tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20545620
14.12.2013
Tư liệu sưu tầm
Lên đồng

Còn gọi là hầu đồng, hầu bóng, đồng bóng là một nghi thức trong hoạt động tín ngưỡng dân gian (dòng Saman giáo) của nhiều dân tộc, trong đó có tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Về bản chất, đây là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các tín đồ Saman giáo (ông đồng, bà đồng). Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử. Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ.


Ở Việt Nam, lên đồng là nghi thức không thể thiếu trong các thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, (được gọi là Thanh Đồng)... Về hình thức, nghi thức lên đồng hầu về Hội Đồng Thánh Trần mang tính saman nặng hơn khi lên đồng hầu về Tứ Phủ bởi hầu về Hội Đồng Thánh Trần có các hành động trực tiếp lên thể xác Thanh Đồng (người ở ngoài nhìn đôi khi thấy sợ) như đi trên than hồng, xiên lình(dùng thanh sắt sắc nhọn đâm xuyên vào hai má và miệng thanh đồng), ăn lửa, lên đai (1 hình thức thắt cổ, có người được gọi là sát căn, có khi lên 3 đai)...


Người đứng giá hầu đồng gọi chung là Thanh Đồng, Thanh Đồng là nam giới thì được gọi là "cậu", nữ giới được gọi là "Cô hoặc Bà Đồng". "Cậu" thường mặc bộ quần áo lụa, mặt tô son điểm phấn (tóc có thể để dài như con gái). Thường có hai hoặc bốn phụ đồng (được gọi là nhị trụ hoặc tứ trụ hầu dâng) đi theo Thanh Đồng để chuẩn bị trang phục, lễ lạt... Trong một buổi lên đồng thì có rất nhiều "giá". Mỗi lần thay giá, người ta lại phủ lên "cậu" một tấm khăn lụa đỏ, sau đó bỏ ra và lúc này Thanh Đồng đang ở một "giá" mới và phải thay bộ trang phục xống áo, khăn chầu, cờ quạt, đồ hầu dâng... sao cho tương xứng với "giá" này. Khi thì Thanh Đồng hóa thân thành một vị tướng, khi thì là một quan lớn uy nghiêm oai vệ, lúc lại hóa thân thành một cô gái đang tung tăng nhảy múa… Điệu múa của Thanh Đồng cũng được thay đổi theo đặc điểm của "giá". "Giá" quan thường múa cờ, múa kiếm, long đao, kích; giá các chầu bà thì múa quạt, múa mồi, múa tay không; giá ông hoàng thì có múa khăn tấu, múa tay không, múa cờ ; giá các cô múa quạt, múa hoa, chèo đò, múa thêu thùa, múa khăn lụa, múa đàn, múa tay không; giá các cậu thường múa hèo, múa lân... Nghi lễ Thánh giáng phải theo thứ tự từ cao đến thấp từ Thánh Mẫu đến hàng Quan, Chầu, ông Hoàng, hàng Cô và Cậu. Số lượng giá trong một buổi lên đồng có khi lên tới 36 giá.


Trong lúc Thanh Đồng đang hoá thân thì bốn phụ đồng ngồi quỳ chân ở dưới cũng nghiêng ngả và múa may hưởng ứng Thanh Đồng theo nhịp câu hát. Những nắm tiền lẻ sau khi được Thanh Đồng tung ra, ban phát cho những người xung quanh được coi là tiền lộc và được những người đứng xem xung quanh nhặt lấy cất giữ để lấy may. Nhạc hát thông thường là điệu chầu văn hoặc là hát nói có nội dung ca ngợi sự linh thiêng của thần thánh và vẻ đẹp tiên giới. Nhạc khí chủ đạo là đàn nguyệt, bên cạnh nó là phách, cảnh, sênh, trống chầu, chuông, trống… Ở miền Bắc Việt Nam có Phủ Giầy là nơi hay tổ chức lên đồng nhiều nhất.


Với các giá ông Hoàng thì nhóm đàn hát (được gọi là "Cung văn") sẽ ngâm các bài thơ cổ. Lúc này, Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác thưởng tiền cho Cung văn và dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượu, thuốc lá, trầu nước...Tới giai đoạn cao trào của Thánh thì người đứng giá thường múa gươm hoặc bơi thuyền. Do vậy, ở Việt Nam có câu hát "cậu bắn súng lục, cô bơi thuyền rồng" là để chỉ sự này.


Một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng có nghi thức giao tiếp với thần linh như tín ngưỡng Mỡi của người Mường, tín ngưỡng Then của người Tày, Nùng. Tuy nhiên, khác với nghi thức lên đồng của người Việt, sự giao tiếp với thần linh ở Mỡi và Then chủ yếu thông qua hình thức xuất hồn, tức là các ông Mỡi, bà Then có khả năng thoát hồn khỏi xác bay đi gặp gỡ, cầu xin thần linh phù hộ cho dân chúng.


Ngày nay, lên đồng vẫn còn là nhu cầu tâm linh, là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian của một bộ phận người Việt. Các nghi lễ này thường được tổ chức nhiều lần trong một năm vào các dịp lễ tiết, thường là tại các lễ hội đền thánh, phủ mẫu... Ngoài việc lên đồng để giao tiếp với thần linh, truyền thống tín ngưỡng Việt Nam còn tin tưởng rằng sau khi chết, linh hồn người chết vẫn còn và theo dõi cuộc sống của người thân đang sống. Do đó, khi lên đồng, linh hồn của người chết có thể nhập vào đồng cô, đồng cậu (người gọi đồng) để trò chuyện với thân nhân đang sống. Thông qua cuộc trò chuyện âm-dương này, người sống sẽ biết được những yêu cầu của người thân quá cố về mỗ mả để điều chỉnh và cúng xin cho phù hợp. Đồng thời, thông qua cuộc đối thoại này, người sống cũng biết được vận mạng tương lai của mình.


Tại Việt Nam, từ sau 1955 đến cuối thế kỷ XX, hoạt động lên đồng bị chính quyền xem là hoạt động mê tín dị đoan do nhiều trường hợp việc lên đồng đã bị nhiều người lợi dụng vào mục đích xấu. Gần đây, nhiều hội thảo khoa học nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian Việt Nam, trong đó có lên đồng đã được tổ chức, nhiều ấn phẩm của các học giả đã được xuất bản.


Trong văn học, Tú Xương đã viết 1 bài thơ "Lên đồng":


        Khen ai khéo vẽ sự lên đồng


        Một lúc lên ngay sáu bảy ông


        Sát quỉ, ông dùng thanh kiếm... gỗ,


        Ra oai, bà giắt cái... khăn hồng.


        Cô giương tay ấn, tan tành núi,


        Cậu chỉ ngọn cờ cạn rốc sông.


        Đồng giỏi sao đồng không giúp nước?


        Hay là đồng sợ súng thần công?


Phản hồi bài thơ của Tú Xương:


        Chẳng ai vẽ được sự lên đồng


        Năm tòa Quan Lớn gọi Tôn Ông


        Sát quỉ, Tôn Ông dùng thanh kiếm Thánh


        Ra oai, Chầu Bà Chiếu Hào Quang.


        Cô giương tay ấn, ban Gia lộc,


        Cậu chỉ ngọn cờ trăm nhà vui.


        Đồng giỏi nhưng không thể giúp nước?


        Vì Đồng còn dở việc cứu dân!


Gửi cụ Tú Xương


        Thiên sinh tạo hoá phép ảnh đồng


        Hội đồng quan lớn hiệu tôn ông


        Sát quỷ hô thần thanh kiếm Thánh


        Ra uy tạo gió phép hô phong


 


        Cô ra tay cứu bao người sống


        Cậu ứng phép thần đục hoá trong


        Ai bảo là đồng không giúp nước


        Âm phù dương trợ chẳng kể công


Bao đời nay, quyền trời phép thánh, quyền sơn lâm phép sơn trang cứu nhân độ thế, âm phù dương trợ bao triều đại được gia phong gia tặng uy nghiêm tôn kính. Trong cách mạng, các đền phủ không chỉ là nơi hương khói phụng sự mà nhiều nơi là căn cứ cách mạng nơi cứu dân độ thế.


        "Ai bảo là đồng không giúp nước


        Âm phù dương trợ chẳng kể công"




 Lễ Trình đồng mở phủ của Đạo Tứ Phủ  


    Lễ mở phủ còn được gọi là sau khi làm lễ thì người có đồng mới chính thức là 1 con đồng tứ phủ.lễ ra đồng


    Trong 3 năm tính từ ngày mở phủ người đó được gọi gọi là tân đồng. Sau ba năm tân đồng làm lễ tạ đàn bốn phủ và được coi là đồng thuộc. Những ngưòi có căn số làm thầy sẽ được phong quan ( thanh đồng đạo quan) và họ có thể đi mở phủ cho ngưòi khác. Những ai có khả năng xem bói, bói bằng linh cảm thì thường khi mở phủ có đàn chúa bói và cách thức mở phủ có hơi khác bình thường một chút. Người ta goi những con đồng này là đồng bói.


    Tân đồng khi làm lẽ mở phủ phải chuẩn bị rất nhiều thứ trong đó rất quan trọng là phải có 1 khăn phủ diện 1 áo công đồng khăn tấu hương... Khăn áo cũng rất nhiều tùy vào điều kiện họ phải sắm mỗi giá 1 bộ khăn áo. Đây là nguyên tắc chung còn nhiều khi người ta chỉ cần 5 bộ áo dài 5 màu gồm đỏ xanh trắng vàng và xanh lam hay mượn khăn áo của người khác. Nhưng đặc biệt là khăn áo công đồng (do tiên thánh sang khăn sẻ áo cho ) không được mượn và cũng không được cho ai mượn khăn áo đó.


    Trong tín ngưỡng thờ Mẫu thì (lên đồng) bắc ghế hầu thánh là nghi lễ phổ biến và quan trong


    Lễ mở phủ là buổi lễ ra đồng của 1người có căn đồng số lính. Để tiến hành lễ mở phủ, đệ tử phải mời về 1 đồng thầy (người sẽ mở phủ và dạy phép nhà thánh cho tân đồng), và pháp sư cung văn, tứ trụ hầu dâng cây quỳnh cây quế ( những người thay khăn thay áo lên hương cho thanh đồng).


    Lễ mở phủ về cơ bản cũng giống như 1 lễ hầu đồng bình thường. Trong lễ mở phủ có các nghi lễ sau:


    Lễ phát tấu thỉnh ngũ phương (lễ mặn)


    thỉnh phật tụng kinh dược sư


    Khoa trình đồng tứ phủ (có lễ tam sinh thường là lợn, gà, ngan hoạc lợn gà cá (cá rán hoặc cá nướng)


    Khao sơn trang


    khao thiên quan


    Khao hạ ban (ngũ dinh)


    cúng chúng sinh


    Có nơi còn có khoa cúng trần triều


    Sau đó đồng thầy mới vào hầu thánh và làm lễ mở phủ cho đồng mới


    Trong tín ngưỡng Tứ phủ có nhiều khoa cúng khác nhau như khoa cúng Phật, khoa cúng Mẫu, khoa cúng Tứ phủ trình đồng (dành cho người bắt đầu xin gia nhập tín ngưỡng Tứ phủ để đi hầu bóng), khoa Tam phủ đối kháng (cúng để xin cắt tình duyên cho người người trần khỏi cõi người âm), khoa Tam phủ thục mệnh di cúng hoán số (cúng Nam tào Bắc đẩu để xin đổi số, phê cho số trường sinh), Cúng Thục án Diêm Vương, cúng trăm phù cửu đỉnh, là những đàn cúng cho người mười phần chết tám, v.v… Người ta thường cúng khoa cúng Phật (nếu đền thờ vọng Phật), khoa cúng Mẫu, hoặc cúng chung cả hai khoa gộp thành khoa cúng Phật-Mẫu. Nội dung khoa cúng có thể chia làm ba phần. Phần đầu để khai quang đàn tràng, dâng hương. Phần giữa với mục đích để thỉnh chư Phật, chư Thánh theo thứ tự từ cao xuống thấp. Phần cuối mời chư Phật, chư Thánh an tọa, thụ hưởng và cuối cùng các vị thần trở lại nơi mình ngự trị.


    Trong lễ trình đồng, đồng mới có thể mời pháp sư làm lễ trung cúng và tiểu cúng hoặc có thể làm lễ đaị cúng. Trong lễ đại cúng có múa Sái tịnh với ý nghĩa làm sạch sẽ đàn tràng là một hiện tượng văn hóa khá độc đáo trong khoa cúng Phật-Mẫu. Pháp chủ mặc áo cà sa năm điều, đội mũ thất Phật. Một tuần Sái tịnh gồm múa khai hoa, kết ấn, múa vòng thuận nghịch, thư chữ trong chén ngọc chản, cầm cành dương liễu vảy sái chữ tâm. Trong khoa cúng, ngoài am hiểu khoa giáo, các thầy cúng cũng phải sử dụng các nhạc cụ thích hợp chư chuông trống bạt thanh la... Mỗi thầy cúng đảm nhiệm ít nhất một nhạc cụ. Vị trí ngồi trong dây của họ bị chi phối bởi sự sắp xếp theo quy định của các nhạc cụ. Thông thường, pháp chủ sẽ đảm nhiệm một mõ, một chuông. Người đầu dây tả đảm nhiệm trống canh, người thứ hai chơi trống cái, người thứ ba gõ thanh la. Người đầu dây hữu chơi tiêu cảnh, người thứ hai xóc đôi nạo và người thứ ba gõ bạt


    LỄ PHÁT TẤU thỉnh năm vị sứ giả đồ lễ 1000 vàng ngũ phương (5 màu)


    5 ngựa bé + 5 xiêm y + mũ + hài


    lễ mặn


    mâm phát tấu gồm


    5 trứng năm mầu


    5 vở+bút (ngày xưa dùng bút lông có thêm thỏi mực tàu còn bây giờ dùng bút bi cho tiện)


    5 gương + 5 lựoc


    5 khăn bông+ 5 khăn mùi xoa


    5 quạt 5 màu


    5dao+5 kéo+thuốc lào


    5 nứoc hoa + 5 bật lửa


    thỉnh phật tụng kinh dựợc sư


Trong lễ mở phủ quan thầy hầu 6 giá quan trọng nhất để mở phủ là 5 giá quan và giá chầu đệ nhị. Ngoài ra còn hay thấy hầu giá đức ông Trần triều và chúa nguyệt hồ


Trong ngũ vị tôn quan thường là 4 vị quan từ quan đệ nhất tới quan đệ tứ mỗi quan mở 1 phủ tưong ứng và quan tuần tán đàn, có nơi quan đệ nhất chỉ chứng đàn quan đệ nhị mở 2 phủ quan tam mở 2 phủ lại cũng có nơi quan đệ tam và quan đệ tứ mỗi vị mở 2 phủ; Thường mỗi phủ có 1 mâm lễ và 1 ché nước tựơng trưng cho mỗi phủ khi mở phủ các quan về chứng lễ và dùng gáo để đập ché và tứới nước tắm cho đồng mới (tượng trưng thôi, bây giờ dùng nứớc hoa phun lên đồng mới).


    mâm bốn phủ có các lễ vật giống mâm phát tấu với số lượng đồ lễ là trai 7 gái 9


    ngoài ra còn có cầu giấy 4 mầu và khăn 4 phủ (4 mầu)


    gạo muối cau tiền


    mâm sơn trang đồ lễ gồm 13 (hoặc 15 phần)


    gồm 1 đĩa nếp cẩm, 1 quả dừa tôm cá mực cua cành măng tươi...


    mâm sơn trang dâng cô bé Thượng gồm chanh ớt gừng dứa,


    mâm sơn trang dùng để chứng đàn gồm 13 quả trứng xanh và đồ lễ gần giống mâm phát tấu


    trên ban công đồng thường được bày như sau


    Mũ ngọc hoàng, mũ quan nam taò bắc đẩu mũ bình thiên


    mũ các quan 5 bài vị 5 màu bốn phủ (đỏ xanh vàng trắng tím) 1 bài vị bản mệnh mầu hồng


    bày bốn mâm bốn phủ cùng với 4000 vàng bốn phủ tương ứng và 4 ché nước 4 phủ được bịt kín bằng giấy trang kim hoặc giấy 4 màu tương ứng với bốn phủ


    4 gáo nước (hoạc 2 gáo nếu chỉ có 2 quan về mở phủ)


    Long chu phượng mã


    đại mã dâng các quan


    1 ngựa đỏ thiên phủ


    1ngựa xanh nhạc phủ


    1 thuyền rồng trắng, tam đầu cửu vĩ


    1 voi vàng địa phủ


    1 ngựa tím dâng quan tuần


    trên ngựa có tráp áo


    5000 vàng năm mầu dâng các quan


    rắn nghê và 5 hình nhân 4 hình nhân bốn phủ 1 hình nhân hồng bản mệnh dâng sơn trang


    4 toà sơn trang 4 màu (xanh, đỏ, trắng, vàng), mỗi toà gồm 1 hình chúa bà ngồi trên bệ, 2 hình chầu cầm quạt chầu vào, 12 hình cô, 1 thuyền nhỏ,1 bè nhỏ, 1 thoi nhỏ,1 núi giùm, 1000 vàng đại, 1000 vàng cô 12, 1bộ hải sảo


    Thường chỉ dâng tòa sơn trang màu xanh


    dâng 3 tòa chúa bói cũng giống tòa sơn trang nhưng thường nhỏ hơn 1 tý dâng ông hoàng


    3 ngựa 3 màu trắngtím vàng nhỏ hơn ngựa dâng các quan lớn 1 chút


    tráp áo và 3000 vàng 3 màu trắng tím vàng


    dâng cô 5000 vàng cô 5 màu dâng 5 cô cô đôi cô ba cô sáu cô chín cô bé


    dâng cậu 2 ngựa nhỏ hơn ngụa dâng ông hoàng màu trắng và xanh cùng vàng hoa dâng cậu ba và cậu bé


    Có nơi dâng cả mã trần triều gồm ngựa tráp áo đỏ + vàng thiếc


TLST


 


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Stalin và vấn đề ký ức lịch sử của nước Nga - Tư liệu sưu tầm 23.09.2017
Sau vụ xử Bạc Hy Lai: Tham nhũng có đe dọa tương lai Trung Quốc? - Tư liệu 21.09.2017
Một Việt Nam khác? Vương quốc họ Nguyễn ở thế kỷ 17 và 18 - Li Tana 19.09.2017
Chuyến du lịch Việt Nam của vị Nga Hoàng cuối cùng - Tư liệu sưu tầm 19.09.2017
Franklin Roosevelt – Người duy nhất đắc cử ba nhiệm kỳ tổng thống Mỹ - Tư liệu sưu tầm 18.09.2017
Tưởng Giới Thạch – Tổng thống Trung Hoa Dân quốc - Tư liệu sưu tầm 18.09.2017
Mao Trạch Đông trong mắt người Trung Quốc hiện nay - Lý Lỵ & Chương Lập Phàm 18.09.2017
Huyện Kiên Lương: Vững vàng hội nhập và phát triển/ Du lịch đảo ở Kiên Lương - Nhiều tác giả 17.09.2017
Huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang - Tư liệu 17.09.2017
Vài ký ức về ba tôi: Bộ trưởng Vũ Trọng Khánh - Vũ Trọng Khải 10.09.2017
xem thêm »