tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22286131
Tiểu thuyết
23.12.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

19. MẤY AI BIẾT CHÍNH TRỊ CŨNG KARMA


 


Nhà lao dạo này đã dễ dãi với anh Tùng. Chị ấy bị đau kiết sau một chuyến thăm nuôi anh. Y tá đến chích émétine, lập tức chị ngủ giấc vĩnh cửu ngay trên giường bệnh. Tỉnh trưởng làm ra vẻ nhân hậu cho anh về làm ma cho vợ. Sau ngày đưa đám mấy hôm, chàng lại thăm.


Đường vô phòng anh quanh co lên xuống như một mê lộ. Cha là thủ khoa nổi tiếng văn chương, mẹ con nhà giàu, anh thừa hưởng những năm căn phố trong thị xã. Sau đình chiến, người tản cư lục tục về kiếm chỗ buôn bán, đất lên giá, giúp anh cơ hội có tiền.


Khỏi lo cái ăn cho mình và vợ con, anh rảnh rang đi làm cách mạng Quốc dân đảng chống Ngô Đình Diệm


Nền nhà cuối cùng của anh ở đường Võ Tánh, cỏ mọc um tùm lố nhố những viên gạch cũ, nguyên vẹn có, bể đôi có, di tích của cuộc tiêu thổ kháng chiến.


Lợi dụng bất cứ cái gì có sẵn, hoặc đúc một miếng bê tông chục mét vuông, hoặc chèo chống làm một gác lỡ ngang dọc hơn mấy sải tay, anh tạo thành một khu chung cư kỳ quái của mình mà người thuê có thể là một anh lính chưa vợ, một cô gái điếm mới từ quê ra, cũng có khi là một công chức đường đường chánh chánh mà vợ con còn phải coi ruộng rẫy ở làng, hàng tuần mới về thăm được.


Chàng phải cúi đầu khom lưng lách mình theo những con đường cong queo, khúc khuỷu, tối om mới tới được nơi có cái bàn thờ sơ sài với bát nhang, bình hoa và di ảnh một thiếu phụ trong khung kính, phủ vải điều, đôi mắt to, trong sáng, đang nhìn chòng chọc như liên tục tra hỏi về sự hiện diện của mình và một đám lổn nhổn những búa đinh, sách vở, giây kẽm, đầu đày gỗ… chiếm một nửa mặt nền, còn bên kia là một chiếc giường, có cái gối bằng mây với cái một cái mền có lẽ hàng chục năm chưa được giặt.


Chàng lặng lẽ chép môi thở dài:


Cánh tay trái của anh sao thế, phải băng trên vai?


Thằng Lào, công an Ngô Đình Diệm làm chủ ngục, nó đánh tao hộc máu, bể sống mũi và gãy cùi chỏ lâu rồi. Mấy chỗ khác đã lành, riêng cái này còn ê ê.


Anh nói giọng bình thản như kể một chuyện gì của ai đâu không ăn nhập mấy tới mình. Tóc tai anh lúc nào cũng bồm xồm, nhiều sợi bạc trắng. Đặc biệt, anh không bao giờ dùng lược mà chỉ chải bằng bốn ngón tay phải, móng đen thui, đầy cáu ghét.


Áo sơ mi vải trắng tốt, quần dài tây không lạc hậu lắm so với mô đen hồi đó, vậy mà dơ ơi là dơ, như hàng tháng chưa thay.


Tụi nó nỡ đối xử tàn nhẫn với anh dữ vậy à?


Chúng phải ra oai chứ. Trấn áp tao để dĩ giới mấy đứa khác cũng bị bắt mà. Ngữ thằng Thọ, thằng Giáp, thằng Đình đó…[1]


Anh dùng tay áo quệt một giải nước mũi toan thò ra, bò xuống hàng ria mép, rồi vớ tay lấy cái bình thủy nước nóng, mở nút bằng chiếc cùi bắp, rót vào chiếc ấm sành rất bẩn, đầu vòi đã sứt mẻ. Mới thấy bình chén của anh, chàng đã sợ khiếp, vội vã xua tay:


Cảm ơn anh. Tôi không khát.


Anh nói:


Tao nghe thằng Diễn nói, nó rủ mày vô Quốc dân đảng mà mày từ chối. Nó giận dữ lắm. Cái thằng khờ quá. Mày không vô là phải. Phần tao đã lỡ rồi. Nếu tao không loay hoay làm cách mạng như vầy, tao chơi với ai? Mà cũng đếch có đứa nào nó tới mướn nhà tao. Tao biết chứ, còn khuya ông Diệm mới đổ. Mà ổng có thôi, thì nhất bộ nhất bái, lạy ngàn lạy, thằng Mỹ nó cũng không xài tới cái thứ như tao.


Chàng hiểu anh cực kỳ thông minh, quá rõ thực tế chính trị bấy giờ, đành lảng sang chuyện khác:


Vô nhà anh khổ quá, đồ đạc ngổn ngang, ngõ ngách lung tung. Tới cổng rồi mà còn thiếu điều đi lạc.


Anh Tùng khoái chí cười ha hả:


Tao biết mày có dạy môn Công dân, Kinh tế học lớp đệ nhị [2]


Anh lượm một cục gạch cũ, giơ lên cho chàng, tiếp:


 Mầy phải hiểu cái cục gạch này, nếu tao để nó nằm yên, vĩnh viễn ngủ trong cỏ dại thì không ai và cũng không cần biết nó có hiện hữu hay không. Vậy mà tao cạy nó ra, dùng nó xây tấm vách ngăn, biến cái ổ chó hơn sáu mét này thành căn phòng nhỏ. Rồi có đứa nó tới mướn ở trọ, trả tao mỗi tháng mấy trăm bạc, thì cái cục gạch đó đã biến thành tư bản, vì nó sinh lời cho tao.


Còn chỗ ở ư? Bên Tây, người ta phân ra thành phòng ăn, phòng khách, phòng ngủ, phòng đọc sách… là tùy theo sự sinh hoạt của từng nhà, từng nước. Ở Việt Nam mình, mày thấy đó: tao nằm trên chiếc giường này, cả cái gối mây tao còn muốn quăng đi nốt. Co cánh tay làm gối là đủ rồi, chưa chắc giấc ngủ đó đã nhiều mộng mị hơn. Tất cả đồ dùng ngổn ngang này tao cứ bày ra xung quanh, với tay một cái là có ngay. Triết lý của tao như thế. Nhưng ở đời không có ai nó chịu tao cả, nó cho tao lập dị, đành vậy. Đứa xấu miệng nó nói tao ăn xong quẹt mỏ vô vách cho sạch miệng như gà.


Chàng biết anh Tùng lớn hơn anh Sáu nhiều, hơn chàng những mười lăm tuổi vậy mà trong cung cách bao giờ anh cũng xem chàng như bạn tâm giao, huỵch toẹt cả những điều anh không bao giờ nói với anh Sáu, bạn học cùng lứa và là đồng chí của anh.


 Mấy ngày nữa anh vô lại? - Chàng hỏi.


Sáng mai. Tới đây có lẽ chiều thứ Bảy nào nó cũng cho tao về. Nghe anh Nghị nói thì thằng Diêu nó thầy dùi cho ông Nhu là bây giờ nhà Ngô mạnh rồi, khỏi cần khủng bố mấy anh Việt quốc tỉnh lẻ như thứ tao nữa, chi cho mang tiếng.


Chàng thắc mắc:


Họ nhốt riêng anh hay chung với người khác?


Mình tao một hộp. Nhưng mới rồi tao chứng kiến cái cảnh này, mày thấy có ghê không?


Không đợi chàng ừ à, anh tiếp:


 Láng giềng trong tù của tao là một thằng Việt minh, tên Bùi Tá Trung, quê ở Thu Xà.


Cái họ Bùi Tá này khiến chàng liên tưởng tới huyền thoại về một danh nhân Quảng Ngãi. Tục truyền rằng: Thời phong kiến xa xưa vùng hạ lưu sông Trà có một vị tướng gốc nông dân, một mình ăn hết cả nồi ba cơm, chữ nghĩa không đọc nổi cái văn khế ruộng, nhưng đi thi Võ đỗ Cử nhân. Ông được phái đi đánh mọi Đá Vách thường lấn xuống cướp phá người Kinh. Nhưng trong một trận đánh, ông bị giặc chém. Đang đêm, đầu ông bay về tận đình làng Thu Xà. Cụ tiên chỉ được báo tin đã tức tốc kêu gọi dân chúng đến làm lễ khâm liệm, cúng tế rồi chôn cất trọng thể. Ngày hôm sau, con ngựa của ông tướng mới một mình trở về làng, nguyên vẹn yên cương, không có bóng người kỵ mã. Nó ra mả ông nằm phủ phục, chảy nước mắt khóc, rồi nhịn ăn mà chết. Ông được triều đình phong thần: Tướng quân Bùi Tá Hán.


Chàng hỏi:


 Bùi Tá Trung… chắc là con cháu của ông Bùi Tá Hán?


Có lẽ. Nó học deuxìeme[3] ở Qui Nhơn với thằng Xung, cũng con nhà địa chủ, nghe nói thời kháng chiến làm cán bộ tuyên huấn huyện. Ở lại hoạt động, nó bị bắt trong một hầm bí mật ngoài Sơn Tịnh. Trước nó cưới cô Anh con thầy đốc Tấn nổi tiếng hoa khôi, học giỏi, thua nó tới một giáp. Hồi nó nói đi tập kết đứa con trai đầu lòng mới tám tháng trong bụng. Trong nhà lao, đích thân thằng Lào, Trưởng ty Công an tra tấn đánh đập, nướng cây sắt dí vào dái nó, cháy xèo xèo, nó vẫn không khai. Uy vũ bất năng khuất, nhưng lúc ngủ rên lên trong giấc mơ, nó kêu Minh… Minh! Chưa chịu thua, Lào cho người dò hỏi đó là tên ai, rồi nghĩ ra một kế mới. Sau nhiều ngày để Trung nghỉ xả hơi, cơm nước và tắm rửa tử tế, có cả cà phê sữa và thuốc lá Ruby buổi sáng.


Một hôm, Trung đang ngồi chồm hổm thừ người trong song sắt nhìn áng mây thu đang kéo qua mảnh trời nhỏ bé trước mặt thì thấy có thằng nhỏ trắng trẻo khôi ngô, áo sơ mi trắng, quần soọc xanh, mang dép xăngđan, tóc chải tém đến cách cửa mấy bước, dừng lại kêu:


Ba! Ba!


Trung nhìn ra, hỏi:


Mày con ai?


Thằng bé dĩnh ngộ, liến thoắng, tiếng trong như nước suối ở chùa Hang, giọng nó thật dễ thương:


Con, là thằng Minh đây mà. Mẹ đứng ngoài kia, người ta chưa cho vào. Con đã học vỡ lòng, nay tới thăm ba. Ông ngoại nhắn ba, nếu ba chịu về thì ông sẽ bán ruộng cho ba mẹ đi Sài Gòn tiếp tục học như người ta. Mẹ muốn lắm!


Hơn bốn năm rồi, Trung như ngất xỉu:


Ôi!- Rồi ôm mặt khóc


Giây lâu, người tù đứng dậy, bộ bà ba đen bết bụi đất. Bóng dáng cao lớn của anh như choán hết song sắt nhà tù. Úp mặt vào hai bàn tay, không dám nhìn đứa con mà anh nào ngờ đẹp như thiên thần, dòng lệ anh lăn xuống má.


Thằng bé tiếp:


Ba ơi! Khai báo rồi về đi!


Bỗng nhiên anh vung nắm tay như đấm vào một kẻ thù vô hình trước mặt, thét lên:


Không, không có về vung gì hết. Đi đi, mày đi đi.


Thằng bé ù té chạy. Mấy ngày sau, đám bạn tù trong số có tao, ì ạch khiêng một chiếc chiếu rách quấn lấy một thi hài vạm vỡ, đem vô chôn trong núi Bút. Chính tao chăm chút đào cho Trung một chiếc huyệt nhỏ. Nhà cha vợ nó có hàng trăm mẫu ruộng. Tao lén thắp cho nó một nén hương. Kể tới đây, anh Tùng nhìn lên bàn thờ vợ, vẻ mặt xa xăm.


Chàng xuýt xoa khâm phục:


Ghê thật! Anh thì bị đánh gãy tay, Trung thì bị giết.


Đệ tử của tao bây giờ có nhiều thằng cũng đờ vờ đấy[4].


Chàng từ giã anh Tùng ra về trong cái tâm thần cực kỳ chao đảo Karma.


Đã gấp đôi cái thời gian hai năm hứa hẹn mà không có bầu cử như Hiệp định Genève qui định, cũng chưa thấy anh Lê Hồng Long cho người lui tới gì và lời của anh không ứng nghiệm chút nào.


Dạo đó, người ta đang tổ chức đua xe đạp vòng Cộng hòa từ Cà Mau ra Bến Hải. Một tờ báo Pháp, tờ Expresse nói đấy là thời điểm cao nhất của chế độ ông Diệm: miền Nam 1958.


Chàng đã vào nghề bán chữ nuôi vợ con, mua được mái nhà, cái xe đạp, lại có chút tiếng tăm ở tỉnh lẻ, một anh giáo hò lơ, nay đau mai ốm bức sốt nhưng mình vẫn áo bông[5] ham học, dạy được các em thích, lại còn ráng cưu mang một số học trò nghèo. Nhưng chàng không hiểu sao mình vẫn không chịu nổi cái Quốc gia của ông Diệm.


 


Phần 4


PHI CHÍNH PHI TÀ


 


Tết năm Dậu, vợ chồng ông Hiệu trưởng đến thăm ở ngôi nhà tranh chàng mới mua tại Cống Kiểu – Quảng Ngãi. Trước mảnh sân con nằm ép sát Quốc lộ I bấy giờ xe cộ đã qua tấp nập. Cây dừa chàng trồng thuở nào giờ đây đã lên cao quá đầu người, chiu chít những quả trông thật dễ thương. Đưa mắt quan sát cái quang cảnh vừa nhà quê vừa tồi tàn với mấy cái ghế đẩu khập khễnh quanh chiếc bàn gỗ tạp, nhất là chiếc giường tre rộng phủ chiếc chiếu hoa sẫm màu đã nhục còn thấm ngấm nước đái trẻ con lâu ngày khắm mùi khai hăng hắc, tất cả không che đậy nổi nỗi nghèo khổ của đôi vợ chồng ông giáo trẻ. Ông hiệu trưởng chẳng những không bịt mũi hắt hơi mà còn ái ngại an ủi người thuộc viên hèn mọn của mình.


Ông bà ở đây gần trường, rất tiện cho việc đi lại. Hồi tôi mới dinh tê cũng sống thiếu thốn như vậy.


Bình thản nâng ly nước trà, ông nói thêm với vợ chàng, lúc ấy nàng chưa tới hai mươi, gái một con trông mòn con mắt, vừa đùa ông cố làm ra thân mật:


Ông dạy Việt văn đệ ngũ, học trò mê lắm đó. Trong lớp lại có mấy cô Bạch Nga, Cẩm Quỳ, Ngọc Lan… đẹp lắm. Bà phải coi chừng đấy.


Ông hiệu trưởng cố cười vui như để vợ chàng bớt tủi. Nàng xoắn xít pha trà và mời bánh mứt. Ông là vị hỷ thần đầu năm, giáng phước.


Ông rút ra từ túi áo sơ mi trắng phẳng phiu một đồng bạc hai mươi mới tinh, in hình vị Tổng thống của mình, đưa cho thằng Cu.


– Nầy, thầy mừng tuổi cho đấy.


Quần áo mới tinh khôi, đôi mắt sáng trưng, mẹ nó dạy nó nhanh nhảu đến trước mặt ông, nghiêm chỉnh chào kiểu nhà binh rồi lễ phép, khoanh tay cúi đầu: Ạ…


Bà hiệu trưởng năm đó mới ngoài ba mươi, đã có ba mặt con nhưng toàn là cái hĩm. Bà nhìn thằng bé với tất cả lòng ham muốn, mong sao cũng có được mụn con trai như thế nối dõi tông đường. Cầm cuốn sách Giảng văn của ba nó, bà chỉ vào một chữ in lớn trên bìa:


Cu, nghe đồn chưa nói đủ tiếng mà sáng dạ lắm, hãy đọc cho cô nghe nào?


Nó ngoan ngoãn áp mặt vào ê a:


Vê…a…en…nờ…


Bà hiệu trưởng reo lên:


Giỏi quá, cô cho thêm tiền nữa này.- Rồi bà lục bóp đưa cho thằng bé một đồng bạc mười mới tinh nữa.


Chàng lại có dịp nhìn kỹ vị thủ trưởng của mình. Con người ông bộc lộ tất cả những gì trái ngược nhau. Đôi mắt một mí và nước da ngăm ngăm, người lùn, chân tay ngắn, trán thấp. Đứa ghét ông nó bảo ông có tướng ngũ đoản, tối kỵ cho bất cứ ai muốn kết bạn với. Nhưng từ đôi môi dày và cái miệng đầy tham vọng đó rõ ràng là đang thốt ra những lời quan hoài cho sự túng thiếu không giấu được của gia đình chàng, nhất là sau khi biết vợ chàng đồng họ với mình. Nghe nói Thủy tổ ông vô Quảng Ngãi đã mấy trăm năm và ông nội ông làm quan, có thêm một nàng hầu ở địa phương, và trước khi hồi hưu về chốn quê kiểng Đế đô đã để lại một giọt máu rơi. Người chú dị bào với cha ông này từng bị thời cuộc bỏ quên ở đây. Sau 1945, chú đã hào hứng theo kháng chiến và trở thành một phần tử tích cực.


Chàng thầm nghĩ: Cuộc đời thật lạ, cái này có thì cái kia có, như lời Phật dạy, atvam atsi. Cả ông lẫn chàng, dây mơ rễ má đủ thứ trong cái hiện hữu của mình, rồi gặp gỡ nhau để thọ ân và tị hiềm nhau. Nhưng giá không có những cái đó, đời sống không sao thành tựu nổi.


Vô Quảng Ngãi đã non hai năm, ông chỉ biết mái trường mà ông là hiệu trưởng đầy uy lực và cái tòa Tỉnh trưởng mà ông vinh dự thỉnh thoảng được lên đó để lột tả tất cả nghệ thuật thiện chí Quốc gia. Còn chỗ ông trổ tài hào hoa là cái sân banh tennis nhỏ tỉnh lẻ: ông quạt những đường bóng đẹp, phóng khoáng làm lác mắt những đám con buôn mới nẩy, đang mon men tới đây nhằm làm quen với các ông lớn để kiếm các vụ áp phe.


Thấm thoắt đã đến tiết Nguyên tiêu. Hai bên bộ đường lên núi Thiên Ấn cỏ non lên xanh rười rượi. Trông xa hòn núi như một chiếc ấn vàng áp dấu xuống hữu ngạn sông Trà đang uốn lượn giữa những bãi cát trắng. Qua khỏi cây cầu dài đã bị phá hoại từ thời tiêu thổ kháng chiến, quán cơm, một đồi núi nhỏ nhô ra soi bóng xuống dòng sông, gió nồm thổi ngọt tung bụi trắng xóa những gợn sóng hiền lành sót lại từ con nước lũ hung dữ vừa qua. Theo truyền thuyết từ rất xưa, những thầy Tàu mê tín phong thủy đã tin rằng đây là đất linh địa, ẩn long mạch có thể phát tích ra những bậc đế vương hùng cứ ở phương Nam đe dọa đối mặt với Thiên triều. Nên hơn mười ba thế kỷ trước, An Nam Tiết độ sứ Cao Biền đã phải đêm đêm từ Giao Châu cưỡi con diều giấy, đằng vân giá vũ tận nơi hải giác thiên nhai hoang vu này, tung kiếm chém lìa đầu con thần Long.


Mõm núi có hình đầu rồng cúi xuống như đang đùa với nước, nên đã được bao thế hệ dân Quảng Ngãi nhiều tưởng tượng đặt tên cho thắng cảnh là Long đầu hí thủy và gọi cái thị xã nhỏ bé, quê mùa này là Cẩm Thành.


Rồi một loạt những từ hoa mỹ lệ khác cũng đã ra đời để phục vụ cho cái nhu cầu bay bổng lên khỏi thực tại của dân chúng, một cách rất Tàu: nào Hà nhai vãn độ[6], Cổ lũy cô thôn, Thiên ấn niêm hà, Thiên bút phê vân… Những cái tên nghe thật kêu mà từ bé chàng đã thuộc lòng trong cuốn Địa lý lớp Ba của quan Đốc học nam triều Nguyễn Đóa. Trước đó rất xa, một nhà thơ nổi tiếng là Nguyễn Cư Trinh lúc vào làm quan cai trị Quảng Ngãi, đã có mười hai bài vịnh theo thể Đường luật Quảng Ngãi thập nhị thắng cảnh còn lưu truyền tới nay.


Trong hội Đạp thanh rằm tháng giêng năm ấy, nếu chàng là Kim Trọng thì nàng Kiều của chàng không ai khác hơn là Hướng Dương, cô nữ sinh lớp đệ ngũ mười bảy tuổi xinh đẹp, đầy mộng mơ và tính mộ giờ Việt văn của chàng.


Nhưng phải đến ngày đó, trên đỉnh đầu Thiên Ấn, bên những ngôi tháp cổ của những vị tổ khai sơn, dưới bóng hàng phi lao râm mát mà nhìn ra đại dương xanh thẳm cách đấy không xa, với cơ man những sóng bạc đầu đang li ti đùa nhau trên bể cả, thì mới thấy ánh mắt của nàng đẹp tới chừng nào.


Tóc nàng bay bay trong gió sớm, rối như mây lầu Hoàng Hạc. Giọng nói của nàng trong như giếng cổ. Lòng thành kính của nàng qua cây hương dâng lên Phật tổ vô ngôn đang tĩnh tọa trên tòa sen kính tín tới đâu. Nàng đưa chàng, thầy học còn rất trẻ của mình vào thăm nhà sư trụ trì mà mẹ nàng là bổn đạo thuần thành. Lại một cuộc kỳ ngộ nữa. Nam dù đã có vợ nhưng nữ chưa chồng, đều đang lứa tuổi hoa niên trong thâm tâm thầm, tự nhận là trai tài gái sắc. Tình yêu bừng nở, bị sự ràng buộc của hoàn cảnh không sao có quan hệ vật chất được, bị ức chế càng làm cho mãnh liệt. Còn nhà sư già, thân phụ từng tham gia Cần Vương, đã phải trốn vào cảnh thiền, mượn màu nâu sống nuôi một giấc mộng Phạm Thái. Giờ đây sau hăm lăm năm khoác áo Thích Già, thanh kiếm đã han rỉ, trên trần ai chưa gặp được người tri kỉ, thì nay nhà tu hành gặp cháu quan Đốc học họ Phạm, thủ khoa nổi tiếng khắp vùng Nam Ngãi, nhà giáo trẻ tân học có đôi tai dỏng lên nghe hiểu được những câu thơ chữ Hán của mình, thì quả là thạnh duyên nan đắc.


Họ dắt nhau vào hậu liêu của chùa.


Gọi chúng điệu pha trà Thiết Quan Âm, nhà sư mời ông giáo trẻ ngồi ngang hàng với mình. Điều này càng khiến Hướng Dương tự hào thêm.


Nhà sư kể lai lịch của chùa Thiên Ấn:


– Cách đây đã hơn ba trăm năm, Tổ Pháp Hóa từ bên Tàu theo ngài Thạch Liêm đi ghe buồm vào Đại Việt. Tới Đàng Trong thấy phong cảnh sơn thanh thủy tú, tổ bèn trụ lại. Hồi đó, phủ Chương Nghĩa còn thuộc trấn Quảng Nam. Đường Quốc lộ I ngày nay chỉ là con đường đất bò ngoằn ngèo giữa rừng rậm hoang vu đầy rắn tinh cọp dữ. Nghe truyền Tổ ngồi nhập định trong am lá, có ông hùm trắng phủ phục một bên.


Ai dè xứ Quảng Ngãi khỉ ho cò gáy này cũng là cái nôi của Phật giáo nước mình - Chàng nghĩ.


Nhà sư gầy rốc, má hóp thành lũng sâu, tấm áo cà sa nâu vải thô đã bạc lại càng làm ông cao lêu nghêu như cây sậy, chỉ có hố mắt thật sáng, tinh anh. Nghe nói, với mấy mẫu ruộng chùa mới được trả lại từ sau khi chính quyền Diệm vào tiếp thu, sáng nào ông cũng cùng đám đệ tử cày cuốc, đi làm đồng từ tinh mơ, quần quật suốt ngày chẳng kể nắng hạ mưa đông, mãi tối mịt mới về. Thầy trò ông chỉ ăn cơm gạo lức độn khoai với dưa bằng thân cây chuối muối chấm tương chao bằng đậu nành tự trồng, tự ủ lấy trong vườn. Nhưng ông đã dám bán cả hàng mấy gánh lúa mồ hôi nước mắt của mình mà sửa sang ngôi Tổ đình cho thật khang trang, làm lại cổng tam quan và hào phóng xây mới ngôi mộ của cụ Huỳnh Thúc Kháng mà ông rất tự hào là cha mình năm xưa kia đã cùng ở trong hàng ngũ.


Mỗi năm, cứ đầu niên khóa mới, nếu có một đệ tử đỗ được cái tú tài, lập tức ông cho bán đi một con bò, và rồi khăn gói gió đưa, không giấu được hết vẻ nhà quê, thầy trò ông lếch thếch theo xe đò vào Sài Gòn. Ông khẩn khoản gửi trò tại một ngôi chùa quen biết nào đó để tiếp tục theo lên đại học. Ông nuôi cái hoài bão lớn lao là một mai, có học và có tâm có thể biến đạo Phật thành Quốc giáo của Việt Nam.


Thưởng thức hương trà thơm ngát, ông hỏi đùa:


– Ông giáo xem có mùi trảm mã không? Pha bằng nước giếng Thiên Ấn đó.


Câu nói khiến chàng nhớ tới một câu chuyện về cái giếng ở ngôi chùa này, từng được loan truyền khắp vùng Nam Ngãi:


Hồi Tổ khai sơn mới tới đây, từ bếp xuống tới chân núi, mùa khô đi lấy nước uống, đường ngoằn ngoèo dài tới vài dặm mà đầy gai góc lắm nỗi gian nan, núi cao mấy trăm bộ. Tổ bèn nguyện phải ngày đêm ra công đào cho bằng được một cái giếng. Sức Tổ thì già yếu chỉ bằng đôi tay khẳng khiu của mình mỗi đêm chỉ khoét được một bụm đất.


Người ta đồn rằng mỗi hoàng hôn, khi những tia nắng vàng vọt của ngày vừa tắt hẳn trên chỏm cây đa cổ thụ trước chùa, thì có một vị sa môn trẻ hiện ra, lẳng lặng đảnh lễ rồi cùng Tổ, cũng chỉ bằng hai bàn tay gầy guộc của mình, giúp khơi sâu thêm lòng giếng. Như thế ròng rã mấy năm. Và vào tảng sáng sau cái đêm kỳ diệu khơi được mạch nước trong và mát lạnh thì vị sa môn trẻ biến mất. Ai cũng cho là thần núi Thiên Ấn đã hiện ra giúp khơi mang mạch đạo pháp ở đây. Do đó, Quảng Ngãi có câu phương dao:


Ông thầy đào giếng trên non


Đến khi có nước chẳng còn tăm hơi.


Hướng Dương dễ đã nghe câu chuyện hàng chục lần. Nhưng lần này lại một say mê mới mẻ. Cái đôi mắt lá răm kia liếc nhìn chàng có sức rung chuyển như sóng đại dương làm xao động cả huyền thoại và thực tại, khiến chàng như chao đảo, phiêu diêu hạnh phúc.


Rồi họ cũng vào dùng cơm chay. Chỉ có ông giáo được cùng ngồi với sư phụ. Chàng trai đa tình vẫn phóng ánh mắt âu yếm, ôm ấp nâng niu người con gái nhỏ đang ở một mâm cơm gần cuối phòng tri khách. Chàng cố ừ à lắng nghe. Nhà sư say sưa:


– Phật pháp thật nhiệm màu. Cái gì cũng không qua duyên nghiệp. Sơ cơ, tôi thọ pháp với thầy Huyền Trì, vốn con nhà khoa bảng, Hán học tinh thông lại biết cả chữ Pháp nữa, thuộc làu Tam tạng kinh điển, ngang tầm với bậc cao tăng Việt Nam là ngài Mật Thể. Thầy tôi lại đồng chọn xuất gia, ai cũng nghĩ rồi ra ngoài cũng sẽ được đại chúng tôn lên ngôi pháp chủ. Ai biết được cái gì sẽ xảy ra? Nửa đường thầy vướng nghiệp, không đi trọn con đường. Kế đến là khởi nghĩa bốn lăm.


Các sư chú, sư bác của tôi cũng không trụ nổi ở đây, tan tác như cỏ bồng trong gió thu, kẻ đi Thình Thình, người về nước mặn. Một mình một bóng trông ngôi cổ tự rêu phong dột nát trống huênh, tôi hái huê mít, bới củ mài cầm hơi, kiếm lá bạc hà phơi khô, nghiền ra mà se hương, tối tối thắp dầu mù u, trì kinh nguyện cầu chư Phật độ trì, cho đạo còn ở với đời, cho đất nước hòa bình, hải yếu hà thanh. Dịch cùng tất biến, bom đạn rồi cũng phải có lúc dừng. Hôm nay, cũng lại nhờ nhân duyên mà tui với ông giáo gặp nhau….


Nhà sư đang ăn bỗng bỏ đũa. Ông đứng dậy, đến án thư, lục tìm một cuốn tập, chìa ra cho chàng:


– Tôi có đem kiến giải của mình mà soạn nên bổn Thiền Cơ Diệu Lý nầy. Nghe nói ông giáo cũng con nhà, xin ông coi thử cái giọng thơ nôm na của tôi ra sao.


Chàng đọc lướt mấy trang lục bát dài, nét chữ nguệch ngoạc với vô số lỗi chính tả. Chàng biết cái con người đã từ bỏ tất cả để tận hiến đời mình cho đạo Thiền này lại chỉ cần một lời khen của ông giáo tân học về bài thơ Bát Chánh Đạo của ông.


Bấy giờ Hướng Dương đã ăn xong vội đến bên chàng, ánh mắt như cầu khẩn. Chàng hiểu và đã khéo nịnh sư thầy:


Bạch thầy, quả là hàng hàng châu ngọc, lời lời gấm thêu. Đạo Phật được thầy diễn giảng thế này ai đọc hiểu mà không xin quy y?


Vị sư già và cô gái vô cùng sung sướng như uống lấy từng lời ông giáo trẻ. Đôi trai gái nhìn nhau mê man, hận bất tương phùng vị… giá thì. Tối hôm đó, chàng đến với vợ bằng tất cả hình ảnh bốc lửa của Hướng Dương. Vợ chàng ngạc nhiên trong ngất ngây, chỉ biết rên xiết với tột cùng khoái lạc của thân xác. Về phần Hướng Dương, ngực nàng nhú lên căng phồng như muốn đâm toạc làn áo sơ mi vải phin trắng mỏng. Trời xanh làm sao, một đôi bướm vàng đang vờn bay trong nắng. Từ đó, chàng hay lên xuống thăm chơi Thiên Ấn.


Thoắt đấy, đã sang hè. Nhân một bữa trưa Chủ nhật rảnh rang, chàng lại lên chùa. Dè đâu, nhà sư đi vắng. Giữa tiếng ve ca rộn rã, nhìn nắng gắt đang thiêu cháy cỏ dại quanh chùa và dòng sông quanh co chỉ còn như khe nước nhỏ liếm lấy bãi cát vàng, vẽ thành một vệt dài giữa bao lau sậy đã bạc đầu, chàng bắt chước người xưa, dùng viên phấn dạy học trong túi, viết một bài tứ tuyệt trên vách phòng đợi.


Đăng sơn vấn Pháp, Pháp thường vô


Sư khứ, tự không, hạ thảo khô


Hốt kiến nhàn vân, thiên nhất trục


Trà Giang biên ngoại bạch đầu lô.


Và để giết thì giờ thêm, chàng tự dịch:


Lên non hỏi pháp, pháp thường vô


Sư vắng, chùa không, cỏ hạ khô


Bỗng thấy trời cao, mây nổi mụt


Sông Trà bến vắng, trắng hoa lô (lau)


 Vơ vẩn, chàng đến thăm tháp các Tổ và mả cụ Huỳnh, ngồi dưới đồi thông đang vi vu ca hát, nhìn ra đại dương xanh thẳm, lấm tấm những thuyền chài đánh cá mà nghĩ tới cái mênh mông của trời đất và cái hữu hạn nhỏ bé của kiếp người, nghĩ tới cái số phận hèn mọn của mình. Hồi còn ở Phước Thịnh, Thi Phổ thì bí thư vốn chỉ là một tên trộm dừa. Nay, bất cứ ai có quyền, chỉ cần ho lên một tiếng, thì chàng, nhà thơ, nhà trí thức tỉnh lẻ của chúng ta cũng phải vì cái nồi cơm của vợ con mà phát rét lên vâng vâng, dạ dạ liên hồi. Đang suy nghĩ lan man, chàng nghe có tiếng chân sột soạt bước tới. Nhà sư đã trở về và ra tìm chàng. Ông nở một nụ cười, héo úa:


Ông giáo mới lên?


Nhìn mồ hôi ướt đẫm nách áo cà sa bạc màu, chàng thưa:


– Vâng! Có lẽ thầy vừa đi thuyết pháp ở đâu về? Dắt xe đạp mà leo lên dốc chùa trong cái nắng trưa này thì quả là việc hoằng hóa cũng lắm công phu.- Chàng nói như an ủi thầy.


Bây giờ, nhà sư như mới cảm thấy tất cả mệt mỏi của mình và bắt đầu hổn hển thở:


Tôi xuống tận Quán Cơm. Thằng Xã trưởng ở đó nó tính bắt tôi.


Chàng không sao giấu được sự hốt hoảng của mình:


Ôi… có việc gì thế?


Mặt nhà sư tối sầm, vừa bệch bạc màu sợ hãi, vừa tim tím một mối sân si rất lớn. Ông nói với tất cả uất nghẹn khiến lòng chàng dâng lên một mối cảm thương sâu xa cho cái muốn của con người:


– Ông giáo cũng biết, khắp cái dãy từ Tịnh Ấn này chạy xuống tận Sơn Mỹ, mấy đời nông dân đều theo đạo thờ cúng ông bà và Phật giáo chúng ta do các Tổ ở đây và thầy trò tôi dẫn dắt.


Ông nói như thể chàng cũng là một bổn đạo thuần thành đã trở thành cùng phe. Chàng chìa cho thầy một điếu Ruby và móc trong túi chiếc hộp quẹt Zippo thời thượng, bật lửa cho thầy châm thuốc. Như muốn có cơ hội cho sư thầy bình tĩnh hơn, chàng vờ than:


Khát nước quá.


Nhà sư hiểu ý, dắt chàng vào hậu liêu. Họ đã thân mật với nhau đến độ có thể bảo các chú tiểu mang cả hai chiếc tô sành đựng đầy nước chè tươi đậm đặc, và không cần mời mọc, họ bưng lên tu ừng ực, nhà sư như để nuốt mối hận vào trong, còn chàng, như để tìm một chút thư giãn nhằm khuyên giải người tu hành.


Nhà sư bắt đầu kể tiếp:


Thằng Sáu Nhỏ, con ông hội viên Sum, vốn cũng con nhà địa chủ, anh nó đi tập kết. Hồi kháng chiến, ba người chúng tôi: tôi, ông cha đạo Bầu Gốc cùng ông hội viên hay kín đáo lui tới nhau than thở cho đỡ cô đơn. Đến khi ông Diệm về, nó khôi phục quyền uy, ra làm xã trưởng. Gần đây, để giữ vững cái ghế, nó nịnh thằng tỉnh trưởng Tất, con bà Cả Lễ, cháu kêu ông Diệm bằng cậu, xin vào Công giáo tân tòng. Mới rồi, nó về tất cả các thôn dưới chân ngọn Thiên Ấn linh thiêng này, họp dân lại tố Cộng, xây dựng ấp chiến lược và bắt mọi người ký đơn xin vô Thiên Chúa giáo tuốt tuột.


Không ngăn được nỗi tức tối, nhà sư văng tục:


Mả cha nó, cái đồ phản ông phản bà, quên đứt tổ tiên.


Chàng làm ra vẻ cao cả, trí thức, kiểu ta đây vượt trên mọi thứ:


Bạch thầy! Thì đạo nào cũng như đạo nào, cũng dạy người ta từ bi bác ái.


Nhà sư không còn kiềm chế nổi nữa. Mắt ông long lên sòng sọc, trừng trừng nhìn chàng, như muốn ăn tươi nuốt sống tử thù đang đối diện mình:


– Ông giáo là người hiểu biết sao ăn nói lạ vậy? Làm gì có cái đạo nào cũng như đạo nào? Có cái đạo tà giáo vô lý, có cái đạo theo kẻ xâm lăng cướp nước, cũng có cái đạo càng ngày càng đi với khoa học, cũng có cái đạo đã mấy nghìn năm yêu nước thương dân của Lý Thường Kiệt…?


Bây giờ tới lượt ông giáo bối rối, chàng đỡ lời:


– Tôi nghĩ ít ra họ cũng có cái hay gì đấy mới truyền bá được khắp nơi trên thế giới.


Nhà sư cướp lời:


Tôi ít học, chỉ biết nôm na là không thể có một ông Thượng đế nào có thể sáng tạo ra vạn vật. Mọi thứ được ổng sinh ra thì tới lượt ổng, ai sinh ra ổng? Còn ai đã đem Tây qua cướp nước ta? Ai đã chém đầu cha tôi quăng xuống sông Trà Khúc? Không có mấy kẻ theo Tây, làm sao Tây lấy được nước mình? Nay thì Ngô Đình Diệm theo chân Mỹ về, bắt dân bỏ đạo nhà theo tân tòng. Tôi sẽ chống tới cùng.


Tới đây, chàng cũng phải nhận rằng nỗi căm giận của nhà sư cũng có cơ sở. Cha ông bị giết, khiến ông phải bỏ đời vào cửa thiền mấy chục năm nay. Ơn thầy tổ, huynh đệ, cơm áo của thập phương, không thể để người ta tiêu diệt đi.


Chàng bỗng nghĩ tới mình. Không vào Quốc dân đảng của anh Sáu vì đã thấy rõ vai trò của giai cấp Tư sản trong chánh tình đất nước từ lâu đã không còn nữa. Gần đây, ông Hiệu trưởng theo đảng nhà Ngô đã bén tiếng yêu cầu chàng vô Đảng Cần lao. Chàng mọi giá đang tìm cách trốn tránh, nhưng không phải là không sợ cho cái nồi cơm của vợ con, lắm lúc chàng tự thấy hổ thẹn và thương mình. Cho nên chàng rất thông cảm với nhà sư. Ăn cơm trưa xong, ngả mình trên chiếc võng gai ở hậu liêu, trong khi sư thầy bấy giờ đã lấy lại bình tĩnh, đang giảng đạo cho chúng điệu, chàng vừa ngủ gà ngủ gật vừa nghĩ vẩn vơ:


Có lẽ là phải có một đấng Thượng đế thật, vì nếu không ai làm sao giải thích được mọi thứ đang an bài trên cái thế gian vô biên vô tận, vô cùng phức tạp này. Cái huyền nhiệm nó ẩn tàng trong từng loại cây cỏ không tên không tuổi hàng năm gọi mùa ra hoa ra quả, như niềm tin rằng cha ta đã chết, vậy mà ông vẫn tồn tại đâu đó và cả trong ta, giúp ta yên lòng. Tôn giáo cần thiết thật cho con người an tâm sống, làm lành tránh dữ. Bỏ một bên các chi tiết về việc Thượng đế rút xương sườn người đàn ông làm ra người đàn bà, và việc Maria hạ sanh bằng nách… và việc Giêsu chết trên cây thập tự giá có cứu rỗi cho loài người thật không, nhưng việc ngài chịu bị đóng đinh với ý nghĩa cao cả như thế thì là điều đáng được đời đời tôn vinh.


Cách đây hai ba ngàn năm trước, Phật và Chúa đã ra đời, cứu rỗi theo cái cách tốt nhất thời bấy giờ, theo như các ngài nghĩ và trình độ văn minh hồi ấy cho phép. Nhưng càng về sau, khi số tín đồ phát triển tới mức phải hình thành tổ chức, có chùa chiền và nhà thờ nguy nga, tăng lữ cha cố đi đến đâu đều tiền hô hậu ủng, công đức tu hành sư có lọng, vua chúa rồi chủ nhà giàu cùng giới Giáo lãnh lợi dụng sức mạnh lẫn nhau, thế quyền và thần quyền đều có lợi. Cho nên mới có đầu rơi máu đổ lúc Pháp xâm lăng Việt Nam và đạo dụ tiền sát tả, hậu bình Tây của vua Tự Đức.


Và bây giờ? Đúng như nhà sư nói, giám mục Ngô Đình Thục đã bàn với người em út Ngô Đình Cẩn (cậu cố vấn, có biệt danh là hung thần miền Trung) là phải ra sức bắt dân vô đạo Công giáo để chứng minh cho người Mỹ thấy rõ là Tổng thống quả được hậu thuẫn hùng mạnh và đông đảo bởi lực lượng hữu thần chống Cộng sản vô thần.


Cho nên chính mánh lới chính trị thực tế đã đẩy những người Phật giáo và Công giáo Việt Nam vào con đường chống đối nhau. Tội nghiệp cho sư thầy Hồng Ân, thầy cũng như dượng Tám hồi xưa, làm Cộng sản chống Pháp và bị tù Côn Đảo, tôn thờ Các Mác nhưng dượng vẫn còn dành một đức Chí tôn cho riêng mình. Mà bao giờ dượng cũng có lợi thế hơn: viên bí thư xã Hành Thiện là con một của dượng. Giờ đây dượng tuyệt đối chiếm thượng phong: dượng đã chết, đã vĩnh viễn được hầu hạ đấng Chí tôn của mình ở thế giới bên kia mà không hề sợ ai xúc phạm tới.


Trời đã về chiều, chàng giã từ thầy ra về, lòng buồn vô hạn, ngậm ngùi an ủi nhà sư:


 Việc đâu còn có đó, thầy yên tâm. Họ không làm được gì đạo Phật chúng ta đâu. Bổn đạo nông dân bị ép buộc, chắc chỉ ừ à cho qua chuyện, chớ cũng vẫn thờ cúng ông bà và rằm, mồng một vẫn nô nức lên đất thánh Thiên Ấn này mà hành hương thôi. Vả lại, tôi có ông bạn bác sĩ Hoàng Bá thường lui tới tỉnh trưởng Tất, tôi sẽ nói ổng khuyên Tất nhẹ tay.


Sư tiễn chàng ra về không quên bảo chú tiểu gửi cho thằng Cu, con chàng một nải chuối trong vườn. Chàng đem câu chuyện nói với ông Bá. Ông này được dịp cười ha hả:


Cóc khô! Cần gì phải tới thằng Tất?


Ông này có thói quen hay gọi đám quan lại nhà Ngô như thế. Không biết lúc phải đối diện với họ, ông có dám vậy không.


Ông tiếp, một cách đắc thắng:


Nguyên là tôi có thằng cháu họ tên Phạm Ngọc Nồng cũng từng đi kháng chiến. Hồi nó mới hồi cư, tôi gửi nó vô lính Bảo an cho yên thân. Nào ngờ sống lâu lên lão làng, thời cuộc đổi thay, ông Diệm về nước, nó truy gia phả thấy có bà con, dù xa tới nỗi bắn mấy lần đại bác vẫn chưa tới, vậy mà rồi nó cũng được cử làm Quận trưởng Sơn Tịnh. Ông ngoại nó bán thế xuất gia. Anh yên tâm, bảo thầy Hồng Ân chớ lo gì hết. Cả Sáu Nhỏ cũng vậy, nó có anh đi tập kết, nay là xã trưởng, nó làm hùm làm hổ như vậy chỉ để che mắt đám tay chân cậu Cẩn ở trong này đó thôi.


Mà quả thế, vụ vô tân tòng Công giáo rùm beng ít lâu, rồi đâu lại vào đấy.


Các đệ tử nông dân của thầy Hồng Ân ngày qua áp chỉ vào đơn gia nhập Công giáo thì hôm nay vẫn tới chùa van vái xin tro nhang nước lã uống chữa bệnh. Trái núi đẻ ra con chuột, nhưng nhờ đó hai bên lại càng thân tình nhau hơn. Và lại qua ông Bá, chàng quen Nồng. Thật kỳ lạ, tay này cao lớn, thô lỗ như bao kẻ từng cầm súng đánh giặc thuê cho Pháp, nhưng lại ngâm thơ và tụng kinh thật tuyệt. Thượng đế nực cười của chúng ta ổng khéo kết những khả tính tréo hèo nhau trong một con người. Làm Quận trưởng, Nồng ra rả chửi bới tố Cộng, nhưng khi quan phủ đóng cửa phòng riêng lại, hội họp đám văn nghệ huyện lẻ lại với nhau, ngài ngâm bài Đêm liên hoan của Hoàng Cầm, thì cái cử tọa nhỏ bé nhút nhát kia nghe được, dường như ai cũng như nức lòng cầm súng tiêu diệt xâm lăng!


Nồng giao hậu với sư thầy chùa núi Thình Thình. Tối mồng một không trăng, y một mình lái xe lên đó, cùng với giun dế thở than, tụng vụng phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa, giọng trầm, trong như ánh trăng, huyền diệu vào hồn, khi nỉ non, lúc thanh thản như một kẻ cô đơn lâm nạn vừa được cứu vớt, đáng thương làm sao, khiến chàng nghe câu chuyện cũng mủi lòng mà viết vào nhật ký:


 


Trên đồi, người ấy vẫn bơ vơ


Như từng con người của nhân loại


Có ai mà chẳng từng khắc khoải


Khi đứng lưng chừng cõi thực mơ?


                                        (Thơ Ngũ Hà Miên)


Vợ Nồng còn trẻ, da trắng muốt, lớn con, có cái bệnh là ăn không bao giờ biết no. Sáng thì bún bò Ngã năm khoảng vài tô, trưa giò heo, bò tái, tối gà xé, thịt luộc cuốn bánh tráng nướng nhúng nước kiểu Quảng Ngãi, ngồi đến mỏi lưng phải bỏ đũa nằm nghỉ mới thôi.


Hậu quả là, mới quen hai vợ chồng này mấy tháng, chàng đã thấy bà Quận tăng trọng từ bốn chục lên tới hơn một tạ ta, mỗi khi lên xe jeep của chồng đi chợ, đứa tớ gái nhỏ phải đỡ nàng một cách rất nặng nề. Nhưng hậu quả thứ hai quan trọng hơn: chồng phải có bồ.


Một cô bé bán giải khát ở quán cơm, không đẹp lắm nhưng gọn gàng, dễ coi. Tiếng đồn bay về tai Hoạn Thư gốc Huế. Nàng điều tra biết rõ tự sự. Một sáng đẹp trời, nàng mua một cái thủ lợn, hai chai rượu Tây, một cặp trà, leo xích lô tới nhà cô gái.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info








[1] Tên những người tham gia Quốc dân đảng chống Diệm ở Quảng Ngãi 1956-1963.




[2] Tức lớp 11 sau này.




[3] Năm thứ hai Trung học.


 




[4] đv, đảng viên Cộng sản.




[5] Thơ Trần Tế Xương.


 




[6] Hà Nhai vãn độ: Cảnh đò chiều ở bến Hà Nhai; là một thắng cảnh sông nước hữu tình nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, thuộc địa phận xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh, đoạn từ phía đông thôn Ngân Giang đổ xuống phía tây thôn Thọ Lộc (TX).


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 10.04.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 10.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 16.03.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 16.03.2018
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 18.01.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 20.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
xem thêm »