tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21326461
Lý luận phê bình văn học
15.01.2014
Vương Trọng
Dưới ngọn bút Nguyễn Du, ngôn ngữ Việt giàu thêm biết bao

Tại Pari, trong kỳ họp thứ 37 ngày 25 tháng 10 năm 2013, UNESCO đã quyết định cùng với Việt Nam sẽ kỷ niệm 250 năm ngày sinh của Đại thi hào Nguyễn Du vào năm 2015. Như vậy, Đại thi hào Nguyễn Du của chúng ta đã trở thành “Danh nhân văn hóa thế giới” như Nguyễn Trãi (năm 1980) và Hồ Chí Minh (năm 1990). Đó không chỉ là tin vui, mà là niềm tự hào của mọi người dân Việt Nam, đặc biệt đối với những người say mê Truyện Kiều và các tác phẩm khác của Nguyễn Du.


Chúng ta biết rằng, những nhà thơ, nhà văn lớn thường làm giàu thêm ngôn ngữ của dân tộc mình. Có người nói rằng Gớt (Goethe) đã tạo ra một nửa thành ngữ của Đức, không biết đó là con số chính xác hay là lối nói thậm xưng để nêu vai trò của Gớt trong ngôn ngữ nước Đức. Còn đối với đại thi hào Nguyễn Du của chúng ta, không những Cụ đã sử dụng các thành ngữ, tục ngữ… một cách tài tình mà còn sáng tạo ra nhiều thành ngữ mới. Bên cạnh đó, nhiều từ trong tiếng Việt được mở rộng thêm nghĩa khi qua bàn tay Cụ. Không thể thống kê hết những từ như vậy, chúng ta chỉ đơn cử một vài ví dụ để minh chứng điều đó.    


Theo “Từ điển Tiếng Việt”, chữ NỖI có hai ý. Thứ nhất là chỉ sự tình, sự thể không hay xẩy ra, nói về mặt tác động đến tình cảm của con người như “nỗi bất công”, “nỗi oan ức”. Thứ hai, là từ dùng để chỉ tâm trạng, tình cảm cụ thể (thường vào loại không được như ý muốn) mà con người phải trải qua, ví dụ như “nỗi buồn, nỗi nhớ”…       


Để xem Đại thi hào Nguyễn Du đã sử dụng chữ NỖI như thế nào, trước hết ta thống kê những câu thơ có chữ NỖI trong Truyện Kiều:


Câu 109:  Nỗi niềm tưởng đến mà đau


Câu 178:  Rộn đường gần với nỗi xa bời bời


Câu 221:  Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi


Câu 242:  Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình


Câu 246:  Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây


Câu 535:  Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng


Câu 537:  Gót đầu mọi nỗi đinh ninh


Câu 538:  Nỗi nhà tang tóc, nỗi mình xa xôi


Câu 633   Nỗi mình thêm tức nỗi nhà


Câu 711:  Nỗi riêng riêng những bàn hoàn


Câu 718:  Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây


Câu 765:  Nỗi nàng, Vân mới rỉ tai


Câu 777:  Xiết bao kể nỗi thảm sầu


Câu 852:  Phần căm nỗi khách, phần nhơ nỗi mình


Câu 863:  Nỗi mình âu cũng giãn dần


Câu 987:  Nỗi oan vỡ lở xa gần


Câu 1015:  Kề tai mấy nỗi nằn nì


Câu1082:  Nỗi nhà báo đáp, nỗi thân lạc loài


Câu 1208:  Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung


Câu 1220:  Nước đời lắm nỗi lạ lùng khắt khe


Câu 1250:  Ngản ngơ trăm nỗi dùi mài một thân


Câu 1251:  Nỗi lòng đòi đoạn xa gần


Câu 1318:  Nỗi quê còn một hai điều ngang ngang


Câu 1444:  Để nàng cho đến nỗi này vì tôi


Câu 1464:  Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong


Câu 1527:  Kể chi những nỗi dọc đường


Câu 1528:  Buồng trong này nỗi chủ trương ở nhà


Câu 1635:  Thân sao lắm nỗi bất bằng


Câu 1640: Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân


Câu 1760:  Nỗi lòng luống những bàn hoàn niềm tây


Câu 1790:  Nỗi gần nào biết đường xa thế nào


Câu 1853:  Nỗi lòng kín chẳng ai hay


Câu 1870:  Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng


Câu 1872:  Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra


Câu 1888:  Phải chi mình lại xót xa nỗi mình


Câu 1904:  Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời


Câu 1943:  Sụt sùi giở nỗi đoạn trường


Câu 2000:  Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than


Câu 2006:  Nghĩ mà thêm nỗi sởn gai rụng rời


Câu 2069:  Nghĩ rằng khôn nỗi giấu mình


Câu 2246:  Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời


Câu 2739:  Nỗi nàng tai nạn đã đầy


Câu 2740: Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy càng thương


Câu 2754:  Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai


Câu 2770:  Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn dường


Câu 2776:  Chàng ôi biết nỗi nước này cho chưa?


Câu 1782:  Cực trăm ngàn nỗi, dặn ba bốn lần


Câu 2799:  Thấy chàng đau nỗi biệt ly


Câu 2812:  Để cho đến nỗi trôi hoa, giạt bèo


Câu 2819:  Nỗi thương nói chẳng hết lời


Câu 2847:  Nỗi nàng nhớ đến bao giờ


Câu 2868:  Nỗi nàng càng nghĩ xa gần càng thương


Câu 2915:  Nỗi nàng hỏi hết phân minh


Câu 3027:  Nỗi mừng biết lấy gì cân


Câu 3102:  Đã xong thân thế còn toan nỗi nào


Câu 3140:  Bi hoan mấy nỗi đêm chầy trăng cao


Như vậy, chúng ta đã thống kê được 56 câu thơ trong Truyện Kiều có chữ “nỗi” tham gia. Trừ hai lần “nỗi” kết hợp với “niềm” để thành để thành danh từ “nỗi niềm”, còn ở 54 câu còn lại, ta xem Đại thi hào đã sử dụng chữ này như thế nào. 


Như “Từ điển tiếng Việt” đã định nghĩa ở trên, cũng như theo thói quen thông thường của chúng ta, chữ “nỗi” thường được kết hợp với một tính từ để tạo thành danh từ như “nỗi đau”, “nỗi khổ”, “nỗi buồn”, “nỗi oan ức”, “nỗi bất công”… Trong Truyện Kiều, sự kết hợp này khá phổ biến, đó là “nỗi kinh hoàng” (câu 535), “nỗi thảm sầu” (câu 777), “nỗi oan” (987), “nỗi bất bình” (1464), “nỗi bất bằng” (1635), “nỗi biệt ly” (2799)… Bên cạnh đó, là sự kết hợp khá quen thuộc với chúng ta hôm nay như “nỗi lòng” (1640, 1760, 1853, 1872)… Còn phần lớn trong Truyện Kiều, Nguyễn Du sử dụng chữ nỗi thật mới mẻ, mới mẻ đến nỗi cho đến ngày nay, sau khi Truyện Kiều đã được sáng tác trên 200 năm, chúng ta vẫn chưa mấy ai dám sử dụng chữ này như Cụ.   


Trước hết là chữ “nỗi” đứng độc lập, không kết hợp với một tính từ hay danh từ nào để có một ý nghĩa cụ thể, mà Cụ dành phần đó cho người đọc suy nghĩ mà hiểu lấy. Đó là “gót đầu mọi nỗi đinh ninh”, là khi chàng Kim nghe tin chú mất, tìm tới để than vãn với nàng Kiều. Tác giả không nói cụ thể Kim Trọng tâm sự những gì, mà chỉ dùng hai chữ “mọi nỗi”, chữ “nỗi” ở đây hàm ý những “chuyện” của nỗi lòng. Khi mụ Tú Bà khuyên giãi nàng Kiều sau khi nàng toan tự tử ở lầu xanh, Nguyễn Du viết: “Kề tai mấy nỗi nằn nì” thì không ai hiểu đây là “nỗi nằn nì”, mà tác giả muốn nói mụ Tú ra vẻ nói thật lòng, đưa ra bao nhiêu chuyện để nằn nì, khuyên giải Thúy Kiều.  Rồi “nước đời lắm nỗi lạ lùng khắt khe”, và “Cực trăm ngàn nỗi dặn ba bốn lần”…thì chữ “nỗi” cũng theo nghĩa “tổng quát” này. 


Không biết thời cụ Nguyễn Du về trước đã ai đem kết hợp chữ “nỗi” với một đại từ nhân xưng như trong Truyện Kiều hay chưa, điều mà ngày nay chúng ta ít thấy trên thi đàn. Đó là “nỗi nàng” (2006, 2739, 2847, 2868, 2915) , “nỗi chàng” (2740), “nỗi ông” (2606), “nỗi mình” (538, 633, 852…) …Cách dùng này hiệu quả và mới mẻ ngay cả thế kỷ 21 này.      


Nguyễn Du mạnh dạn kết hợp chữ “nỗi” với một danh từ chỉ thời gian như “nỗi đêm”, “nỗi ngày” (1208) làm cho ý nghĩa chữ “nỗi” được mở rộng ra, gợi người đọc suy nghĩ, liên tưởng. Rồi “nỗi riêng”, nỗi “gần” và bao nhiêu “nỗi” khác nữa.  


Trong Truyện Kiều có hai câu thơ tác giả dùng chữ “nỗi”, theo tôi, là “táo bạo” nhất:


Kể chi những nỗi dọc đường (1527)


Buồng trong này nỗi chủ trương ở nhà (1528)    


Đây là hai câu thơ chuyển đoạn từ việc nói Thúy Kiều để bắt đầu nói về Hoạn Thư. “Nỗi chủ trương ở nhà” là nói Thúc Sinh đã có người vợ chính thức ở nhà thì ai cũng hiểu, còn “nỗi dọc đường” là gì? Trong một chuyến đi công tác, ngồi trên xe có nhiều nhà thơ, khi nhắc hai câu thơ này thì nhà thơ Bằng Việt và Trần Đăng Thao hiểu rằng “nỗi dọc đường” đây là nói chuyện đi đường của Thúc Sinh. Tôi lại không hiểu như thế. Nếu chỉ nói chuyện đi đường thôi, thì Nguyễn Du sẽ không dùng chữ “nỗi” mà dùng chữ “chuyện”: chuyện dọc đường. Trong Truyện Kiều, chữ “nỗi” thường ẩn chứa ý nghĩa sâu xa hơn là “chuyện”. Vậy “nỗi dọc đường” là gì? Theo tôi, “nỗi dọc đường” của Thúc sinh chính là Thúy Kiều, dù có hôn nhân nhưng khác xa sự hôn nhân với Hoạn Thư. Câu chuyển đoạn này nói theo ý nghĩ của Thúc Sinh, coi Hoạn Thư là quan trọng. Như thế thì mới có sự cân xứng giữa “nỗi dọc đường” và “nỗi chủ trương ở nhà”. Nếu vậy, chính Nguyễn Du đã sáng tạo ba chữ “nỗi dọc đường” để nói chuyện tình tang ngoài vợ của các đấng nam nhi. Hiện đại biết chừng nào!  


Bên cạnh chữ “nỗi’ tôi đã trình bày, các bạn có thể khảo sát chữ ‘khuôn” và bao chữ khác trong Truyện Kiều để thấy Nguyễn Du, đại thi hào của dân tộc, một Danh nhân Văn hóa thế giới, đã làm cho ngôn ngữ chúng ta giàu thêm biết bao!


Tháng 12- 2013


VT.


vanvn.net

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Thành phố lên đèn”, niềm thơ thắp sáng trong đêm - Nguyễn Đình Phúc 11.12.2017
Sao lại nói chữ quốc ngữ Việt Nam "rất nực cười"? - Nguyễn Hải Hoành 11.12.2017
Đọc lại bản dịch nổi tiếng Chinh Phụ Ngâm - Vương Trọng 03.12.2017
Thế giới “con rối” trong thơ Nguyễn Đức Tùng - Mai Văn Phấn 25.11.2017
Nguyễn Quang Thiều với "Câu hỏi trước dòng sông" - Tâm Anh 25.11.2017
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
xem thêm »