tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22286119
Tiểu thuyết
11.01.2014
Ngũ Hà Miên
Bão

Các bạn học cùng lớp, lớn hơn chàng vài ba tuổi như Bùi Dã, Nguyễn Đức Thiệt… đang dạy học đã phải ký nhận lệnh gọi nhập ngũ mà vào khóa 12 sĩ quan trừ bị. Đến thăm chàng trước khi lên đường, Dã rớm nước mắt. Anh chàng này cao to, dáng người kềnh càng, khác hẳn người em ruột, Bùi Minh, học cùng lớp, nhỏ nhắn, thơ mộng, chữ như gà bới, kéo violon thật hay. Năm 1950, Dã cũng xin đi dạy cấp hai, nhưng chỉ được một niên khóa đã bị đuổi về làm ruộng vì thuộc gia đình địa chủ.


Anh ta cầm cái cày quả là giỏi hơn cầm bút. Mãi sau tiếp thu anh mới rớ lại được viên phấn, nhờ đó mới có vợ. Hóa ra bỗng dưng anh trở thành cháu rể của chàng, nhưng khi nói chuyện nhau thì họ vẫn xưng ông ông, tôi tôi… như xưa.


Dã nói:


Ông thấy không, trước đây mình đọc Triết học hiện sinh, la vie est absurde, cuộc đời phi lý, thì sự phi lý nó còn ở ngoài ta, ta ngắm nó, ngẫm nghĩ chơi, vẫn bình thản đi dạy học, vui đùa với vợ con.


Bây giờ sự phi lý nó vô tới tận con người mình. Mai đây, tôi phải vô Thủ Đức tập bò qua bãi sân tử thần dưới dây kẽm gai và súng liên thanh bắn xướt tóc sát bên trên. Rồi ra trường, bị đẩy vào chỗ chết cho nhà ông Diệm và đám Công giáo (mẹ Dã đã thí phát xuất gia) nghĩ có độc không chứ. Mà còn trốn đi đâu được nữa, vợ con đùm đề ra đấy rồi (anh có vợ muộn nhưng được bù lại bằng cả một bà xã mắn đẻ), biết vầy thuở trước đi tu quách. Anh nhại thơ Trần Tế Xương.


Chàng thở dài an ủi:


Có làm ông sư thì thời buổi này cũng chẳng yên thân.


Mà thật vậy, chàng đang lo cho chính mình, thì rồi cũng tới liền thôi. Dã ra về, chiều hôm đó, chàng không nuốt nổi miếng cơm vô bụng.


Hồi mạnh khỏe, làm ăn phát tài, chắc bắp trong tay, không ai nghĩ tới ơn trên, tới Thượng đế gì ráo. Bấy giờ, trước một thời cuộc bấp bênh, chàng hoang mang cao độ. Sáng Chủ nhật, chàng nhờ Na, chú em nuôi làm y tá, đưa mình xuống chùa Ông Rau trên chiếc Goebel cũ.


Lâu lâu mới được về vùng quê, chàng tự thấy mình được giải phóng cảnh ông giáo gõ đầu trẻ, một thầy một cô, hai chú nhóc phình bộ ngực nghi bị lao của mình mà hít lấy không khí trong lành của bao cây lá đang dặt dìu reo vui cùng gió bể. Chiếc xe cũ phì phò khạc khói ì ạch leo lên đỉnh đầu chóp núi nhỏ nhô ra biển Đông.


Cái ông Cao Biền không mấy khéo tay khi chém Long đầu hý thủy đã để một giọt máu của nó văng đến mé biển Phú Thọ làm thành một Cổ lũy cô thôn thực tế là một xóm chài nhỏ, bóng dừa thả tóc xuống những mái nhà tranh lụp xụp, lúc nào cũng như mơ màng trong sương. Cả hai rẽ vào một lối mòn độc đáo mà tận cùng là một hang đá cao quá đầu người, rộng hơn sải tay, dài khoảng ba chục bước. Ngoại trừ những phiến đá bằng xếp làm lối đi, rõ ràng do bàn tay con người can thiệp, ngoài ra Hóa công vẫn cho chảy róc rách dưới chân một giòng suối nhỏ nguyên vẹn trong lành. Lạ quá, khỏi hang là vườn sau chùa với dăm ba cây mận, ổi, bưởi, khế tươi tốt và đặc biệt nguyên một giàn thiên lý rộng tới vài chục mét vuông, hoa dắt díu thơm ngát.


Hết vườn, đá lại trồi lên làm thành một cái hang như mồm một con cá đang ngoác ra tha hồ hớp gió từ trùng dương thổi vào. Tượng Phật tổ thật to, tạc sát vách núi nom như đã mấy ngàn năm vậy mà ông sư thì rất trẻ. Chàng tò mò hỏi, sau khi kính cẩn vái chào:


– Bạch thầy, đây đúng là chùa Hang hay chùa Ông Rau?


– Tên nào cũng đúng. Chùa Hang thì bác cứ xem quang cảnh đã rõ. Còn Ông Rau là tên gọi nôm na của sư ông tôi. Ngài mới tịch cách đây mấy năm, thọ gần trăm tuổi. Nói là ông Rau, nhưng thực sự và rõ hơn là ngài chỉ ăn mỗi ngày một bữa, một dĩa hoa thiên lý tươi. Đạo hữu chắc từ trên tỉnh xuống chơi? Xin mời ngồi.


Chàng tỏ ý muốn xin một thẻ xăm. Cả vùng Nam Ngãi đồn là xăm ở đây linh lắm. Đặt đồng bạc hai mươi lên án, chàng lẩm nhẩm khan vái xin chư Phật và ông bà độ trì, báo trước cho sự kiết hung.


Ông thầy giộng chuông khi thiện tín bái lạy. Cuối cùng, chàng nhẩm đọc nhờ vào chút ánh nắng lạnh lẽo từ ngoài hắt vào bên trong:


Quân thị sơn trung vạn hộ hầu


Tín tri kỵ mã, thắng kỵ ngưu


Kim trêu mã thượng khán sơn sắc…


Chàng một lòng thành kính, như anh học trò bé con vòng tay lắng nghe ông sư nhỏ giảng giải:


Bác như ông phú hộ trong núi, mà lạ, tướng con nhà võ (?).


Có ghẻ né ruồi, chàng đang lo ngại việc lính tráng nên giật mình đánh thót một cái vội vàng cải chánh:


– Thưa không phải, tôi đi dạy học.


Sư nhanh nhảu: Tôi biết, trường Trần Quốc Tuấn.


Chi tiết này khiến chàng giật mình kinh ngạc. Và tiếp:


Quẻ này bổn mạng bình yên, gia đạo tốt, con cái mạnh giỏi… được bấy nhiêu từ tốt đẹp, đủ rồi. Không để ông có cơ hội nói thêm điều gì nữa, lỡ ra là điều gở thì sao, nên chàng hấp tấp cáo từ.


Về đến nhà, quả nhiên cái quẻ xăm mới bói, linh ứng như thần, như thâm tâm chàng khi mới đọc sơ qua đã nghi hoặc: Tiểu khu Quảng Ngãi vừa phát tới nhà Lệnh gọi nhập ngũ, yêu cầu chàng phải vào trình diện ngay Trung tâm số 3, Sài Gòn.


Hốt hoảng, thất thố ly nước chè đang cầm trong tay vuột rơi xuống đất vỡ toang. Chàng luống cuống nói với vợ:


– Đúng là xăm chùa Ông linh thiệt, câu thứ hai: nay mai trên lưng ngựa mà nhìn sắc núi. Đi lính. Số phận đã vậy đành thôi.


Rõ là chàng bị bắt lính. Cả nhà buồn hiu. Trên chuyến xe lửa cổ lỗ sĩ từ thời Pháp ình ịch bò chậm như rùa, nhìn ra hai bên đường, trời cuối năm mưa mù mịt, chàng ghi vào nhật ký:


Vào Nam buổi sáng ấy


Mưa mù gió lạnh đưa


Thương mẹ già tóc bạc


Thương vợ trẻ quê mùa


Thương con thơ măng sữa


Thương đất nước xác xơ


Mãi chìm trong bão loạn…


Lần đầu tiên chàng đến Sài Gòn, cuối năm 1960.


Vốn đã nhút nhát. Lại vừa lạ cảnh lạ người chàng tìm tới chỗ trọ của Phước, một người học trò cũ. Cha Phước, một ông thông nhà thương già ở bệnh viện Quảng Ngãi, người Huế, một phó bản của anh xã Thọ nghĩa là ông say mê chiếu bạc còn hơn các thứ có mặt trên cõi đời phù vân này, như vợ con, chức tước… chẳng hạn.


Cuối tháng lãnh lương, ông quẳng cho vợ ít tiền rồi đi biệt, đến Sở rồi về nhà bạn, có khi chui rúc trong nhà ông lao công, đít quần ông cà mòn cả chiếc chiếu rách nhà ông ấy, kề vế lên cái đùi trắng như trứng gà bóc ngon lành của bà lao công đang vén lên gãi sột soạt kia mà sát phạt nhau từng nước bài. Ai cũng khen ông chơi cái gì cũng cao, vậy mà suốt đời ông thua bạc. Vợ phải đi bán bún bò để sống, mấy đứa con học hành rất thông minh, đứa nào cũng khẳng kheo, ốm nhách. Chưa bao giờ ông hỏi tới sách vở của chúng. Muôn đời ông vẫn là ông thầy Sanh, làm nhà thương nhưng áo quần luôn nhếch nhác, cáu bẩn, mắt mũi lúc nào cũng lim dim.


Hồi ông tản cư ở Gò Eo, miền tây Nghĩa Hành, chàng phải nhín bớt chút đỉnh trong cái lương tháng, ngoài ba mươi cân gạo mà khuyến khích Thọ, con lớn ông đừng bỏ học. Khi về dạy Trần Quốc Tuấn thì Phước, em Thọ là học trò cưng trong giờ Việt văn lớp đệ ngũ. Lần này, chàng bị bắt lính vô Sài Gòn, Phước đang ở nhờ nhà người bà con và theo học ban tú tài.


Ôi, chẳng gì bằng tha hương ngộ cố tri, lại là ở cái đất Hòn ngọc Viễn Đông hoa lệ mà chàng mới lần đầu tiên đặt chân tới đây, cái gì cũng lạ, y như hồi 1955 chàng ra Huế. Phước dẫn chàng đi dạo ngược đường Công Lý một chiều, qua khỏi cầu về phía Phú Nhuận, bấy giờ rất còn hoang vu với cả một cái nghĩa trang mênh mông bên tay phải, thực hiện hòa đồng tôn giáo một cách nghiêm túc với cơ man những bia mộ mà Thánh giá và chữ Vạn chen chúc nhau rất ư là đoàn kết.


Sư thầy Hồng Ân ơi, thầy vô đây mà coi Chúa với Phật hòa hiếu bắt tay nhau, ở cái nghĩa trang kiêm Đất Thánh này, các linh hồn tha hồ qua lại các vương quốc Tôn giáo khỏi cần xin chiếu khán visa.


Phước trấn an chàng:


Thầy yên chí đi, em có thằng bạn tên Nguyễn Mạnh Quỳ, anh rể nó là ông trung tá Trần Hữu Dụng đang làm Phó giám đốc Nha Động viên Bộ Quốc phòng. Lính tráng dưới quyền gọi lén ông là Trần Vô Dụng, thế nhưng Quỳ nó bảo em rằng, cứ đút tiền khá vào là ổng rất hữu dụng.


Chàng bỗng giật mình, nắn trong túi thấy nhẹ huênh. Hôm ra đi, vợ vét cả tiền chợ hàng ngày, còn mượn thêm của hàng xóm nữa, vẫn chưa đầy năm chục ngàn. Với cái đám quan tư, quan năm Liên hiệp Pháp sót lại tới thời chủ mới Mỹ này, thì ăn uống bạo mồm là cái chắc. Chàng hỏi Phước:


– Em ước chừng cỡ bao nhiêu?


– Vài ba chục.


– Vậy thì được. Nhưng phải cho chắc được miễn dịch vĩnh viễn, chớ ra giêng mà kêu lại thì tối lắm đó.


– Cái đó thì xua (sure) rồi. Giờ thầy trò mình kiếm cái gì ăn đi.


Họ vào một quán nhỏ, dè đâu lại quán ăn đạo Cao đài, nem, phở, bún gì cũng bằng mì căn, nấm, đậu xanh, tàu hủ tuốt. Cả hai lại được dịp ăn chay cầu Phật gia hộ cho tai tiêu nạn khỏi. Vững tâm hơn, chàng vẫn cảm thấy mình đơn côi nhỏ bé quá chừng, không tiền nong, không thân thích. Đang làm ông giáo hò lơ đấy, phút chốc trở nên Hiệu trưởng Trường trung học Bồ Đề- Quảng Trị, rồi về quê với tất cả tiếng tăm của một thế gia được phục hồi dưới gót giày của người Mỹ thay Pháp ở Đông Dương, mọi thứ đều ngẫu nhiên. Vậy mà sao Mác dạy ta là chỉ có tất nhiên mới quan trọng?


Cứ như con đường Công Lý dài dặc này, nó giống đời sống con người, chỉ có một chiều, một chiều duy nhất từ Hiền Vương đến bến Bạch Đằng với nhà cao tầng, hộp đêm, tiếng nhạc xập xình. Những cô gái mắt hốc màu sâu những bóng đêm, môi hồng má phấn, móng tay nhọn hoắt tự cứa vào thân phận của mình. Con đường Pasteur, một chiều duy nhất với những chiếc xe rác chở những gì phế thải của ngần ấy con người sau một ngày ăn uống làm lụng mệt nhọc và thỏa thuê, những chiếc xe tang đưa những kẻ nằm trong quan tài, bất luận trẻ già ra yên giấc ngàn thu trong lòng đất An Sương vốn bao giờ cũng khoan dung. Còn mình thì trôi dạt vào đây, sắp bị bắt đi cầm súng trong một cuộc chiến tranh mà mình ghét cay ghét đắng, để chết cho ai? Mọi giá, phải trốn khỏi cái vòng nguy khốn vô lý này.


Chàng nói với Phước: Sao thầy thấy buồn quá em ơi!


Phước đùa: – Mới đi mấy ngày đã nhớ vợ rồi, hay là đi kiếm một em nào tiêu khiển. Hay… hay thầy làm thơ đi!?


Chàng cười ra nước mắt: – Có lẽ tôi làm thơ vậy. Chú cho tôi mượn cây bút.


Và tì cánh tay lên chiếc bàn ăn của quán nhỏ nửa đêm, chàng viết bài Đường một chiều về sau được bạn bè và học trò cũ thuộc và ngâm đọc:


ĐƯỜNG MỘT CHIỀU


Một chiều mưa tôi đi giữa lòng đại lộ


Ánh điện tưng bừng, chói chang hè phố…


Bao nhiêu người đi, bóng đổ mặt đường dài…


Sáng hôm sau, gói cẩn thận ba chục ngàn bạc vào miếng giấy ni lông, ràng dây thun cẩn thận đưa cho Phước để nộp ông Hữu Dụng văn kỳ thanh nhưng bất kiến kỳ hình đó. Rồi chàng thu hết can đảm, như một Kinh Kha hiên ngang vào đất Tần, vẫy một chiếc xích lô, ngất ngưởng đến Trung tâm 3 tuyển mộ nhập ngũ thuộc quân khu Thủ đô Sài Gòn bấy giờ.


Mới nhác đọc cái lệnh gọi, viên trung sĩ làm giấy tờ đã quát vào tai chàng:


– Nguyễn Văn… sinh năm 1931 hở? Sao lẩn trốn giờ mới tới? Khóa 13 người ta đã vô học cả rồi, lẽ ra phải đưa ông lên thẳng đội Trừng giới cho nhẹ việc của tôi.


Nghe nói chàng hoảng quá, run cập thanh minh.


– Dạ thưa trung sĩ, nhà giáo ở Quảng Ngãi và Tam Kỳ có tới hai người, đều tên Nguyễn Văn… Trung sĩ coi giùm tờ lệnh gọi nhập ngũ này, sau lưng nó có ký nhận của trường Trần Cao Vân, Tam Kỳ. Không biết tại sao cái ông giáo sư Nguyễn Văn… ở đó không đi mà lại gửi cho tôi.


Có lẽ viên trung sĩ ngẫm nghĩ theo kiểu Lafortaine: Miễn là cá đã cắn câu, thả ra ta nghĩ còn ngu nào tày nên dịu giọng:


– Thôi thì ta làm phước nhận ông.


Thấy cái đà gây được cảm tình, chàng dúi ngay cho viên trung sĩ hai gói thuốc lá Ruby:


– Trung sĩ thương cho, tôi mới bị mổ, lại đang sốt rét nặng, xin ông trình lại với các bác sĩ giùm. Xin lỗi, nhà trung sĩ ở đâu tôi không dám quên ơn.


Viên trung sĩ thuận tay lật nhìn mí mắt chàng: chỉ một màu trắng dã của người mất máu lâu ngày chắc khả thi. Ông nói:


475/  Lê Văn Duyệt, Hòa Hưng.


Cái bản năng mau nhớ của chàng hữu dụng rõ ở đây, chẳng cần lấy giấy ghi chép, chàng nhớ như in địa chỉ đó.


Buổi chiều, nhìn số thanh niên đến trễ chàng thấy ai cũng đen đủi mạnh khỏe, tất cả đều bị lột truồng đi cân đo đong đếm, thử máu xem có ai bị hoa liễu, giang mai, mào gà gì không, chụp phổi cẩn thận.


Tối đến khi ăn dĩa cơm năm đồng có cái đùi gà ở căn tin, chàng lần đầu tiên ngủ trong trại lính của thực dân đế quốc, được phát cho một giường bố và màn cá nhân, tất cả đều màu xanh lá cây đậm của bộ binh. Không hiểu sao, cuối tháng Mười một dương lịch mà Sài Gòn đêm đó gió lộng quá trời, mái tôn hú lên như gọi hồn sĩ tử, trong khi bọn lính mới tò te kia nói cười rôm rả rồi ngủ ngáy ầm ầm thì chàng thao thức mãi.


Sáng ra, làn da tái mét và đôi mắt sợ sệt trắng xác, cộng với một thân hình gầy gò, trông chàng như một bóng ma thật.


Viên trung sĩ dẫn cả bọn lên phòng khám, nơi có hai bác sĩ quân y còn trẻ, một người ghi ghi chép chép, người kia cầm ống nghe, thỉnh thoảng lại đưa phim phổi lên coi, hoặc bắt tân quân há miệng cho ông xem kỹ hàng răng.


Đến lượt chàng, viên trung sĩ nghiêng mình nói nhỏ vào tai vị bác sĩ đang ghi chép cái gì đó. Ông này hất đầu lên:


– Nguyễn Văn… sinh năm ba mốt, mấy ký?


– Dạ, ba mốt.


– Thanh niên gì mà ốm thế? Vậy hồi đó anh đâu đủ cân để làm hồ sơ đi dạy học?


– Thưa, tôi đi dạy rồi mới bị mổ sỏi bàng quang và bị sốt rét.


– Đâu nào, đưa tôi xem.


Bác sĩ nhìn chăm chú quan sát vết sẹo ngoằn ngoèo ở bụng chàng, chậc lưỡi mấy cái, nhìn viên trung sĩ như thăm dò, rồi hỏi ý người bạn đồng nghiệp kia:


Có lẽ nên cho miễn dịch vĩnh viễn. Sức khỏe này lần sau có tái khám cũng vậy thôi.


Chàng đưa mắt sang vị bác sĩ thứ hai, cầu khẩn. Nhưng ông này thản nhiên đáp:


Tình hình căng lắm. Trên lệnh cho tụi mình phải vét hết, què mù gì cũng lấy. Nhưng thôi, cho hoãn dịch một khóa đi.


Chàng nghe thấy sướng rơn người, nhưng cố giấu vẻ vui mừng, đắc nhất nhật, ông bà ta dạy vậy.


Thế là chỉ ngay chiều hôm đó chàng ra trại. Quỳ được dịp là nhờ hắn nói với anh rể nên mới có kết quả như vậy. Nhưng chàng thì tìm tới ngay nhà viên trung sĩ. Hóa ra anh ta là đồng hương, cha mẹ vô đây làm ăn trước 1945, cũng bị bắt lính hồi còn Tây, có người anh họ xa làm tới Giám đốc Nha Động viên: đại tá Nguyễn Đức Đệ.


Chàng vờ ra ngoài mua thuốc lá, trút cả túi tiền mua quà cho thằng con anh ta:


Đại tá Đệ thì tôi không biết. Nhưng cha của đại tá thì tôi lạ gì. Ông suốt tháng mải mê đánh tài bàn tổ tôm ở nhà ông cha vợ anh Sáu tôi.


Lại tha hương ngộ cố tri nữa. Hai bên ôm vai bá cổ nhau như bà con cật ruột, quả là bất cầu nhi đắc, và cái đắc loại đó bền chặt biết bao. Chàng cười thầm, cái ông dượng trợ này, tuy là trợ chớ ông nào có dính dáng gì tới nghề giáo đâu. Nguyên ở Sông Cầu, Phú Yên. Ông con nhà giàu, phong lưu tài tử, nhưng chữ nghĩa chỉ học qua quít. Trời cho có số sang, may được làm chồng cô trợ giáo, từng học Đồng Khánh, đỗ đít lôm thì ông được người ta quen miệng gọi, tấn phong làm dượng trợ thế thôi.


Anh Phạm Viết Tùng có kể lại là anh kêu đại tá Đệ bằng anh con cô ruột, hồi nhỏ anh được cô mang vào Phú Yên, cho vào lớp cô dạy khiến anh chơ vơ là cậu học trò con trai duy nhất trong trường nữ tiểu học tha hồ bị đám nữ quái trêu chọc. Nhờ lỳ đòn từ bé lớn lên anh đi làm chính trị chọc lại người ta. Đấy, cuộc đời dượng trợ, anh Tùng đã phải trả giá cho nó bằng tất cả tù đày lao khổ suốt đời.


Chàng kết làm anh em với viên trung sĩ và về chỗ trọ với lòng phấn khởi vô biên nhưng túi rỗng tuếch. Chàng định ở lại chơi mấy hôm cho biết Sài Gòn, đầu tiên là xuống người bạn giàu có Phạm Viết Tích để vay ít tiền cái đã.


Tích học lớp với chàng ở Trung học mười năm trước, cháu nội cụ cử Phạm Viết Trinh, một thế gia ở Sơn Tịnh. Tích đã có thời gian dạy khế ước tại Trung học Trần Quốc Tuấn, nhờ đó cưới được một nữ sinh trắng trẻo, đô con, ngực bốc lửa làm vợ. Bán được mấy cái nền nhà của mẹ, Tích có tiền bèn thi vào Đại học Sư phạm, nay đã gần ra trường, hiện thuê nhà ở với vợ con trên đường Cô Bắc vốn là một căn phố lầu của tướng Hòa hảo Ba Cụt Lê Quang Vinh hiện giao cho bà Cao Thị Nguyệt quản lí.


– Bà ấy hiện ở Pháp, sau khi đấng phu quân bị ông Diệm dụ bắt được chém đầu.


Tích vừa đưa ngón tay trỏ ngoáy cái mũi khoắm rất đỗi vui mừng gặp bạn và giới thiệu chỗ trọ của tiểu gia đình mình như một di tích của danh nhân:


– Ba Cụt xứng đáng là danh nhân chứ. Được làm vua thua làm giặc mà, bậc thảo dã anh hùng ẩn trong rừng đước, rừng tràm mà phút chốc vẫy vùng nên sự nghiệp cầm tướng ấn trong tay. Bọn ta chỉ là lũ nhai văn nhá chữ kiếm cơm.


Tích không đẹp trai nhưng tóc xoắn, mũi cao, rất thông minh, giống ông nội và người anh chú bác Phạm Viết Tùng. Vợ Tích, cũng là học trò của chàng, nhà Công giáo dòng. Hồi đám cưới, Tích cũng phải học Kinh Thánh hàng tháng và làm lễ rửa tội, đi nhà thờ đều đặn. Nhưng từ khi có con, anh ta bất xá tất cả. Gia đình anh là cả một xã hội liên tôn thu gọn: mẹ đi chùa mỗi tối, ăn chay, tụng kinh niệm Phật tuần thành. Vợ, một Kitô hữu siêng năng. Hai người anh ruột thì một người theo Tin lành rất tích cực công tác truyền giáo, còn người nữa là kẻ khai sáng mối đạo Bà Hai rất ư mới mẻ ở cái thị xã Quảng Ngãi nhỏ bé này.


Buổi sáng, Tích đi học thì chàng dạo chơi đâu đó theo các tuyến xe buýt mà Tích dặn dò rất kỹ. Chàng nhờ một người học trò tin cho anh giáo sư Bùi Đức Chu đào viên kết nghĩa bấy giờ đang làm Dân biểu Quốc hội, có chiếc Đơ xăng troa đã cũ, tới đưa đi chơi những giờ anh ấy rảnh. Nhờ đó, chàng đến được Sở thú và lần đầu tiên trong đời thấy được con cọp, ôi cái con cọp tướng tinh hắc hổ của chàng theo lời cha kể lại, mày hiện giờ ở đây chăng, hỡi tiền kiếp của ta?


Tích về nhà, buổi trưa ở trần trùng trục nằm lăn trên nền gạch, mang những chiếc ô tô đồ chơi của thằng nhóc nhà mình ra, say mê dùng tất cả sức cánh tay đẩy cho thật mạnh rồi thừ người ra nhìn. Ai biết anh nhìn cái gì, những đồ chơi tầm thường của trẻ con hay khoảng không mênh mông nào trong trí tưởng?


Một buổi chiều anh láy mắt ra hiệu cho bạn:


– Đi chơi đi!


– Đâu?


– Mặc tôi, cứ đi theo đã. Đã vào đây bạn bè bảo sao con ngồi đấy.


Hai đứa lỉnh ra khỏi nhà. Tích kêu một chiếc taxi, ra dấu cho bác tài lên Thủ Đức. Xuống xe, đi bộ vào một xóm nhà dân lạ hoắc, thiếu điều muốn long chân. Tích chui vào một nhà lá tối om, vẩy tay kêu một mụ trung niên béo phì đang ngồi soi gương nhổ lông mày:


– Nầy, cho hai em, lựa đứa nào còn mới và coi cho mát mắt.


Người đàn bà khỏi cần ngước lên, giọng trong như nước suối:


– Cứ vào thẳng như mọi khi, có con Trinh và con Ngọc mới từ Cần Thơ lên đó.


Tích và chàng lại phải chui qua một tầng cửa nữa, quanh mảnh chiếu trải dưới đất là một sòng xì lát, mấy cô gái xúm nhau bu đen nghịt.


Tích ra giọng thành thạo:


– Trinh và Ngọc đâu, ra anh bảo.


Hai cô bước ra khỏi chiếu, đều khoảng mười tám hai mươi, da trắng, tóc dài, ngực hở để lộ cả đôi bầu vú nõn nà ngon lành. Mùi nước hoa rẻ tiền xông lên, nhưng đối với chàng, một gã nhà quê mới ra phố nó thơm tho làm sao.


Tích gật đầu ra vẻ vừa lòng, chỉ vào bạn và quay sang một cô nói:


– Chồng em đây. Hầu hạ anh ấy được lòng thì anh có thưởng.


Đoạn, anh kéo cô còn lại đi với mình. Chàng chưa kịp phản ứng thì cô gái đã áp tới, hôn đánh chụt một cái thật ngọt vào má chàng và bảo:


Thôi, về nhà chúng mình đi.


Nhà đây là chiếc giường tre một người nằm sau hai miếng màn vải hoa đã nhục bên cạnh. Nàng ghì chàng xuống, chậm rãi gỡ những gì có trên người mình rồi đến lượt cho chàng thoát y luôn. Đầu tiên, chàng có cảm giác rất lạ lẫm, nhưng nhìn cánh tay trắng nuốt, tròn lẳn và núi lửa căng đầy sức sống trên đôi ngực trần tuyệt đẹp, nhất là mùi nước hoa, ôi sao nó giống mùi Rê ve’d or ngày chàng động phòng hoa chúc vậy? Chàng hôn vào vú nàng:


– Năm nay em bao nhiêu rồi?


– Mười tám.


– Quê đâu?


– Vĩnh Long.


– Sao phải đi vậy?


– Học đệ tứ, cha tử trận, mẹ không nuôi nổi nữa. Ô, mà sao anh hỏi lẩm cẩm vậy, đi cho lẹ, em có hẹn.


Rồi nàng vuốt ve, mơn trớn, nhưng câu nói như gáo nước lạnh dội vào người khiến chàng mất hứng. Cho là cô gái nói thật đi thì sao cái cảnh đời nó nghiệt ngã vậy? Mai đây chàng cũng bị buộc đi làm bia đỡ đạn, ngã xuống một cách vô nghĩa làm mồi cho cây cỏ, thì vợ con chàng sẽ ra sao. Chàng vội vã buốc hoa cho cô gái, rồi bận lại áo quần đi ra giữa sự ngạc nhiên của người đẹp.


Tích đã xong xuôi đâu đấy rồi, đang ngồi chơi. Hỏi: – Thỏa mãn không?


Chàng nói dối: Tuyệt lắm.


Tích trả tiền, hẹn ngày tái ngộ, lại kêu taxi.


Xe qua cầu Bình Triệu, nhìn xa sông nước mênh mông, chàng bỗng như xót xa nhớ đến dòng Trà Giang quê mình trong khi Tích thao thao bất tuyệt với bác tài về các loại xe nào Renault, Simca, Dauphin… Anh nói thế nào khi ra trường đi dạy cũng cố kiếm một cái tàng tàng mà đi cho đã.


Đến Đa Kao, đột nhiên Tích bảo rẽ lên Công trường Ngã sáu rồi đi Ông Tạ bấy giờ dân di cư mới vào làm thành một khu buôn bán rất tấp nập. Lại xuống xe, lại chui và những ngõ hẻm ngoằn ngoèo, đến khi Tích gõ cửa một nhà thổ tươm tất hơn. Chàng nhìn bạn, hết hiểu cái con người chẳng mấy khỏe mạnh đó lại có sức thần Vu Sơn sao mà thích mây mưa đến độ tới tấp như vậy, chưa kể anh còn phải trả bài hằng ngày cho bà vợ đẫy đà như Kim Novak, bấy giờ đang là huyền thoại Holywood. Nước hoa quý phái hơn, cô gái điệu nghệ hơn, giường chiếu sạch sẽ hơn, có cả nệm bông tử tế. Thấy bạn có vẻ tần ngần, Tích khuyến khích:


– Tôi muốn ông thử cho đủ mùi, còn sức trẻ hăm tám, hăm chín như tụi mình đánh dư trăm trận như chơi, xuống ngựa chừng tiếng đồng hồ là sức thừa ứ ra, lo gì. Có lần tôi vô xóm Bình Khang, mới leo lên bụng con bé nọ mấy phút thì sorry ngay. Tôi bị nó cho ăn cái tát tai và bảo: Mần ăn dở thế mà bày đặt chơi bời. Vừa uổng tiền, vừa chọc thèm người ta.


Không biết Tích nói thật hay bông đùa, nhưng lần này chì chàng không lẩm cẩm hỏi vớ vẩn như hồi nãy ở Thủ Đức nữa. Ôm người con gái lạ trong tay, chàng tưởng tượng đến vợ mình, tận hưởng khoái lạc trên một thân xác mới mẻ. Sức trai của một người chưa tới ba mươi, xa nhà đã lâu làm người con gái rên xiết vì sung sướng, quên mất mình là kẻ bán dâm, cả chàng, chàng cũng không còn nhớ mình đang mua hoa, qua cơn thèm khát nhất thời.


Hôm đó ra về, chàng không hiểu tình yêu thực chất là gì? Tình yêu có cần quá khứ không? Khi Adam và Eva đã hiện hữu, nhưng phải chờ đến sau cái lúc ăn trái cấm mới nhận ra tất cả sức quyến rũ cay đắng ngọt ngào của nó, thốt nhiên thấy được một nửa bên kia của mình đẹp đẽ và cần thiết làm sao, muốn cùng hòa làm một, theo thuật ngữ Tôn giáo, nhưng đồng thời lại tự lấy làm xấu hổ, phải quơ vội lấy chùm lá cây che cái phần được xem là kín đáo, quý báu của mình. Là sứ giả của định mệnh, tình yêu trước hết là bản năng truyền giống, không cần ai dạy bảo, tất nhiên nó chối bỏ các định tính như: cao thượng, lý tưởng, thấp hèn, xác thịt… Bỗng chàng thấy yêu mê, thèm khát cái cô gái hồi nãy, nàng có lẽ là một cái tên Hồng hay Yến gì đấy, chàng nhắm nghiền mắt tưởng tượng trở lại chiếc lồng ngực đồ sộ với đôi bầu vú nở nang của nàng, trắng nõn, úp khum khum như điện Capitol, cao như núi Thái Sơn mà chàng, mới mấy giây đây thôi, vùi mặt vào đó, hít ngửi, tận hưởng mùi thơm da thịt. Sau đó mê ly phiếu điếu, đánh mất cá thể của mình trong biển sâu u huyền và tĩnh lặng của khoái cảm.


Chàng cố ghi nhớ cái con hẻm có chiếc am thờ Phật ở đầu đường núp dưới chân một cây bồ đề sần sùi nhưng không rậm rạp lắm, lối đi vào xóm Bình Khang. Bữa sau chàng nói dối bạn đi dạo chơi để tìm lại chỗ cũ nhưng lại như Lưu Nguyễn lạc lối Thiên thai, không còn tìm ra dấu vết. Chỉ có Thượng đế mới có thể tạo ra được một tấm thân trong ngọc trắng ngà như vậy. Chàng đã không trông đợi mà làm chủ nó, với tất cả cộng hưởng từ phía bên kia để cùng rung lên trong một độ cao tần số hạnh phúc dù ngắn ngủi một sát na thôi cũng đủ.


Hơn một tuần lễ ở Sài Gòn, chàng cảm thấy cái hiểu biết của mình rộng ra bằng những cọ xát thực tế, từ việc đưa hối lộ mà cái học nhà trường và Kinh viện của chàng không bao giờ nghĩ tới, cả những vụ đụng chạm da thịt, một thứ men say vô cùng mới mẻ của một gã con trai chân chỉ hạt bột quê mùa. Nhưng rồi, cũng phải trở về đời sống của một nhà giáo tỉnh lẻ, nghiêm nghị, dính chút máu văn nghệ thời thượng.


Trên con tàu hỏa về quê chuyến ấy sao mà đất trời lồng lộng như buổi mới khai nguyên, đến những khúc quanh, chàng thấy cái đầu máy hồng hộc như con thú hoang chạy cuồng trong cánh đồng đất cát trắng mênh mông dưới trời đầy sao. Qua khỏi đèo Cả, trời bỗng gió bão, mưa dầm bất tận, tiếng nhạc xình xịch của hai hàng bánh sắt lăn trên đường ray, đánh nhịp cho tiếng gió hú đêm cuối tháng mười khiến chàng thao thức:


Đường khuya núi dựng trập trùng


Gió oằn cây lá, mông lung bốn bề


Mây bay tới tấp trời quê


Một bước quay về: muôn nỗi nhớ thương


Đêm mưa tấu nhạc dặm trường


Lòng ơi, sông nước cố hương nhiệm màu


Thuở nào chở mộng ngàn thâu


Ăm ắp toa sầu, bước cũ chông chênh


Đã đành thân phận linh đinh


Ngàn dặm một mình một bóng lẻ loi.


Giao mùa cho nhạt màu trời


Con tàu đi lạc, hơi may lạnh buồn


Ga nào là bến sông Tương


Biết ai xuống đó, người thương con chờ?


Vậy mà, Tết năm Sửu liền đó chàng lại nhận được lệnh gọi đi lính nữa, coi như số tiền ba chục ngàn đồng đã đưa cho Quỳ mất toi chàng bực tức chửi thề:


Tiên sư anh em nhà thằng Vô Dụng!


May làm sao, Vàng, bạn nối khố đang học năm thứ nhất Sư phạm Huế đến báo tin nó cũng có lệnh gọi. Đương lúc tai nạn, gặp người cùng cảnh ngộ, đồng bệnh tương lân. Hai đứa tính kế. Vàng có óc hài hước và rất tốt với bạn bè, thường ngày hoạt bát lắm, nay trông buồn hiu:


– Tui thì nhất định là tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách. Nhưng khốn nỗi mẹ già, lại vợ con đùm đề, trốn đi đâu? Lần này tui với ông ra Đà Nẵng, phải giả bệnh thôi. Mấy bữa nay tui hút thuốc lá dữ lắm cho nám phổi. Còn ông, ông cũng có cái lợi thế sẵn là rất nhẹ cân.


Đang lúc bối rối, gợi ý của Vàng làm chàng như hoắc nhiên đốn ngộ:


– Eurêka, mày như Gia Cát Khổng Minh. Có vậy mà lâu nay tao không nghĩ ra. Nhưng thế nào tao cũng xuống chùa Ông Rau bói một quẻ.


Một mặt thi hành khổ nhục kế, chàng nhịn cơm. Nhưng cái đói quay quắt tới hành hạ chàng. Cái dạ dày khốn kiếp cứ réo gọi đòi ăn, không sao chịu nổi. Bỗng chàng nhớ tới bà xã to béo của quan quận Phạm Ngọc Nồng. Lại Eurêka. Chàng bảo vợ là mình theo ông Xích Tùng Tử tu tiên tịch cốc, mỗi ngày chỉ chủ yếu no bụng bằng chuối cây xắt trộn dấm chua làm rau với vài củ khoai lang luộc chấm muối. Tết người ta vui chơi, bông hoa, pháo nổ, bánh mứt, thịt mỡ dưa hành, chàng ăn uống thanh tịnh như một đạo sĩ thứ thiệt. Mồng hai, chàng y kế đi lễ chùa.


Lần này chàng đàm đạo rất lâu với vị đại đức trẻ, nhìn quang cảnh tiêu sơ của chùa, chàng thắc mắc hỏi Đại đức sao không trùng tu trong khi ngôi cổ tự được đồn đãi là có ống xăm rất linh, thiện tín ra vào tới tấp. Đại đức vuốt nếp cà sa bạc màu của mình, từ mẫn đáp:


– Xin giáo sư thông cảm. Hồi sau đình chiến ít lâu, có một nữ Phật tử ở Huế vô đây xin xăm. Không biết sao bà ấy gặp may làm sao mà phát đạt lắm, giàu có muôn vạn. Bà ấy quì lạy xin sư cụ cho bà bỏ tiền trùng tu chùa, xây tháp chuông, cất lầu cao thờ Phật và sửa sang hậu liêu cho khang trang thì sư cụ một mực từ chối. Tôi thừa lúc rảnh rang bạch hỏi thì sư cụ dạy rằng: – Con không biết sao? Tất cả chúng ta đều chịu nghiệp hết. Vị tín nữ đó đi trong đời sống, muốn có được tiền của trong thế gian thì phải thủ đoạn. Cho nên, mỗi đồng bạc của người ta đều mang nghiệp cả. Nay người ta đem tiền đó đến đây xây cất nguy nga, cho ta thừa dụng thì cũng chẳng hay ho gì. Đức Phật đã từ bỏ tất cả để chỉ ngồi dưới gốc bồ đề thì chúng ta, những kẻ theo ngón tay chỉ mặt trăng của ngài, mưu cầu giải thoát, đâu cần phải chùa to, miễu lớn?


Nghe những lời mộc mạc đó, thốt nhiên chàng thấy lòng mình an tĩnh lạ thường. Và chàng xin xăm.


Sáng xuân, biển một màu bạc cho đến cõi xa mù. Sóng vẫn ngàn năm kêu gọi u hoài. Chàng tập trung tinh thần mời mọc thiêng liêng và kết quả Thánh dạy chàng nên xuất hành về phương Nam.


Mồng sáu Tết, chàng đi xe lửa vào Phan Thiết, nơi ông bác sĩ Bá đang làm Trưởng ty Y tế, người mà chàng nghĩ là sẽ tận tình giúp đỡ mình. Vất vả trong chuyến xuất hành xa xôi đầu năm, chàng vừa theo hướng của quẻ bói, vừa tiêu phá thêm chút nữa cái sức lực vốn đã tiều tụy của mình. Nhất cử lưỡng tiện cho chắc ăn, chàng nghĩ vậy.


Trên đường, chàng ghé thăm anh Bảy, bấy giờ đang dạy trường Trung học Văn hóa ở Nha Trang, sẵn tiện hỏi mượn anh ít tiền, nhưng anh đang phải gom sức để mua xe hơi. Thất vọng, sáng hôm sau chàng lên xe đò vào Phan Thiết, mặc dù được anh ân cần mời mọc ở lại và chàng rất mê ánh nắng xuân đang sưởi ấm những hàng dương bên bãi biển và tiếng sóng thì thầm, nhất là dáng đứng trầm tư của Tháp Bà huyền bí. Ôi, từ những người khỉ Sa Huỳnh đầu tiên sinh sống nơi đây đến đời ta, như lời thơ Trương Nhược Hư?


Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ


Giang nguyệt niên niên vọng tương tự


Hai vợ chồng bác sĩ Bá tiếp đón chàng rất nồng nhiệt. Đích thân ông đánh xe đưa chàng đi thăm Lầu Ông Hoàng và mộ Yersin. Đến chơi nhà một thân chủ của ông, chủ vựa mắm, lần đầu tiên chàng được chứng kiến cây bạch mai, loài kỳ hoa mà chàng chỉ được nghe biết trong huyền thoại, được dùng tên đặt cho một thị xã nổi tiếng ở Hà Tiên ba trăm năm trước. Nó đứng dậy, bông trắng muốt, đang run run trong gió sớm xuân sang, mùi hương thanh khiết nhẹ nhàng tỏa ra lẫn với mùi con thuyền Phan Thiết trái khoáy vậy đó.


Ông Bá hào hứng vỗ vai chàng:


Nghệ sĩ và nhà khoa học đã ra người thiên cổ, kẻ Á người Âu, nhưng những bài thơ và vacxin trừ bệnh dại vẫn ở lại với đời. Chân và mỹ đều vĩnh cửu. Anh có chút khả năng viết lách, ráng để lại cái gì cho mai sau. Ý ông muốn chỉ Hàn Mặc Tử và Yersin.


Chàng cảm động tạ lòng tri kỷ:


– Ai cũng muốn vậy, chỉ e lực bất tòng tâm. Và nếu làm được văn chương, tôi chỉ mong ghi lại hình ảnh những người mà định mệnh đã may mắn cho mình hân hạnh gặp trên cõi nhân sinh này, để gọi là xin tạ ơn đời.


Khi chàng ngỏ ý muốn được giúp đỡ về việc trốn lính, ông Bá tỏ ra chín chắn:


Dễ mà khó. Tôi rất ghét ông Diệm, nhất là Ngô Đình Cẩn. Hồi Diệm mới về, tôi vận động đồng hương Quảng Bình ủng hộ họ Ngô đấy. Vậy mà mới hơi chắc cái ghế, nó bắt tôi giam ở nhà lao Thừa Phủ mấy tháng, kết tội tôi đã ký tên vào kiến nghị đòi phải thực sự hiệp thương với miền Bắc, bầu cử thống nhất đất nước.


Lúc về Trưởng ty Y tế Quảng Ngãi, tôi ra sức phát triển y tế nông thôn, đào tạo mấy trăm y tá và bà mụ hương thôn phục vụ bà con nông dân. Tỉnh trưởng Tất nghi tôi làm việc cho Việt cộng, buộc tôi phải đổi đi. Vào đây, tôi được linh mục Nguyễn Viết Khai, cha lễ của ông Diệm lui tới thăm viếng luôn. Ông hỏi sao lại đòi hòa bình, sao sống giống Việt cộng quá vậy?


Tôi nói: – Hòa bình thì ai không muốn? Cha cũng người Đàng Ngoài, chắc cũng mong hết chiến tranh để về thăm mồ mả ông cha chứ? Còn Việt cộng sống ra sao thì tôi không rõ, nhưng nếp nhà tôi từ xưa giờ là ăn tiêu cần kiệm, làm việc siêng năng, không lấy của phi nghĩa, giữ nắm điều cấm và luôn luôn bố thí. Tôi đâu biết là Việt cộng họ cũng sống như vậy?


Cha Khai cười, nói: – Cũng lạ hí, để thử coi. Bấy giờ ổng rất có ảnh hưởng với Diệm. Không biết ý ổng sao. Còn việc đi lính của anh, không cần nhờ ổng. Chồng người bạn của vợ tôi là bác sĩ Lâm đang làm Giám đốc Tổng y viện Đà Nẵng. Ông ấy rất tốt, lại chơi thân với hai bác sĩ Trần Đình Nam và Huỳnh Tấn Đối, hai vị từng có chân trong chính phủ Trần Trọng Kim. Tôi nghĩ, cứ theo cái sức khỏe của anh bây giờ, ai bắt lính làm gì. Đưa anh vào đó, còn tốn công chạy chữa thuốc thang, ai công đâu. Vả lại, nếu anh ra Đà Nẵng, nói với ông Trần Hoàng giới thiệu đến nhà ông Đối ở, để đi khám miễn dịch là cái chắc.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 10.04.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 10.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 16.03.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 16.03.2018
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 18.01.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 20.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
xem thêm »