Tú tài bán phần trở lên, ai mà không muốn được hoãn dịch, chỉ một chữ inapte phê vào hồ sơ là tiền triệu vào nhà. Đằng này phòng khách của ông chỉ có bộ salon bằng mít, kiểu ăn chắc mặc bền miền Trung. Ngoài ra, toàn là những chậu hoa.


Người tớ gái giúp việc mang cho chàng tách nước trà còn bốc khói trên chiếc dĩa nhỏ rồi trở lại với việc lau nhà. Chàng hỏi:


Chắc bác sĩ đang khám bệnh?


– Thưa không, ông con đang cúng! Hôm qua ông đi coi bói. Thầy bảo phải xây lại cái hướng bếp.


Chàng đợi thật lâu mới thấy ông bác sĩ vẫn còn nguyên chiếc cà vạt đen trên cổ bước ra.


Chàng nghĩ: Ông vừa bái yết thần thánh bằng âu phục, không sao. Đạo Cao đài nước ta thờ từ Phật tới Khổng Tử, Lão Tử và cả Victor Hugo, Jesu nữa… thì áo thụng xanh với veston, khác gì nhau?


Bác sĩ bắt tay chàng thật nồng nhiệt:


– Bác sĩ Đối có khỏe không? Từ Tết đến nay tôi quá bận không đến thăm ổng được. Nghe nói anh là em ruột một người bạn thân của anh Hoàng, em vợ bác sĩ Đối. Với cái sức khỏe của anh cho miễn dịch vĩnh viễn là đúng thôi. Chừ anh phải về lo tẩm bổ vô, mới đi dạy được. Tôi có cái toa thuốc Minh Mạng này, thần hiệu lắm. Rồi không kịp để chàng nói tiếng gì cảm ơn, ông chạy vào bên trong mang ra một tờ giấy dài thòng kê những bốn chục vị thuốc bắc với cân lượng đầy đủ đưa cho chàng:


– Tôi tự tay đánh máy để phổ biến cho anh em, anh cầm lấy mà dùng.


Sự việc quá đột ngột khiến chàng ú ớ, không biết xử trí sao. Một ông bác sĩ mà mỗi chút một cúng kiếng, mà quá tin các lời đồn đại về cái toa thuốc Nhất dạ ngũ giao sinh lục tử của vua chúa thời xưa, lại tốt bụng, chỉ nghe rằng chàng có quen biết với ông bác sĩ Huỳnh Tấn Đối là đã chí tình như thế, thật lạ giữa cái cõi đời đầy mưu mô tráo trở này.


Về sau, chàng được biết thêm sở dĩ ông để yên cho cái bướu nhỏ mặc tình hiện diện trên mé đầu mình chỉ vì nghe thầy tướng khuyên ông đừng cắt nó đi, phá tướng, có hại.


Chàng rụt rè thưa:


Thưa, chắc bác sĩ có mở phòng mạch riêng?


Ông khịt khịt cái mũi cao và hơi thô trên khuôn mặt trắng xác của mình:


Có, tôi chuyên về tai mũi họng, mỗi ngày vài tiếng đồng hồ, từ năm tới bảy giờ chiều.


Chàng bưng chén nước hớp một ngụm: Trà ngon quá! - Và thăm dò:  – Chắc công việc ở Tổng Y viện bận bịu lắm?


– Dĩ nhiên rồi. Nhưng cái chính là tôi dành nhiều thì giờ rảnh cho việc viết văn và làm thơ. Anh không đọc truyện ngắn ký tên Lan Giao trên tờ Văn hóa Nguyệt san sao? Anh dạy môn gì?


Chàng giật mình, núi Thái Sơn trước mặt mà không biết, ấp úng:


– Dạ, Việt văn.


Và ông hỏi tới tấp: – Lớp mấy?


Dạ, đệ nhị.


Vậy phải đọc báo đó tham khảo chứ?


Chàng đâm ra hoảng, như sợ mất lòng ông bác sĩ: Dạ… dạ… có.


Nói tội nghiệp, tờ lá cải này xuất bản ở miền Trung, do một số tay kháng chiến cũ, đang là người sai bảo dưới trướng của Ngô Đình Cẩn bày ra để moi chút tiền. Chàng ghét cay ghét đắng, có đọc tới bao giờ đâu. Tờ báo mở kỳ thi truyện ngắn, để khoa trương thanh thế và ông bác sĩ thật thà này đã gửi bài.


Ông lại chạy xồ vào buồng, chàng đoán có lẽ gần phòng khách lắm vì chỉ giây lát, ông đã nhanh nhảu trương ra một ấn bản đặc biệt trên có đề KÍNH BIẾU hẳn hoi, rồi ông thoăn thoắt rút bút ghi: Mến tặng anh H. Chàng thừ người ra một cách lạ lẫm: Cái ông này khá kỳ, khám bệnh thì chậm rãi, vậy mà đụng công việc gì không phải nghề thuốc của mình thì nhanh chóng và tích cực làm sao, giống y như cái ông bác sĩ của chàng, khi bàn tới chuyện từ thiện hay đạo đức vậy. Chàng đâm ra kết luận: Con người cảm thấy thích thú hơn khi ăn vụng hay đá banh lấn sân cỏ và thường lấy làm chán nản với công việc mưu sinh hàng ngày của mình. Cái kiếp người chúng ta, trời bất công vậy. Biết sao.


Thấy chàng đang đăm đăm đọc kỹ, ông hào hứng kéo hộc bàn, miệng hỏi tay làm:


 Chắc anh chưa ăn sáng. Tôi có bánh ga tô và kẹo đây.


Hai tay ông đưa một chiếc bánh rõ to và cả một nắm socola.


Tôi còn làm cả thơ nữa.


Cả hai không còn phân biệt tân chủ nữa mà ăn uống nhồm nhoàm, người cà vạt, kẻ áo va rơ tử tế. Thế là ông đọc cho chàng nghe một hơi năm bài thơ của mình, không hay lắm, nhưng ông nhớ thuộc lòng. Xong ông mới đưa bản thảo, chữ viết tay bác sĩ của ông xấu như gà bới, coi nhức mắt. Sau non vài tiếng đồng hồ, họ từ chỗ chưa hề quen biết nhau đã trở thành tri kỉ, chàng tằng hắng lấy giọng, ngâm theo kiểu chiến khu Nam Ngãi bài Mười năm trứ danh của mình. Ông vốn chỉ quen lối ngâm tao đàn của Đinh Hùng trên Đài Phát thanh nên thấy hay lắm, vỗ tay tán thưởng:


– Hay, hay lắm. Tôi đang biên khảo cuốn Những nhà thơ hiện đại thế nào tôi cũng đưa anh vào. Bút hiệu là gì? – N… H… M… – Tên gì kì vậy?


– Có gì lạ đâu anh?- Chàng thay đổi lối xưng hô lúc nào không hay.


Chữ Nguyễn, tôi ngắt ra làm ba, giữ Ngu ở đầu cho dấu ngã vào thành Ngũ, chiết tự, kiểu như Nguyễn Tuân có lúc ký là Ân Ngũ Tuyên vậy.


– Còn anh thì sao lại là Lan Giao?


– Lan là tên con gái, vợ tôi là Giao.


– À, ra anh theo đạo vợ con – Chàng đùa.


– Ừ, thì tụi mình ai không thế. Thời buổi giờ, không vì vợ con chớ còn vì ai nữa? Ông bà cha mẹ tôi theo đạo Phật mấy đời rồi, nay gặp hồi Công giáo trị, lấy chuyện văn nghệ văn gừng mà quên đi mọi sự.


Chàng tán thưởng:


– Cũng là một cách tu. Ở nông thôn, dân quê vô đạo Phật, tu để đối trị với những áp bức của hương chức nhà Ngô…


Thốt nhiên chàng như thấy mình lỡ lời và lặng thinh.


Họ từ tạ nhau. Từ ấy, mỗi khi có việc ra Đà Nẵng bao giờ chàng cũng ghé Lâm chơi, họ trở thành đôi bạn thân thiết mãi khi Lâm tham gia vào Binh đoàn Phật tử chống quân Thiệu, Kỳ năm 1966, bị bắt giam và sau khi thả, phải đổi vô Sài Gòn, lại cùng gặp nhau, tha hương ngộ cố tri.


Bấy giờ, trường Trần Quốc Tuấn có một ê kíp giáo sư rất đều tay và giỏi: Thọ, Cao đẳng Sư phạm dạy Toán, Thành: Lý, Hóa; anh sáu Nguyễn Diễn: Pháp văn; chàng: Việt văn. Họ có uy tín trong học sinh và phụ huynh đến nỗi hiệu trưởng không ưa nhưng chẳng dám làm gì. Bắt đầu, họ nghe lời anh Sáu, tẩy chay việc suy tôn Ngô Đình Diệm mỗi sáng, bằng cách không chào cờ... Được trớn, cuối năm khi ông Diệm lại bày trò bầu cử tổng thống, họ công nhiên bỏ phiếu cho ứng cử viên tổng thống đối lập Hồ Nhựt Tân. Chính quyền địa phương rất bực bội, chưa biết nên đối phó ra sao. Tỉnh trưởng Tất thì cho rằng đó chỉ là nhóm bất mãn nhỏ nhặt, cho qua laisser passer là yên việc.


Đùng một cái, nhóm phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc oanh tạc dinh Độc Lập, người ta đồn nào là ông Nguyễn Ngọc Thơ bị tổng thống kêu vào rầy la, sợ quá đi xà lui, đụng phải cái nghiên mực đổ tung tóe; nào là bà Ngô Đình Nhu lên Đà Lạt ngủ với Trần Văn Đôn rồi rủ nhau đi săn, bị voi rừng đuổi té ngã đau lưng chưa khỏi, nay bà lại bị giáng thêm đòn bom nổ vẹo mông.


Nhà chàng ở bên Quốc lộ I Cống Kiểu, hàng ngày chàng chứng kiến không biết bao nhiêu là chuyến xe chở bá tánh đi xin nước cá thần, có người đồn là cả bệnh cùi hủi, cổ chướng, phong lao gì uống vô cũng hết. Việc dễ dàng, chẳng tốn kém. Ai không đi tới nơi thì ở nhà cầu nguyện và nhờ người khác đi thay cũng được. Bao nhiêu can nhựa, chai lọ… đều tập trung vào việc chứa nước, hàng xóm rủ nhau đi thành đoàn, khi về bà con bu lại đông đen, san xớt cho nhau từng giọt, quí như cam lồ của Phật Mẫu Quán Thế Âm. Tăng Sâm giết người mà còn có kẻ tin huống chi linh dược trời cho không tốn kém. Nhà trí thức tỉnh lẻ của chúng ta dù tự hào có biết khoa học nhưng đang bị sốt rét kinh niên, uống ký ninh hàng vốc như nuốt bột khoai mì, cũng phải theo quần chúng, phong trào mà cầu thuốc Thánh thôi.


Lạ quá, đưa ly nước ra ánh nắng thấy vô số bụi lấp lánh, vậy mà uống vô, chiều đó không thấy lạnh nữa, quả là có thần Phật thiệt chớ không phải chơi.


Tại Sài Gòn, cụ Nguyễn Văn Lực, cha của phi công Nguyễn Văn Cử ở 17 Trần Quí Khoách, trốn được nhưng thân nhân của Phạm Phú Quốc ở Đà Nẵng bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam.


Gia đình tổng thống và ông cố vấn Nhu dời về dinh Gia Long. Đây là thời hoàng kim của đồng giao, sấm ký.


Quốc gia chi tương hưng tất hữu trinh tường, Quốc gia chi tương vong tất hữu yêu nghiệt. Hồi xưa cha chàng thường dạy vậy. Cây đa bên dinh Gia Long, trước mặt Tòa án bị sét đánh gãy, con khỉ trong sở thú xổng chuồng, bận áo the, đầu bịt khăn trắng, cầm gậy, chỉ về phía dinh Độc Lập đối diện, nói bằng tiếng người, như với kiến trúc sư Ngô Viết Thụ:


– Đừng sửa sang lại dinh Độc Lập nữa làm gì.


Trong ngần ấy sự kiện, cái gì thật, cái gì giả, ở một nơi xa ánh sáng như cái tỉnh Quảng Ngãi nhỏ bé này, ai xác minh được. Và ai cũng ghét Diệm, chuyện không có cũng phải bịa ra cho bõ ghét, huống chi có kẻ đã bịa rồi, mình tội gì mà không thêm mắm dặm muối vào cho nó mặn mòi để góp phần dư luận đào hố chôn nhà Ngô.


Tội nghiệp ông Ngô Đình Diệm, nghe nói mỗi bữa ông chỉ ăn cơm với nửa con cá đối kho dưa cải. Không biết hồi ở Mỹ, ông làm sao kiếm được món quốc hồn này? Tết rồi, ông mừng tuổi cho thằng con trai ông Nhu chỉ bằng tờ bạc mười đồng in rõ hình ông. Ông cho đó là món tiền to lắm rồi.


Bốn năm trước, trên một bài báo dài đăng nơi tạp chí Bách khoa, với đầu đề Nếp sống Đông phương, chàng hằng mơ ước một chế độ, như đời vua Lý Thánh Tông thời xưa, đêm trừ tịch vi hành, thấy có người dân nghèo rét lạnh ngủ bên đường, nhà vua đã cởi hoàng bào của mình mà đắp cho. Không biết sáng dậy, người con dân diễm phúc được mưa móc cửu trùng đó xử trí ra sao, sử không nói tới. Và đại loại những vụ việc như thế chỉ có trong sách vở.


Hè đó, chàng vào chấm thi tú tài ở Nha Trang. Huỳnh Ngọc Anh, một người bạn lớn hơn chàng năm sáu tuổi, hiệu trưởng bán công Mộ Đức cũng đi giám thị ở đó. Nhà anh, hai đời làm thầy giáo. Hồi kháng chiến năm 1951, anh đứng ngoài biên chế. Thất nghiệp, anh kết với một đồng học cùng lớp ở collège Qui Nhơn, lang thang khắp làng quê Quảng Ngãi kiếm ăn. Và bần cùng sinh đạo tặc, có dạo họ mua ống tiêm về cho nước đun sôi vào nói là thuốc trị bá bệnh và đi chích dạo cho dân quê đổi lấy gạo, khoai cầm hơi.


Có khi họ dùng một máy hình cũ, gạ những cô gái quê chụp những pô hình nghệ thuật để đời, cười lên tách một cái họ thu phí một lon bắp khô, hứa… năm hôm sau sẽ mang hình tới. Nhưng các cô gái mộng mơ này tha hồ mà dài ngoẵng cổ ra đợi chờ, hai chàng trai học thức điển trai này không bao giờ trở lại. Thời kháng chiến gian khổ, phim phải mua từ vùng bị chiếm về, qua bao đồn bốt, làm gì họ có?


Cả hai đặc biệt có khiếu sinh ngữ, Quốc gia tiếp thu Quảng Ngãi anh đã về dựng lại nhà ngay trên nền cũ, rồi nhờ vốn Anh ngữ giỏi sẵn có, anh xin làm cho phái đoàn Médico. Với cái vỏ bề ngoài, anh dụ được vô số thôn nữ con nhà khá giả đua đòi thuở bấy giờ và nổi tiếng là một Don Juan tỉnh lẻ.


Huỳnh Ngọc Anh, chàng và Bùi Luận - anh ruột Bùi Giáng, rủ nhau ra biển chơi. Luận lớn tuổi hơn cả:


– Tao là thổ công ở đây, bây muốn biết mùi đời không?


Anh ra giọng từng trải:


– Chỉ có thằng H nó trinh tiết, chớ tui thì chày kình mộng tỉnh giấc vu san, mái tóc ba sinh nửa trắng vàng rồi anh Cả ơi!


Luận tiếp tục chỉ huy:


– Vậy thì cho nó đi. Tao giám sát, hai đứa bây làm. Thằng H trả tiền. Lệnh!


Nhà chứa cấp cho chàng một cô ngoài hăm lăm, không đẹp nhưng da trắng và có duyên lại hình như mới sinh con, bầu vú còn căng sữa no tròn. Chàng không hiểu tại sao định mệnh lại gắn liền chàng với bộ ngực phụ nữ đến thế, chỉ cần nhìn cặp tuyết lê với chiếc núm hồng, xung quanh trắng nõn căng cứng lên là chàng mê say, bất kể khuôn mặt, hình thể đối tượng ra sao. Tất nhiên, đừng xấu hay quá thô kệch. Khi đó, văn chương chữ nghĩa bề bề, lý tưởng cách mạng đi chơi đâu hết, như một kẻ nghiện đang lên cơn đói, chỉ có hơi men đáy cốc là chàng tự xóa nhòa mình đi. Và cả đời như thế. Học, đọc bao nhiêu kiến thức như biển, công tích đầy người, nhưng chỉ cần một chút tình, một vẻ đẹp Trời cho của nàng, chàng sẵn sàng đánh đổi hết. Ai cũng cho chàng dại. Chàng thường ngâm tự vịnh:


Ấn phong hầu, tớ chẳng màng,


Chỉ mong cho được gặp nàng mà thôi.


Hồi hai mươi tuổi, chàng bị chứng di tinh, vài ba ngày một lần vắt kiệt cả người. Khi lấy vợ, chàng không những lo ngại mình sẽ không làm nổi bổn phận của giống đực, nhưng…, qua đêm động phòng hoa chúc, chàng tin là Thượng đế đã sinh ra con người thì ngài cũng cho luôn con người bản năng để truyền giống và tồn tại.


Với người con gái phút giây ngắn ngủi bên sóng bể Nha Trang ngày ấy, chàng đã tỏ ra quá thành thạo. Và điều làm chàng quá sửng sốt: nàng tên Huệ, đồng hương Quảng Ngãi, đang dạy học tiểu học, chồng mới đi lính chết, con còn đang bú. Không ngờ cái việc đi mua dâm đáng lên án đó đã giúp chàng viết bài thơ: Viết cho niềm đau của Huệ mà sau này sinh viên Quảng Ngãi tại Sài Gòn chọn đăng vào tờ báo Xuân 1972 để chống chiến tranh:


Tôi hỏi sao không về


Thăm bà con thân thuộc


Thăm ruộng nương cày cuốc


Của thương mến miền quê?


 


Rằng: quê không còn nữa


Từ chinh chiến dấy lên


Khi con người mất tên


Khắp châu thân máu ứa…


Chàng lấy địa chỉ của Huệ, sau đó cả vài năm, hàng tháng chàng giấu vợ, gửi đều đặn cho nàng một trăm đồng để giúp bé, cho đến khi lửa khói làm cho thất lạc hẳn.


Lần ấy, khi bận lại áo quần, nhoẻn cười bẽn lẽn trở ra với anh Luận đang ngáp ngắn ngáp dài chờ đợi bên ngoài, chàng giấu không nói chuyện về cô gái, sợ bị chê là lẩm cẩm. Huỳnh Ngọc Anh thì tỉnh bơ:


– Phần tôi, tạm tạm thôi, không khá lắm. Bữa nào đại ca phải cho nếm món khác cao cấp hơn.


– Sao hám quá vậy? - Luận dọa: – Tao viết thư báo cho vợ mày thì có mà chết với nó. Con Bắc kỳ đó sư tử Hà Đông đấy. Thôi về nhà thằng Xung, tao đánh phục thù với nó mấy ván cờ tướng đã.


Luận lớn tuổi, từng trải, rất chu đáo. Hai người em của anh, một người là bác sĩ, tham gia Quốc dân đảng, từng ký tên hưởng ứng đảo chánh của Nguyễn Chánh Thi đã bị ông Diệm bắt giam, còn người kia học giỏi làm thơ hay, đang dạy học, sống ngang tàng.


Anh Bảy giao du rộng, độc thân, lại có chiếc Simca cũ, bạn bè hay tụ lại đấy cao đàm hùng biện. Hồi đó, chưa có bia bọt say sưa như bây giờ quân tử chi giao đạm nhược thủy mà. Các anh Quách Tấn, Cung Giũ Nguyên, Thạch Trung Giả, thầy Thích Trí Thủ… toàn đạo sĩ cả.


Tác giả Mùa cổ điển ở đường Bến Chợ, cứ mỗi nghe cái tên đường cũng đủ biết nó ồn ào tới đâu. Thời kháng chiến nếu anh Bảy bó rau muống cho mẹ mang chợ bán thì anh Quách Tấn mua mây về thắt gióng. Nhiều khi thuận tay làm được những đôi gióng đẹp, anh không bán, vuốt ve, rồi treo lên ngắm nghía mãi, say mê. Cho nên hai người rất thân nhau. Chàng chỉ bằng tuổi con đầu của anh: Quách Giao. Nhưng Quách Tấn còn cô gái út, Tường Vy, năm ấy cũng thi tú tài. Chàng dò coi điểm giùm, thấy Vy đậu cao, về nhà báo tin, Vy mừng lắm, đãi một chầu bún bò. Chàng thưởng Vy cuốn sách biên khảo về Thi ca cận đại của mình. Đọc trong đấy thấy có câu chàng trích dẫn về tâm trạng của thanh niên:


Mang niềm bi quan dài bằng cuộc sống


Không người yêu và vắng cả quê hương.


Vy thích lắm.


Hôm sau, Vy gặp chàng nói: Vy xin phép chú, đổi lại một chữ nhé. Mang niềm bi quan dài hơn cuộc sống mới phải. Ai dè đâu, mười ba năm sau, Vy uống thuốc ngủ bỏ đời khi tuổi chưa ba mươi, không biết ở bên kia Vy còn bi quan như ngày ấy không?


Cũng tại Nha Trang, có những buổi tối chàng lên viếng chùa Hải Đức. Chính tại đây, chàng gặp Phạm Công Thiện. Từ Mỹ Tho, Thiện bỏ đạo dòng của nhà mình để trở thành sư Thích Nguyên Tánh, ra nghiên cứu Thiền tông ở đây. Thiện đưa cho chàng coi bản thảo hai cuốn Bồ Đề Đạt Ma. Hình như dạo ấy (1962), Thiện mới chỉ khoảng hăm lăm. Chàng rất phục cái năng khiếu ngoại ngữ thiên phú của Thiện từ La Tinh, Anh, Nga, Pháp, Hán… Thiện nói do hồi nhỏ đi Đạo, Thiện đã thuộc Kinh Thánh bằng La tinh và bằng cái vốn ngữ nguyên đó, mà sau học tiếng gì cũng nhanh.


Chàng cũng đưa bản thảo tập thơ của mình cho Thiện. Thiện thích nhất bài Giòng sông, cho rằng nó nói liên quan về ba giai đoạn trong tư tưởng nhân loại, dường như một cách thi hóa Auguste Compte. Thiện hứa sẽ đề tựa cho thi phẩm Mười năm là một năm sau đó chàng cho in. Nhưng Thiện không thực hiện được lời hứa vì 20-8-1963 ông Diệm đã cho tấn công chùa chiền khiến Thiện bị bắt giam mãi đến sau đảo chính 01-11-1963.


Trong thân tình, chàng hỏi Thiện sao không nghiên cứu về thiền ở Mỹ Tho hay Sài Gòn mà phải ra tới đây. Thiện cho rằng hai nơi đó, nơi thì quá nhỏ, nơi lại quá lớn phải có cái tĩnh lặng của Nha Trang mới nắm bắt được chừng nào những gì mà Đạt Ma Sư Tổ truyền dạy[1]. Chiêm nghiệm những lời Thiện nói, từ ấy về Quảng Ngãi, chàng năng lên Thiên Ấn hay xuống chùa Ông Rau nhắm mắt, ngồi trầm ngâm tìm về chính mình.


Nhưng mọi thứ đã quá trễ. Sự căng thẳng giữa chế độ gia đình trị của một tổng thống Công giáo và Phật tử chiếm đại đa số quần chúng ngày một trầm trọng. Các cuộc vận động chính trị đã âm thầm, kín đáo mạnh mẽ như sóng ngầm đi vào các tu viện. Người ta đến đó nhiều hơn không phải để tu hành thoát tục, thực hiện Niết bàn tại thân mà để chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh với mọi hy sinh gian khổ được báo trước.


Bấy giờ tại trường Trần Quốc Tuấn có người em bà con với bà Hiệu trưởng quê Quảng Bình vừa du học ở Úc về, được tuyển vào dạy môn Anh văn: Nguyễn Thái Sơn, mới hăm hai tuổi, đầy lý tưởng nhiệt huyết, Phật tử thuần thành, cha là công chức bưu điện thời Pháp nay đã thí phát đi tu. Nhà Sơn có sáu anh em trai. Năm người đều tên Sơn chỉ khác nhau chữ lót: Thanh, Kim, Thái, Bảo, Hùng và Trí. Ông cụ gọi chúng tôi là Ngũ sơn nhất trí, Sơn nói vậy.


Sơ mi có cầu đai màu lam, mũ to vành của huynh trưởng cấp - Dũng, kính cận thị, nói tiếng Anh như gió, Sơn là người trong mộng của các cô nữ sinh bấy giờ. Dĩ nhiên, Sơn kết nhóm anh Sáu Diễn. Hai em của Sơn là Hùng và Trí bấy giờ mới lớp tám thường đến nhà chơi cũng được mẹ chàng coi như con, họ thân nhau như bóng với hình.


Những ngày Chủ nhật, anh em chàng rủ Sơn về Thi Phổ. Anh Cả đã xây xong ngôi nhà ngói nhỏ có gác xây về hướng gió, Nghinh Phong Các, anh bắt chước cha đặt tên như vậy. Vị giáo sư trẻ tốt nghiệp đại học nước ngoài chấm rau muống luộc với nước cá nục kho, ăn một hơi liền mấy chén cơm gạo lức, cảm thấy thoải mái vô cùng giữa chốn đồng quê. Anh như được con gió mát trên ruộng đồng giải phóng khỏi vòng vây thường nhật của nhà cửa chen chúc và đời sống lễ nghĩa giả dối ở thị xã. Co cánh tay làm gối và nằm lăn trên nền xi măng còn nham nhở, anh đánh một giấc dài cho tới chiều.


Chàng mượn chiếc xe đạp của anh Cả đèo đưa Sơn dạo chơi trong xóm, đến thăm cả ngôi từ đường họ Phạm bên ngoại chàng, chốn phát tích của vị đương kim thủ tướng miền Bắc. Không biết học lóm được món phong thủy ở đâu, Sơn nhìn quanh quất rồi nói như trong mơ, như người từng ở đây lâu đời:


– Đúng. Đất này phải phát tích nên những bậc nhân kiệt.


Chàng tính chọc quê cái ông thầy địa lý Tây mới ra lò:


– Còn một bậc vĩ nhân nữa đang đứng sát toa đây. Toa chưa biết đấy thôi! – Chàng ám chỉ chính mình để đùa với Sơn.


Sơn nhíu mày nghiêm túc:


– Bây giờ ở phương Tây người ta đang có phong trào tìm hiểu và học hỏi văn minh Đông phương, nào đường về xứ tuyết, nào hành trình về phương Đông. Krisna Murti, Nalanda, Rhadakrisnan… đều được phong Thánh mà người mình thì xem thường. Kinh Bách dụ của Phật có nói về hạt châu trong bao áo rách ông còn nhớ không?


Rồi Sơn ra đứng giữa sân, tay chỉ về phía mặt trời lặn:


– Ngọn núi cao màu bạc ngả sang vàng lơ kia, ông gọi là núi Dàng phải không? Đỉnh nhọn, hai bên sườn cân đối đẹp lắm, như chiếc ấn trời.


Rồi anh quay mặt ngó ra biển:


– Dưới này là Bầu Súng. Hồi nãy, thăm mả ông Lớn, ngài thủ khoa, ông ngoại của ông, ông đã chỉ cho tôi xem. Nó như chiếc hồ sâu, có lẽ xưa kia quanh năm hoa súng nở, đó là nơi thủy tụ. Giữa có con sông Cầu Đập, như con rồng uốn khúc, chỉ tiếc ngắn quá và không sao ngoi ra được tới bể nên người ở đây phải đi tha phương mới làm nên sự nghiệp.


 Chàng kinh ngạc nhìn bạn, Sơn không còn là ông giáo Tây học Anh văn nữa mà là một con người khác lạ, mái tóc còn rất xanh như dài ra, vầng trán cao lên như mênh mông lên, áo sơ mi bỏ thùng như thòng xuống thành một nếp cổ y. Anh đang giơ cánh tay dài chỉ trỏ như Gia Cát đang hô phong hoán vũ trong một bức tranh Tàu minh họa Tam Quốc Chí vào cái giờ khắc nặng nề trước khi trận Xích Bích xảy ra. Chàng bắt buộc phải tốp cái tính hay diễu cợt của mình mà theo giòng, hùa với bạn:


Bởi vậy, như Phạm Công Thiện mà tôi quen từ hồi anh ấy còn ở 43 Thủ Khoa Huân, Mỹ Tho, mười bảy tuổi đã viết xong bộ Văn học sử Anh quốc bảy trăm trang, đủ can đảm để xé đi khi chưa vừa ý, không thỏa mãn với Phúc âm mà gia đình hằng theo đã mấy đời, bèn cạo đầu tu thiền…


Tới đây Sơn hứng chí cướp lời:


– Đó, ông thấy chưa ai rồi cũng mỏi mê tìm kiếm. Cầu mong Chư Tổ độ trì chúng ta khỏi rơi vào cõi vô vọng. Ông già tôi lâu nay ăn chay trường, chỉ chuyên niệm có hai chữ Mô Phật, không ngó ngàng gì tới nhà cửa vợ con, vậy mà ổng còn luôn dạy tụi tôi: Cái thân ngũ uẩn này nó nặng nề lắm. Biết mọi thứ rồi cũng chẳng đi đến đâu, nhưng phàm việc tới tay thì cứ phải làm. Ai như cái ông anh rể họ tôi, đã có cái ơn cho tôi dạy, trước sau gì cũng đổ, vậy mà ổng bắt mình phải suy tôn. Cực hình.


Từ đó, chàng và Sơn luôn khắng khít nhau. Nể lời bạn, chàng cũng sắm chiếc quần short xanh, sơ mi ngắn tay màu lam, mũ rộng vành, giày bata trắng lên chùa cùng bạn sinh hoạt gia đình Phật tử dù trong thâm tâm chàng cho tổ chức này chỉ là một cách thức Tây phương hóa và tư sản hóa cái đạo Phật vốn từ lâu đồng nghĩa với mê tín dị đoan qua việc các nhà sư phần lớn trốn xâu lậu thuế chỉ chăm lo cúng kiếng cầu con, cầu tài cho một số bổn đạo thường ít học, bao giờ cũng xem Phật như một ông thần đầy quyền năng, sẵn sàng ban phước cho thí chủ.


Hăm sáu tháng mười năm đó, trường đích thân chỉ huy đám học sinh ăn mặc đồng phục diễu hành nhân lễ Quốc khánh. Một dãy dài lồng đèn đang kéo nhau đi thì bỗng nhiên hàng ngũ rối loạn. Đám con gái cười ré lên, một số nhỏ rã ra về nhà.


Hiệu trưởng cho điều tra tìm được thủ phạm là một nam sinh học thật giỏi, cầu thủ xuất sắc của đội bóng nhà trường, nhưng có cha đi tập kết: Nguyễn Thiên Công. Hội đồng kỹ thuật lập tức được triệu tập. Hiệu trưởng kiêm chủ tịch dõng dạc tuyên bố một cách chắc nịch: Đuổi.


Nhưng hai thành viên, một là giáo sư lâu năm nhất trường, một là đại diện hiệu đoàn, chàng và Sơn có lập trường trái lại:


Đương sự chỉ là trẻ con bồng bột, không thể vì chuyện nhỏ đó mà mất đi một kẻ có triển vọng về sau, về học hành cũng như đá banh. Chàng lại được dịp nói đùa: – Đó là một kẻ chân tài, có tài dùng chân.


Cả hội đồng phá ra cười, hết căng. Hiệu trưởng trong lòng hậm hực nhưng không phải không khôn ngoan, tha cho Công, ông được tiếng không phải là thứ gia nô cực đoan của Ngô triều mà còn giữ được một chân coureur khá. Cuối cùng hình phạt chỉ là cảnh cáo, đuổi một tuần. Hú vía. Câu chuyện vặt đó được chàng và Sơn rút thành kinh nghiệm: Chớ đẩy mọi thứ tới vực thẳm phải đối đầu sống chết với nhau. Tiếc thay cho tới già cả hai anh chàng này vẫn chịu bao bầm dập.


Kinh nghiệm trong cuộc sống bao giờ cũng chỉ là kinh nghiệm chết


Mùa thi năm sáu ba, chàng cùng anh Sáu đi chấm thi ở Huế, cũng trọ gần Cầu Lòn với Vàng đang học năm cuối Sư phạm và Hoạn, em nàng Liên xinh đẹp bên kia Bầu Xuân những ngày nhỏ, bấy giờ đang theo chương trình cử nhân Toán. Hoạn luôn thấy đói, phải ăn thêm chút gì đó cho bớt cồn cào. Vàng hỏi tại sao, Hoạn nói:


– Ông chủ nhà tui dạy kèm vốn là cựu quan lại. Chế độ phong kiến cũ qua đã lâu nên xem chừng gia đình ông cũng điêu tàn. Bữa nào dọn cơm cho ông và gia sư cũng chỉ có độc món rau muống, hết khô tới luộc, ông nói: Chừ mình già rồi, cái răng cái rứa nó lung lay hết, nên chi chỉ dùng chút rau, chút cỏ cho dễ tiêu qua ngày.


Thế là ông thầy học thêm của con ông, anh chàng Hoạn đẹp giai, con nhà giàu, học giỏi kia, đành căng bụng ra mà nhá rau theo chủ nhà. Cả bọn bò ra mà cười.


Rằm Phật đản 1963, sau bữa cơm tối ít lâu, trăng sáng mênh mông, một đoàn người xuất phát từ chùa Từ Đàm diễu hành đến Đài phát thanh Huế, xin được treo cờ Phật giáo thì súng nổ, người chết: biến cố đẫm máu.


Chàng được tin, chạy ngay lên chùa Báo Quốc thăm thầy Thiện Châu, liền được chia cho một mớ tài liệu đấu tranh để nhờ mang về Quảng Ngãi phổ biến. Mấy hôm trước chàng hay đến đây chơi, thỉnh thoảng đứng ngoài xem ké Thượng tọa Trí Quang đánh cờ, nhân đó quan sát ông này mà bấy giờ ai cũng xưng tụng là thần tượng của Phật giáo Việt Nam hạ bán thế kỷ XX.


Ông họ Phạm, thế danh và pháp hiệu chung cùng một chữ, gốc Quảng Bình, tuổi Quí hợi, mắt sáng, râu quai nón, đi tu từ nhỏ, học trò của Hòa thượng pháp chủ giáo hội tăng già Trung Việt cùng lứa với Trí Nghiễm (Thiện Minh) và Trí Thủ. Thấy chàng ông hất hàm hỏi Thiện Châu: Ai đó?


Thiện Châu rụt rè:


– Dạ, anh bạn dạy học ở Quảng Ngãi, ra chấm thi tú tài.


Ông nhắp nhắp con pháo rồi đánh sầm một cái như muốn vỡ cả bàn cờ, ăn một con ngựa của đối phương, cũng không cần ngước mặt lên nhìn chàng:


– Chớ thằng Tất chừ đang làm chi trong nớ?


Tất bấy giờ là tỉnh trưởng. Tưởng gì, trong nước đi đó ông mất cả pháo, còn hao thêm một tốt nữa. Lâu rồi, chàng được nghe kể về ông như tất cả huyền thoại, nào thông bác kinh điển, nào trí tuệ vô cùng sáng suốt, như cái tên thật mà ông lấy làm pháp hiệu luôn, nào ông sống vô cùng giản dị, chỉ có một căn phòng nhỏ tại Từ Đàm, Huế với bộ Đại Tạng Kinh bằng chữ Hán để dịch từ hàng chục năm nay và chai nước lã nấu sôi để nguội. Chàng lẳng lặng giây lâu rồi cáo từ ra về.


Từ nhà trọ của chàng dưới chân Cầu Lòn, con gió nồm tháng Tư còn âm vang tiếng dân chúng hô to những khẩu hiệu phản đối việc triệt hạ cờ Phật giáo và đòi hủy bỏ dụ số mười từ thời Bảo Đại, coi tôn giáo này chỉ như bất cứ một hiệp hội nào khác.


Bữa cơm trưa hôm sau, lũ bốn tên này: anh Sáu, Vàng, chàng và Hoạn lại đem chuyện thời sự ra kể cho nhau nghe và cãi như mổ bò. Anh Sáu, người Quốc gia chống Cộng với anh chàng Hoạn đang hoạt động bí mật cho Việt minh trở thành đồng minh. Họ cho rằng không thể chấp nhận độc tài gia đình trị và kỳ thị tôn giáo. Có nghĩa là Diệm nhất định phải bị lật đổ, mọi người nhất là kẻ hiểu biết phải trực tiếp dấn thân tham gia đấu tranh, đó mới chính là: Vivre, c’est re’volter theo kiểu mà triết học hiện sinh bấy giờ đang truyền lan rộng rãi ở miền Nam trong giới sinh viên, nhưng theo một hướng khác: ăn chơi, nói tục, chửi đổng cả bàn dân thiên hạ.


Vàng, anh chàng ba phải, cho rằng ông Ngô Đình Nhu, nhà trí thức từng đỗ E’cole des Chartres nổi tiếng châu Âu, con một đại thế gia và người anh của ông, Tổng thống Diệm, từng được Hồng y Spellman đỡ đầu, người Mỹ lại đã tốn bao công sức chín năm nay thì không dễ gì họ không tiếp tục bênh vực. Vả lại, ông Nhu là nhà chiến lược sâu sắc, lại thêm ghiền á phiện vào, nhất định ông sẽ có kỳ mưu cho một lối ra.


Chàng là kẻ cầu an số một, luôn luôn lo lắng cho nồi gạo của vợ con, ăn chay đủ hai ngày rằm và mồng một hàng tháng, nhằm luôn khan vái Trời Phật mọi thứ đầu xuôi đuôi lọt. Rất ghét cái chính quyền đó, đang bí mật giữ một số tài liệu chống nó trong mình, chàng vờ vĩnh bênh vực thiếu tá Đặng Sĩ, vị chỉ huy đã ra lệnh nổ súng và quăng lựu đạn đêm vừa qua:


– Phật tử có đòi cái gì thì cũng đệ lên cho cấp trên xem xét cái đã. Đằng này, xông vô Đài Phát thanh, người ta tưởng Việt cộng tấn công, bảo người ta không tự vệ sao được?


Đấy, câu chuyện xung quanh chiếc mâm bằng nhôm đã cũ trên chỉ có dĩa rau muống luộc to tướng, dĩa cá bống kho tiêu kiểu rất Huế và tô canh cải xanh lều bều mấy lát thịt. Vậy mà cũng có đầy đủ ba phe: cả Cộng sản và Quốc gia đều chống Mỹ và trung lập.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info







[1] Thiện sinh 1941, sau trở thành một Triết gia, nhà thơ, nhà sư nổi tiếng của Việt Nam, mất tháng 4-2011.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 18.06.2018
Trại súc vật - George Orwell 13.06.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.06.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 11.05.2018
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 07.05.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 07.05.2018
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 07.05.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 20.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
xem thêm »