tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20808610
12.01.2014
Nhiều tác giả
Ghi chú về Mạc Đăng Dung và Vương Triều Mạc (2)

Vai trò vương triều Mạc trong lịch sử dân tộc


    Nhà Mạc tồn tại 65 năm (1527-1592) – Đó là một khoảng thời gian không dài trong lịch sử Việt Nam (nếu tính cả thời gian tồn tại ở Cao Bằng hơn 70 năm nữa, cộng lại là 159 năm) nhưng những cống hiến của nhà Mạc vào lịch sử dân tộc không phải nhỏ... Tuy nhiên, vai trò của nhà Mạc trong lịch sử dân tộc mới chỉ được nhìn nhận trong thời gian gần đây.


    Trong suốt 65 năm trị vì đất nước (1527-1592) nhà Mạc đã trải qua 5 đời vua đó là: Mạc Đăng Dung; Mạc Đăng Doanh; Mạc Phúc Hải; Mạc Phúc Nguyên; Mạc Mậu Hợp. Trong các bộ chính sử thời phong kiến của nước ta như "Đại Việt sử ký toàn thư” thời Lê - Trịnh và "Việt sử thông giám cương mục” thời Nguyễn, cũng như quan niệm của các sử gia đương thời trước thập kỷ 70 của thế kỷ 20 thường coi triều Mạc là ngụy triều, nghịch thần. Nhưng từ những năm 1980 trở lại đây, giới sử học nước nhà đã có những cái nhìn cởi mở hơn, đánh giá đúng hơn về triều Mạc. Đa phần các nhà nghiên cứu đều cho rằng, việc nhà Mạc thay nhà Lê là một tất yếu trong lịch sử Việt Nam.


    Từ năm 1985 đến nay đã có nhiều Hội nghị khoa học nghiên cứu, khẳng định những đóng góp, những tiến bộ của nhà Mạc, đặc biệt thân phận của những người thợ thủ công, những thương nhân được ghi nhận và có địa vị tương xứng hơn trong xã hội. Nhiều tư liệu mới về nhà Mạc qua bia ký, kết quả khai quật, thám sát khảo cổ học đã được công bố. Nghiên cứu về nhà Mạc được đẩy mạnh trong giai đoạn nhà Mạc còn trị vì ở Thăng Long... Trong các Hội thảo khoa học về Hoàng Thành Thăng Long, từ khi phát lộ Hoàng Thành Thăng Long năm 2002 đến nay, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến những đóng góp của nhà Mạc với kinh đô Thăng Long. Nhiều dấu ấn của nhà Mạc đối với Thăng Long được nghiên cứu và đang được công bố dưới dạng tư liệu nghiên cứu và di vật trong hệ thống trưng bày về di vật thời Mạc, để khẳng định các tầng văn hóa từ Đại La - Lý - Trần - Lê Sơ - Mạc - Lê - Trịnh - Nguyễn, trong gần 13 thế kỷ phát triển liên tục của Thăng Long - Hà Nội… Nói về sự ổn định, no ấm của nhân dân dưới thời Mạc, sách Đại Việt sử ký toàn thư và Lê Quý Đôn đã ghi nhận: "Mạc có lệnh cấm các xứ trong, ngoài người ta không được cầm giáo mác và binh khí hoành hành ở đường sá, ai trái thì cho pháp ty bắt. Từ đó, những người đi buôn bán chỉ đi tay không, không phải đem khí giới tự vệ trong khoảng mấy năm, trộm cướp biệt tăm, súc vật chăn nuôi tối đến không phải dồn vào chuồng, cứ mỗi tháng tiến hành kiểm điểm một lần. Mấy năm liền được mùa, nhân dân bốn trấn đều được yên ổn”...


    Theo tư liệu của họ Mạc ở Hải Phòng, huyện Nghi Dương (Kiến Thụy, Hải Phòng ngày nay) quê hương của Mạc Đăng Dung được chọn làm Dương Kinh - Kinh đô thứ 2 của Vương triều ch phủ Thuận An của trấn Kinh Bắc và các phủ Khoái Châu, Tân Hưng, Kiến Xương, Thái Bình của trấn Sơn Nam cho lệ thuộc vào Dương Kinh. Trung tâm của Dương Kinh là Làng Cổ Trai (nay là xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy), đất phát tích của Nhà Mạc. Đương thời, nhà Mạc đã xây dựng ở đây một kinh đô bề thế với nhiều cung thất, lầu phủ, chùa chiền… Hiện nay, Dương Kinh còn một số di chỉ đáng chú ý: Một đoạn tường hình chữ nhật rộng chừng 3.000m (vật liệu xây thành gồm có gạch, đá khối lớn giống như những tảng đá ong thường thấy ở các thành thời Mạc khác); mảnh gốm hoa lan, đồ sành, đồ đá với những nét hoa văn mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 16…


    Theo TS. Nguyễn Văn Sơn - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn khu di tích Cổ Loa - Thành Cổ Hà Nội, thông qua những cuộc hội thảo về nhà Mạc thời gian qua, chúng ta sẽ có nhiều luận giải khoa học làm sáng rõ hơn, đánh giá công bằng hơn những đóng góp của nhà Mạc trên các phương diện: Văn hóa, đào tạo và sử dụng nhân tài, trong vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp, công - thương nghiệp, trong quân sự và những đóng góp cụ thể của nhà Mạc trong việc xây dựng quốc đô Thăng Long - Hà Nội. Những lý giải thêm về chính sách ngoại giao, về nguồn gốc nhà Mạc, tình trạng di tích thời Mạc, đặc biệt, qua kết quả nghiên cứu thám sát ở trung tâm Dương Kinh và các vùng phụ cận, đã làm sáng rõ hơn về diện mạo Dương Kinh - kinh đô ven biển đầu tiên của Việt Nam và trên cơ sở đó, một số nhà nghiên cứu đã đề nghị cần tập trung nghiên cứu khu trung tâm Dương Kinh bằng cách tăng cường hợp tác liên ngành, đa ngành để làm sáng rõ về quy mô, về cấu trúc Dương Kinh.


    So với các triều đại Lý (1009-1225), Trần (1225-1400) và Lê Sơ (1428-1527), triều Mạc tồn tại ngắn hơn (1527-1592), nhưng hơn nửa thế kỷ chính thức đóng đô ở Thăng Long, triều Mạc đã để lại dấu ấn khá đậm nét trong lịch sử Trung đại Việt Nam. TS. Nguyễn Doãn Tuân khẳng định: Chúng ta sẽ không thể hình dung được một Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến với nhiều giá trị lịch sử văn hóa truyền thống tốt đẹp như thế mà không nhắc đến vương triều Mạc đã tồn tại hơn 100 năm trong lịch sử quốc gia dân tộc, với những nổi nét về nhiều mặt trên đất Thăng Long - Hà Nội như thế mà giờ đây thành phố này đã được công nhận là Thành phố vì Hòa bình, được xưng tụng là thành phố di sản, thành phố nghìn năm. Vương triều Mạc là một thực thể trong lịch sử 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội và trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam.


Nguyễn Long


Tác giả Trần Gia Phụng, trong bài: "Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử” có đoạn bình luận xác đáng về sự kiện đầu hàng nhà Minh của Mạc Thái Tổ:


"Năm 1533,... Lê Trang Tông sai Trịnh Duy Liễu cùng hơn 10 người đi đường biển từ Chiêm Thành theo thuyền buôn Quảng Đông tới Trung Hoa xin thỉnh cầu nhà Minh xuất quân đánh nhà Mạc. Năm 1536 một lần nữa Lê Trang Tông sai Trịnh Viên yêu cầu nhà Minh đánh họ Mạc.


Hành động của vua Lê, kêu gọi người nước ngoài về đánh nước mình, trong đó có ý kiến cố vấn của Nguyễn Kim, không bị một sử gia nào lên án. Việc làm nầy đưa đến kết quả cụ thể là nhà Minh cử Cừu Loan làm tổng đốc, Mao Bá Ôn làm tán lý quân vụ đem binh mã sang ải Nam Quan năm 1540. Ngược lại, trong thế yếu, muốn tránh một cuộc chiến mà mình nắm chắc phần thất bại, đồng thời dân Việt sẽ một lần nữa bị đặt dưới ách thống trị trực tiếp của ngoại nhân như thời Mộc Thạnh, Trương Phụ, Mạc Thái Tổ, lúc đó đã lên làm thái thượng hoàng, đành chấp nhận đầu hàng và chấp nhận hy sinh danh dự cá nhân, lên ải Nam Quan (Lạng Sơn) chịu nhục. Nhờ sự nhẫn nhục của Mạc Thái Tổ,... Đại Việt trên danh nghĩa là lệ thuộc Trung Hoa, nhưng trong thực tế vẫn độc lập một phương, vua Mạc vẫn cai trị đất đai từ Lạng Sơn trở xuống, đâu có viên tướng Tàu nào bén mảng sang cai trị. Ai cũng bảo Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh vì quyền lợi gia đình họ Mạc, nhưng giả thiết, một giả thiết không bao giờ có thể quay lại được, Mạc Đăng Dung chống cự quân Minh như họ Hồ, nước ta bị tái đô hộ, thì nhân dân ta còn khổ biết bao nhiêu nữa. Đàng này, Mạc Đăng Dung một mình chịu nhục cho trăm họ bình yên. Người ta ưa ca tụng Hàn Tín khi nghèo khổ đã lòn trôn tên bán thịt chợ Hoài Âm (Trung Hoa) như là một gương nhẫn nhục đáng noi theo, nhưng chẳng một ai chịu chia sẻ với nỗi nhẫn nhục vĩ đại của Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung rất buồn tủi về sự kiện Nam Quan (Lạng Sơn) nên về nhà chưa được một năm, ông nhuốm bệnh từ trần năm 1541”.


Đi xa hơn nữa, tác giả còn so sánh hành động này của Mạc Đăng Dung với vua Lê sau ngày trung hưng về Thăng Long:


... Theo Việt sử Thông giám cương mục: "Sau khi trở về Thăng Long, năm 1596 vua Lê Thế Tông (trị vì 1573-1599) cử người đem hình dạng hai quả ấn của nhà Mạc và vua Lê lên Nam Quan cho đại diện nhà Minh khám xét, nhưng quan nhà Minh không chịu, bắt vua Lê phải thân hành đến gặp. Vua Lê phải chấp hành, nhưng khi đến nơi đợi lâu quá không được gặp quan nhà Minh, vua Lê đành trở về, rối năm sau (1597) lên một lần nữa mới được hội kiến. Sự kiện nầy chẳng khá gì hơn việc Mạc Đăng Dung lên Nam Quan năm 1540...”.


Năm 1541, thượng hoàng Mạc Đăng Dung qua đời, thọ 59 tuổi. Trước khi mất ông có để lại di chúc không làm đàn chay cúng Phật và khuyên Mạc Phúc Hải phải nhanh chóng về kinh sư để trấn an nhân tâm và xã tắc là trọng.


Thời kỳ Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh) trị vì có thể coi là thời kỳ đỉnh cao của nhà Mạc. Lúc đó nhà Lê chưa trung hưng, toàn cõi do nhà Mạc cai quản, cảnh thịnh trị được các sử gia nhà Lê - triều đại đối địch với nhà Mạc - soạn


CUỐN TIỂU THUYẾT ĐẦU TIÊN VỀ NHÀ MẠC.


            Trong lịch sử phong kiến nước ta, nhà Mạc là một triều gây nhiều tranh cãi nhất, đến mức, nhiều nhà viết sử trước đây còn tránh nhắc đến nhà Mạc với tư cách một vương triều, mà chỉ coi nhà Mạc là ngụy triều, còn Mạc Đăng Dung thì bị coi là nghịch thần. Chỉ từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, vị trí nhà Mạc trong lịch sử nước nhà mới được khẳng định dứt khoát, bởi trên thực tế, vương triều Mạc tồn tại tới 65 năm (1527-1592), với 5 đời vua cha truyền con nối trật tự, kỷ cương. Còn bản thân Mạc Đăng Dung, quê làng Cổ Trai, huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng, dẫu chỉ ở ngôi có ba năm (1527-1529), rồi nhường cho con cả là Mạc Đăng Doanh, còn mình làm Thái thượng hoàng, nhưng trên thực tế, Mạc Đăng Dung có tới 21 năm cai quản triều chính, và đó là thời kỳ có thể coi là rực rỡ nhất của nhà Mạc: đất nước bình yên, kinh tế, văn hoá phát triển.


Cũng nên nói, sau khi nhường ngôi cho con, Mạc Đăng Dung, theo cách làm của nhà Trần, lui về quê làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, nay là huyện Kiến Thuỵ, ngoại thành Hải Phòng, xây kinh đô thứ hai, gọi là Dương Kinh, khá vững trãi, sầm uất và tấp nập thương trường. Dương Kinh một thời nổi tiếng giao thương tấp nập trên bến dưới thuyền, cũng là nơi hội tụ nhiều người tài về nghệ thuật điêu khắc, đặc biệt là điêu khắc đình chùa đền miếu.


Một nhân vật cùng một triều đại có bề dầy như thế, nhưng suốt bao nhiêu năm, dẫu lịch sử đã khôi phục lại vị trí của nhà Mạc, nhưng trong các công trình, sáng tác văn hoá, văn nghệ không chỉ với cả nước, mà ngay chính Hải Phòng, nơi phát tích vương triều Mạc, cũng chưa có một cái gì, ngay cả tên một con đường, ngõ phố, mang ý nghĩa đánh dấu về Mạc Đăng Dung và vương triều Mạc. Thế nên, việc nhà văn Lưu Văn Khuê, có nhà sử học Ngô Đăng Lợi làm cố vấn lịch sử, sau một thời gian miệt mài sưu tầm tài liệu, tra cứu sách vở và lao động sáng tạo nghệ thuật đã hoàn thành và cho ra mắt bạn đọc tiểu thuyết "Mạc Đăng Dung", dầy 510 trang, khổ 14,5 x 20,5 cm, do Nhà xuất bản Hải Phòng ấn hành quý 3/2007, là một việc rất đáng trân trọng, cổ vũ. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên, và cũng là tác phẩm văn học, nghệ thuật đầu tiên lấy cảm hứng sáng tác từ vương triều Mạc.


Tiểu thuyết "Mạc Đăng Dung" được chia làm hai phần và một vĩ thanh ngắn, thể hiện rõ ý định của người viết khi phác hoạ bối cảnh lịch sử và quá trình xuất hiện nhân vật. Phần thứ nhất có tiêu đề: "Thời thế tạo anh hùng", nhà văn chủ yếu tập trung miêu tả hoàn cảnh xuất hiện nhân vật chính Mạc Đăng Dung, và cũng là thời kỳ cuối triều Lê, bắt đầu từ đời vua Hiến Tông, Túc Tông, Uy Mục, Tương Dực đến Chiêu Tông, Cung Hoàng (1522-1527). Vốn là một nhà giáo ở trường Cao đẳng Sư phạm Hải Phòng (nay là Đại học Hải Phòng), có kiến thức cơ bản về lịch sử, có trí nhớ tốt, lại có một cố vấn là chủ tịch Hội sử học Hải Phòng, hiểu biết sâu lịch sử, nhất là thời nhà Mạc, tác giả tiểu thuyết "Mạc Đăng Dung" tỏ ra nắm khá chắc những sự kiện lịch sử có liên quan trực tiếp đến nhân vật của mình, để từ đó có cách lựa chọn, xử lý tư liệu một cách tương đối thoả đáng và hợp lý. Trong phần một, trải dài mấy trăm trang sách, qua mấy đời vua nhà Lê, với bao chuyện lục đục triều chính và suy thoái đạo đức, gây bè phái chia rẽ, nhưng nhìn chung nhà văn chọn lựa sự kiện và xử lý tư liệu tương đối có lớp nang, không trùng lặp, chồng chéo, tuy mỗi đời vua sinh hoạt trong cung cấm không có gì khác nhau nhiều, nhưng người đọc vẫn không có cảm giác nhàm, rối. Thêm nữa, Lưu Văn Khuê là người đọc nhiều và nhớ lâu, nên ở phần thứ nhất của tiểu thuyết, anh dẫn ra khá nhiều điển tích trong sử sách xưa, Việt Nam có, Trung Quốc có (chủ yếu là trong"Tam quốc diễn nghĩa"), tạo được công năng gợi liên tưởng, suy nghĩ cho người đọc, biết xưa, ngẫm nay, từ đó người đọc có dịp tham gia vào quá trình cảm thụ tác phẩm. Vì thế, đọc tiểu thuyết lịch sử nhưng người đọc không thấy nặng nề, khô khan, mà ở nhiều chương đoạn còn như có dịp được hiểu biết thêm về lịch sử, những sinh hoạt trong cung đình và cách thức học hành, thi cử qua các triều vua ngày xưa. Chỉ tiếc ở phần này, tác giả còn tham tư liệu, chưa mạnh tay gạt sang một bên những tư liệu không thật cần thiết đến quá trình hình thành và phát triển nhân vật Mạc Đăng Dung, nên dẫu tiểu thuyết hầu như đã ôm được hết một thời kỳ dài, nhưng cái cốt lõi cần tập trung là nhân vật chính, với tư cách là một điển hình văn học, thì nhiều chỗ còn tản mạn, chưa sâu, và còn mờ nhạt về tính cách, với tư cách là nhân vật tiểu thuyết, dù là tiểu thuyết lịch sử.


Phần thứ hai tiểu thuyết có tiêu đề: "Anh hùng tạo thời thế", nhà văn đi sâu tái hiện vương triều nhà Mạc, trải dài 65 năm, từ Mạc Đăng Dung đến con trưởng Mạc Đăng Doanh, rồi Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên, Mạc Mậu Hợp. Tuy tái hiện cả triều nhà Mạc dưới năm đời vua, nhưng nhà văn vẫn chủ yếu tập trung vào nhân vật chính là Mạc Đăng Dung, sau khi lên làm vua, trong ba năm đầu dồn sức ổn định tình hình đất nước, bước đầu mở mang kinh tế, nhất là giao lưu buôn bán, khôi phục thi cử, phát triển đạo pháp. Rồi sau khi nhường ngôi cho con trưởng, Mạc Đăng Dung lui về quê xây dựng Dương Kinh thành kinh đô thứ hai của nhà Mạc; đồng thời vẫn tham gia với con trưởng Mạc Đăng Doanh cai quản triều chính. Nhà Mạc dưới thời cha con Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh có nhiều đóng góp trong việc xây dựng, mở mang nhà nước phong kiến Việt Nam thế kỷ thứ 16, kể cả việc học hành, thi cử đến giao lưu buôn bán, phát triển đình chùa. Nhà Mạc cũng là triều chính có nhiều người hiền tài với những tên tuổi còn rạng rỡ đến ngày nay, như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trần Tất Văn, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ... Nhưng công bằng mà nói, so với phần một, phần hai còn sơ lược, có lẽ vì tư liệu ít, hay vì tác giả quá câu lệ vào sự kiện lịch sử, nên lẽ ra phần này mới là phần chính của tiểu thuyết thì nhân vật chính lại chưa thật nổi, với ý nghĩa là một nhân vật tiêu thuyết, và những gì nhà Mạc còn để lại cho lịch sử cũng chưa được tô đậm, ngoài việc giao thương rộng mở với việc hình thành chợ Minh Thị và vọng Giang Lâu có kiến trúc độc đáo và tấp nập thuyền buôn muôn nơi về tụ họp. Phần vĩ thanh, với 29 trang in, như một cái kết, hoàn toàn mang tính liệt kê tư liệu, có thể giúp cho người đọc có cái nhìn tóm lược về nhà Mạc và thời kỳ Lê-Trịnh nhiều hơn là cái kết mang tính gợi suy nghĩ cho người đọc về một thời và một người đã đi vào lịch sử dân tộc. Dẫu còn mặt hạn chế, "Mạc Đăng Dung" của nhà văn Lưu Văn Khuê vẫn là cuốn tiểu thuyết đáng đọc, đáng suy ngẫm không chỉ về một vương triều, mà còn về một cách nhìn, một cách thể hiện đề tài lịch sử, nhân vật lịch sử đã lùi xa chúng ta hàng mấy trăm năm.


Cao Năm

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà Triệu - Tư liệu sưu tầm 21.10.2017
Triệu Đà - Người lập quốc gia Nam Việt - Tư liệu sưu tầm 21.10.2017
Không thể chối bỏ Triệu Đà và nước Nam Việt! - Hà Văn Thùy 21.10.2017
Việt Nam khai quốc: Triệu Đà (chương 1, phần 3) - Keith Weller Taylor 21.10.2017
An Dương Vương và Triệu Vũ Đế, nên thờ ai? - Vũ Bình Lục 21.10.2017
Lịch sử thăng trầm 4000 năm của người Do Thái (P.1) - Đặng Hoàng Xa 21.10.2017
Thanh Phương - Cô gái Việt kể lại giây phút rợn người khi chứng kiến tục thiên táng của người Tạng - Tư liệu sưu tầm 20.10.2017
Ải Chi Lăng - Nhiều tác giả 20.10.2017
Đại hội 19 Đảng Cộng sản Trung Quốc: Tầm nhìn 30 năm - Tư liệu 18.10.2017
Thác 7 tầng - địa danh kỳ thú còn hoang sơ ở Nghệ An - Nhiều tác giả 18.10.2017
xem thêm »