tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18447042
23.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế Cuộc đời và sự nghiệp (11)

 


Phạm Trung Việt


THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP


Theo gia phả còn lưu, dòng họ Trương nguyên ở xã Phước Long huyện Thạch Hà, phủ Hà Ba (tức Hà Thanh), Hà Tĩnh.


Thủy tổ là Trương Đăng Nhất và con là Trương Đăng Trưởng ứng nghĩa vào Nam (1624), thời chúa Sãi Thụy Quận Công Nguyễn Phúc Nguyên.


Đến Quảng Ngãi, gia đình định cư tại xã Mỹ Khê Tây, tổng Bình Châu, huyện Bình Sơn (nay thuộc huyện Sơn Tịnh).


Trương Đăng Nhất khi chết được chôn tại Bàu Cò, làng Tư Cung Bắc, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.


Có lời đồn đoán cho rằng vua Tự Đức là con trai Trương Đăng Quế, nhưng theo lời ông Trương Quang Trợ, giáo học, trưởng nam một phái dòng họ Trương, người đang còn giữ gia phả thì quả quyết đó là vì thấy vua Tự Đức tôn kính như bậc cha mẹ (Trương Đăng Quế từng là thầy của vua và nhiều hoàng thân, vừa là cố mạng lương thần do di chiếu của vua Thiệu Trị).


Trương Đăng Quế tự Duyên Phương, bút hiệu Quảng Khê, là con thứ 5 của Trương Đăng Phác, sinh ngày 01 tháng 11 năm Quí Sửu (1793) tại làng Mỹ Khê Tây, huyện Bình Sơn.


Tướng mạo Trương Đăng Quế khôi ngô, tính tình khoan hòa, thận trọng, nếp sống thanh bạch, chí khí hiên ngang, lòng trung hậu, yêu nước chân thành.


Thuở thư sinh, ông học giỏi, năm 27 tuổi đậu Hương cống (cử nhân) khoa Kỷ Mão (1819) triều Gia Long thứ 18, Trương Đăng Quế là người khai khoa cho tỉnh Quảng Ngãi. Tuy chỉ đậu cử nhân, nhưng Trương Đăng Quế học rộng, thông suốt kinh sách, thơ văn lỗi lạc, có lưu lại tác phẩm “Học văn dư tập”.


Gia phả họ Trương có kể lại giai thoại trên đường ra Huế dự kỳ thi Hương, ngang qua đèo Hải Vân, Trương Đăng Quế đã ngẫu ngâm:


“Quát mục đông minh duy hữu hải


 Hồi đầu, nam nhạc cánh vô sơn”.


(Trước mắt nhìn chỉ thấy biển là rộng hơn tất cả. Quay đầu xem các núi ở phía Nam không có núi nào cao bằng núi ở Hải Vân).


Trương Đăng Quế làm quan 3 triều (Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức) về hưu tháng 3 năm Quý Hợi, mất ngày 12 năm Ất Sửu (1865) tại nguyên quán Mỹ Khê Tây, Quảng Ngãi, hưởng thọ 73 tuổi, tước Cần chánh điện Đại học sĩ, Tuy Thạnh Quận công.


- Trương Đăng Quế và việc chống Pháp:


Trương Đăng Quế đã đứng về phe chống đối hòa ước Nhâm Tuất (5.8.1862), đã bác bỏ lời đề nghị của khâm sai Nguyễn Bá Nghi, kiên quyết chống Pháp dù có tin đồn Chí Hòa và thành Mỹ Tho bị thất thủ. Khoảng tháng giêng Tân Dậu (1861), người đã gián tiếp, ngấm ngầm ủng hộ các lực lượng kháng chiến chống Pháp do Bình Tây Đại nguyên soái Trương Công Định cầm đầu.


- Trương Đăng Quế và vua Minh Mệnh:


Có thể nghĩ rằng vua Minh Mệnh đã biết sử dụng đúng khả năng của Trương Đăng Quế, sớm trọng dụng ông trong chức bạn độc, hết lời khen ngợi tài văn học của Trương Đăng Quế làm chủ sát hạch giáo chức các tỉnh, Độc quyển Điện thí, chủ khảo trường thi Hội 1833, 1838, Tổng tài Quốc sử quán.


Sau khi đọc hết lời tâu của Trương Đăng Quế về sách lược miền thượng du Thanh Hóa. Vua Minh Mệnh đã khen Trương Đăng Quế là một vị đại thần mưu lược và có độ lượng.


Chính Trương Đăng Quế đã chứng tỏ tài năng và đức độ qua những trách nhiệm đã được giao phó.


Vua Minh Mệnh đã di chiếu cử Trương Đăng Quế sung Phụ chánh Đại thần để tiếp tục giúp vua Thiệu Trị.


- Trương Đăng Quế và vua Thiệu Trị:


Lúc lên ngôi, vua Thiệu Trị cho thăng Văn Minh điện Đại học sĩ, gia hàm Thái bảo, Quản lý bộ Binh kiêm Cơ mật viện, tấn phong Tuy Thạnh tử.


Vua làm một bài thơ 8 câu, sai Thị vệ đem tận nhà ban thăm bày tỏ ý ưu đãi đại thần. Năm Thiệu Trị thứ 6 (Bính Ngọ, 1846) Trương Đăng Quế lâm bệnh, vua Thiệu Trị phán với Huỳnh Thế Mỹ:


“Là người trung thành thì biết thương vua, muốn thương vua thì trước hết phải bảo thân mình. Trương Đăng Quế ngày đêm lo âu, Trẫm vẫn biết, nên thể theo ý, Trẫm đã cho khanh ấy an dưỡng”.


Vua lại cho Trương Đăng Trụ, con trưởng của Trương Đăng Quế sánh duyên với con gái thứ tư của vua Minh Mệnh, tức là An Mỹ công chúa. Tháng 5 Bính ngọ (1846) vua tấn phong Trương Đăng Quế tước bá, khen ông hiền lương, trung chánh, đặc ân cho một cái bài ngọc khắc 4 chữ: “Cố mạng lương thần” bốn chót sừng có hình thú bằng vàng, lại ủy nhiệm Trương Đăng Quế chức Tổng tài để tu chỉnh tập văn quy của vua Thiệu Trị. Tháng 9 năm 1947, trong di chiếu phong Dực Tông lên ngôi, vua Thiệu Trị có viết:


“Trương Thái Bảo giúp Trẫm trị nước đã nhiều năm, nước thịnh, văn thị, võ thành, đem lòng trung yêu nước giúp Trẫm thì cũng phải đem lòng ấy giúp thị quân”.


Trước khi băng hà, vua Thiệu Trị có đòi cố mạng lương thần Trương Đăng Quế và các đại thần Vũ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Thiếp đến bên giường trối trăn.


- Trương Đăng Quế và vua Tự Đức:


Tự Đức lên ngôi khi ngài mới 18 tuổi. Cho nên thời vua Tự đức, có ông vua trẻ và các vị cố mạng lão thành


Năm Tự đức nguyên niên (1848), Trương Đăng Quế được thăng Cần Chánh điện Đại học sĩ, tấn tước Quận công, sung Kinh diên giảng quan.


Nhà vua rất ưu đãi Trương Đăng Quế. Sau giờ giảng sách, ông thường được mời ở lại uống trà. Vua hết lòng tín nhiệm vị cố mạng lương thần này, sáu lần vị Đại thần này xin về hưu nhưng vua vẫn giữ lại để chung lo việc nước.


Năm 1852 quân Pháp đánh đồn Gia Định, quan quân ta lên đóng ở Biên Hòa. Để quyết định chiến hay hòa, vua Tự Đức phái Thượng thư bộ Binh Nguyễn Bá Nghi sung chức Khâm sai đại thần vào Biên Hòa để quan sát. Nguyễn Bá Nghi tâu:


“Sự thế Nam Kỳ chỉ có hòa mới được, chẳng thế sanh nhiều trở ngại khác”.


Sớ này vua Tự đức giao cho Trương Đăng Quế xem, ông đã tâu:


 “Người Pháp muốn ở Gia Định, lại toan lấy Định Tường, Biên Hòa. Hòa cuộc không xong, trừ việc vừa đánh vừa giữ thế thì không có chuyện khác được”.


 Vậy là Trương Đăng Quế cùng một ý kiến với Nguyễn Tri Phương chủ trương phải kháng chiến lâu dài


Năm thứ 6 Tự Đức (Quý sửu, 1853), Trương Đăng Quế xin về thăm phần mộ tiên linh, vua ban 2 bài thơ.


Ngày Trương Đăng Quế về hưu (tháng 3 Quý Hợi 1863), Tự Đức năm thứ 16, vua ban các thứ dưỡng lão và khiến đình thần làm lễ tiễn đưa.


Vua Tự Đức đã tỏ lòng mến mộ, luyến tiếc và ca ngợi tài đức của Trương Đăng Quế:


“Xưa nay được một người tôi già có tài, có đức, ít có. Trẫm cũng biết người khanh bệnh yếu, e khó kiếm người thay. Vì có tài, bất luận già trẻ, ưa nhau xin chớ phụ nhau. Nay đã đến ngày tiễn biệt nhau, gắng giữ cho tròn cái chí cao thượng. Tiếc mãi người lão thành. Khanh về cũng nhớ ta, không phải là an cảnh già mà quên được đâu, huống chi cơ trời không nhất định, ta cũng hay đau…”.


Sau khi Trương Đăng Quế về hưu, vua Tự Đức có ban cho bài thơ chữ Hán.


Vua Tự Đức còn bảo Trương Đăng Quế, từ ngày về hưu có biết được gì hay, nghĩ điều gì quan hệ về việc lợi hại trong nước, cho phép phát tạm tâu lên.


Năm thứ 18 Tự Đức (Ất Sửu, 1865) Trương Đăng Quế đau nặng, vua sai đem sâm ban tặng, sai đình thần hỏi nếu có điều gì bổ ích thì ghi đem về kinh.


Ngày 15 tháng 2 năm Ất Sửu (1865), triều vua Tự Đức thứ 18, Trương Đăng Quế từ trần, thọ 73 tuổi.


Vua Tự Đức tặng bài thơ đại ý:


“Một người tôi hiền đã thác rồi, làm sao mà người trong nước khỏi kinh ngạc. Thần hồn của người đã về trên non cao, không mấy đời tái sinh lại nữa. Đối với đời thì người gồm 4 chữ: Phước, Lộc, Danh, Thọ ghi trên minh tinh không thể hết. Đối với Triều đình thì lưỡng triều cố mạng ghi để trong Quốc sử …, người về vườn không bao nhiêu mà phải lo lắng đến nhiệm vụ, người muốn dốc hết lòng trung mà bị bệnh nên không hết tấc dạ, chắc rằng người có âu lo nơi chín suối, mấy cây sổ trước mộ cảm động mà khuynh hướng theo người…”.


Vua sai tỉnh thần mang rượu tới nhà ban tế, tuyển thợ xây mộ, bia đề:


“Lưỡng triều cố mạng lương thần Trương Văn Lương chi mộ”.


Mộ Trương Đăng Quế tọa lạc tại ấp Mỹ Khê trên khoảnh đất rộng 1 mẫu rưỡi, chung quanh có trồng dương liễu, sát mộ bia có 10 cây thông, 4 trụ 4 bản, thành ngoài dày 1 thước 30, thành trong chạm trỗ kỳ công, trước mộ có nhà bia, nơi có bài văn bia Thần đạo chạm trên đá của Tuy Lý vương. Vua truyền chờ hết tang tuân lời tiên đế cho tòng tự ở Thế miếu.


Trích
ĐỊA CHÍ VĂN HÓA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Giáo sư Trần Văn Giàu (chủ biên)


Thâu hồi thành Phiên An được mấy tháng thì qua đầu năm 1836, Minh Mệnh cử đại thần Trương Đăng Quế đi Kinh lý Nam Kỳ. Ngày 24-2 (1836), Quế đến Sài Gòn với 3 nhiệm vụ chính:


- Duyệt số dân và tuyển chọn quân (duyệt tuyển).


- Đo lại ruộng đất và lập địa bạ (đạc điền).


- Giải quyết tại chỗ một số vấn đề khẩn trương khác.


… Cuộc kinh lý 1836 đã giải quyết những việc như duyệt dân, tuyển lính, thanh lọc hàng ngũ quan lại, xếp đặt thể lệ chuyển vận đường sông chia cắt lại đơn vị hành chánh, xếp đặt lính tráng, bố phòng những đồn bảo trọng yếu, định lệ thưởng phạt trong việc khai hoang lập ấp v.v… Song kết quả đáng kể hơn hết là lập được “Đinh bạ” và “Địa bạ” cho mỗi thôn xã ở Nam Kỳ, đối với nhà nước thì đỡ tình trạng trốn xâu lậu thuế, hay lẫn vào bưng biền để tụ tập khởi loạn, đối với xã hội thì bờ cõi đã đúng, kẻ giàu không được bá chiếm, người nghèo đều có tư sản.


Cách làm sổ bộ đó khá chính xác, sau này người Pháp thuộc địa cũng thán phục nhất là địa bạ, có trường hợp đến đầu thế kỷ 20, họ vẫn lấy đó làm căn cứ để giải quyết các vụ tranh chấp ruộng đất.


Kết quả cụ thể của cuộc kinh lý 1836, là tạm thời làm chậm tình trạng phân hóa giai cấp ở nông thôn, mỗi xã thôn đều có địa phận canh tác để sinh sống, mỗi nông dân đều có quyền trưng khẩn đất hoang làm ruộng.


Đạt được kết quả đó cũng nhờ ở hoàn cảnh Nam Kỳ khi ấy còn rộng, dân còn thưa, diện tích canh tác rộng thêm thì sản ngạch lúa gạo càng nhiều thêm, số lúa gạo dư thừa trở thành hàng hóa tất sẽ làm cho các thị trấn nhất là Sài Gòn càng thêm sầm uất và mở mang.


Công tác duyệt tuyển và đạc điền nổi tiếng đó chỉ tiến hành trong 5 tháng là hoàn tất.


Trích
CHẾ ĐỘ CÔNG ĐIỀN CÔNG THỔ TRONG LỊCH SỬ KHẨN HOANG LẬP ẤP Ở
NAM KỲ LỤC TỈNH


Nguyễn Đình Đầu


Gia Long chết, Minh Mệnh kế vị làm vua từ 1820 đến 1840. Khi mới lên ngôi, Minh Mệnh tiếp tục chính sách cai trị của Gia Long đối với Gia Định từ năm 1808 đã được nâng lên làm Gia Định thành, tương đương như Bắc thành, để cai quản chung cả vùng. Ngay năm 1820, Minh Mệnh cử Lê Văn Duyệt làm tổng trấn với quyền hành rất lớn. Lê Văn Duyệt nguyên là võ tướng, tác phong và cách cai trị rất nghiêm khắc. Ngoài nước thì quân Xiêm ngại Duyệt nên không dám xâm phạm Cao Miên, trong nước thì bọn “yên hùng tứ chiếng”, “trộm cướp tay chơi” sợ Duyệt nên ít hó hé. Tuy nhiên đây là một chính sách cai trị có tính tản quyền và phần nào “địa phương tự trị”.


Năm 1832, Lê Văn Duyệt chết. Chỉ vài tháng sau, Minh Mệnh chấm dứt chế độ tản quyền, ra lệnh:


“Từ Quảng Nam đến Gia Định mỗi hạt đặt chức: đốc, phủ, bố, án và lãnh binh. Còn nguyên trước đặt các chức Tổng trấn, các tào và trấn thủ, tham hiệp đều bãi”.


Nam Bộ chia ra thành sáu tỉnh. Song vừa được mấy tháng, Lê Văn Khôi đã nổi lên chiếm Gia Định và nhiều nơi khác, dân nghèo theo rất đông. Năm 1935, quân triều đình mới lấy lại được thành, hồi đó còn gọi là thành Phiên An.


Sau những biến cố đó, Minh Mệnh đem áp dụng chế độ công điền công thổ vào Nam Kỳ. Không hiểu vì tình hình bắt buộc hay do xu hướng tinh thần mà Minh Mệnh làm vậy. Hoặc vì cả hai lý do. Chúng ta biết rằng Gia Long thì thực tế còn Minh Mệnh thì lý thuyết hơn. Minh Mệnh thiên về chính sách bình quân, muốn trở lại một xã hội nông nghiệp thuần túy, ghét dân mại nghiệp (nghĩa là người buôn bán), không chịu để cho Nam Kỳ ở riêng một khoảnh, theo riêng một chế độ, chế độ mạnh được yếu thua, thì Nam Kỳ sẽ đầy dẫy dân nghèo và trộm cướp, rồi loạn lớn. Phải chăng bởi tình hình đó, do lập luận đó, Minh Mệnh đã làm ngược lại Gia Long tức là đã đem áp đặt triệt để chế độ công điền công thổ vào Nam Kỳ, coi đó vừa là giải pháp kinh tế, xã hội vừa là giải pháp chính trị để “yên dân”.


a. Đạc điền và lập chế độ công điền công thổ.


Trước khi cử đoàn kinh lý, Minh Mệnh tuyên bố lý do: “Nhân dân sáu tỉnh Nam Kỳ từ lâu được nhờ ơn huệ sâu dày của các thánh (tức các chúa Nguyễn)… Vài mươi năm gần đây vì những người được chuyên quyền trọng trấn như Hoàng Công Lý và Lê Văn Duyệt chỉ biết tham lam quê kệch để mưu việc riêng, quen thói kiêu căng mà xúc phạm người trên. Việc cai trị và phép tắc làm quan ngày một bỏ mất, phong tục nhân dân và lề thói nhân sĩ dần dần kiêu căng xa xỉ. Tệ hại dần chứa, lâu ngày thành quen nếp, gây tai họa biến loạn: Lê Văn Khôi giữ thành làm phản gieo họa đến dân đen. Giặc Xiêm nhòm được kẽ hở kéo đến xâm lấn, làm cho tai vạ lan rộng biên thùy… Nay phái Kinh lược sứ đi đến sáu tỉnh thay trẫm kinh lý một phen”.


Đoàn Kinh lược này có nhiều nhiệm vụ, song việc đạc điền lập địa bộ là quan trọng hơn cả. Vì từ trước đến nay, các làng ở Nam Kỳ chưa có địa bạ, việc đo đạc ruộng đất chưa hề làm. Ai muốn làm ruộng đâu cũng được, chiếm hữu tự do, khai thuế đại khái, không có sổ sách ghi chép cẩn thận những kẻ cường hào ác bá xâm chiếm hết đất đai. Lần hồi, xảy ra nhiều vụ kiện tụng tranh chấp ruộng đất liên miên, không căn cứ vào đâu mà phân xử. Do đó, trong chỉ thị cho đoàn Kinh lược trước khi lên đường có nói rõ:


“Phàm tất cả mọi việc quân dân, hễ điều hại nên bỏ, điều lợi nên làm, thì chuẩn cho lần lượt tâu lên mà làm. Mà việc ranh giới ruộng đất lại càng trọng yếu. Xưa nay ruộng đất đều có ghi rõ mẫu, sào, thước, tấc, đó là phép thường, không thay đổi. Các tỉnh trong khắp nước đều như thế cả, há có lý nào sáu tỉnh Nam Kỳ lại khác, riêng theo nếp cũ hay sao? Trong sổ ruộng ít thấy ghi rõ mẫu, sào và hạng bậc đẳng điền, mà cứ tính là một dãy, một thửa, có đến 8, 9 phần 10. Như vậy không những hầu như quê mùa, không phải là qui chế thống nhất, mà ranh giới không rõ ràng, lại để sinh ra mối tệ. Nếu xảy ra án kiện tranh giành thì đông tây tứ chi lờ mờ, không lấy đâu chứng cứ; quan lại giảo quyệt, cường hào điêu toa càng dễ xoay xở, thì lấy gì mà xử án dứt khoát và dập tắt tranh giành. Thực có nhiều điều bất tiện. Trước giờ còn cứ rập theo, chưa kịp đề ra việc này. Nay sự biên đã yên, thì việc này phải nên kinh lý làm trước”.


Phái đoàn Kinh lược “đạc điền” Nam Kỳ năm 1836 rất quan trọng, cầm đầu phái đoàn là những trọng thần có uy tín nhất triều đình lúc đó: “Binh bộ thượng thư Cơ mật đại thần Trương Đăng Quế và Lại bộ thượng thư Nguyễn Kim Bảng (sung làm Kinh lược đại sứ; thự Lễ bộ hữu thị lang Tôn Thất Bạch và thự Thông chính sứ Nguyễn Đắc Trí sung làm phó sứ; nhằm giờ lành ngày 18 tháng 2, mang cờ và bài đem theo các viên dịch tùy biện, do đường thủy đi”. Thuyền đi 6 ngày đã đến Gia Định. Vừa tới Cần Giờ đã có sẵn 200 biền binh dưới quyền, một quản cơ và 4 suất đội “đến nghênh tiếp, làm thuộc hạ để sai phái”. Nguyễn Kim Bảng đến Gia Định bỗng ngã bệnh, Trấn Tây tướng quân Trương Minh Giảng thay làm Kinh lược đại sứ.


Đoàn Kinh lược phân công nhau như sau: phó sứ Tôn Thất Bạch và Nguyễn Đức Trí thì đi Biên Hòa, Định Tường để khám đạc. Trương Đăng Quế ở lại Gia Định năm ba ngày xếp đặt việc chung rồi cũng lên đường đi Vĩnh Long, An Giang. Như vậy là một nửa phụ trách miền Đông và một nửa phụ trách miền Tây.


Trương Đăng Quế tâu ngay về triều:


“Hạt này, sau nạn binh lửa, dân mới được yên ổn sum họp. Về việc tuyển lính, những kẻ ngu lười, yên thói cũ, lúc mới thì hoang mang sợ hãi, đến khi được các phủ huyện theo lời dụ, dẫn bảo, bấy giờ mới hơi yên ổn. Quan tỉnh hiện đương gọi và tuyển lính. Duy về việc đạc ruộng, nhân dân sở tại ít người biết toán phép, không khỏi một phen phải tốn công chỉ bảo cho nhiều người tập quen để sẽ lần lượt tiến hành. Thần đã sai giáo thụ (học quan ở phủ), huấn đạo (học quan ở huyện) hiệp với các viên phủ huyện cùng làm, ngõ hầu mới mong xong sớm được”.


Minh Mệnh phê bảo:


“Đừng để lời phao đồn làm mê hoặc!”.


Việc duyệt tuyển và đạc điền toàn bộ sáu tỉnh Nam Kỳ thế tất làm hoang mang lúc đầu và xáo trộn mọi sinh hoạt, dù cho đoàn Kinh lược đã vào làm việc khi sau Tết chưa phải ngày mùa. Như trong tờ tâu của quan tỉnh Gia Định gởi về có nói:


“Năm ngoái, thuê mướn dân phu ở tỉnh hạt và ở Vĩnh Long, Định Tường để san bằng thân thành Phiên An cũ, và lấp các hào rãnh; đến nay công việc mới được quá nửa. Bây giờ có việc tuyển lính và đạc ruộng, dân các tỉnh gián hoặc có người phải đăng lính, có người phải nêu nhận ruộng đất, vậy xin hãy tạm thả cho họ về; chờ khi vãn việc sẽ tiếp tục làm”.


Vua y cho.


Vì theo thể lệ hồi đó, mỗi kỳ duyệt tuyển nghĩa là duyệt dân tuyển lính thì toàn thể dân đinh do thôn trưởng hướng dẫn phải kéo nhau đến trường duyệt tuyển ở tỉnh để quan khâm sai từ kinh tới và quan tỉnh điểm danh, xem sức khỏe và tầm vóc của mỗi người để định đoạt cả việc tuyển quân lẫn mức thuế. Còn việc khám ruộng và đạc điền thì tất cả lại phải kéo nhau tới hiện trường. Việc đo khám và định hạng ruộng đất cũng làm công khai như việc duyệt tuyển vậy. Bao giờ cũng phải có mặt của kinh phái, tỉnh phủ huyện, tổng xã và đương sự. Mọi sự khiếu nại có thể đưa ra ngay tại hiện trường. Sự thỏa thuận chung là cần thiết.


Nhân xin nói qua nội dung của sổ địa bạ. Địa bạ khác nào như tấm địa đồ của làng. Theo đó ghi từng thửa ruộng, mảnh đất với diện tích bao nhiêu mẫu sào thước tấc, tọa lạc tại đâu, giáp giới tứ cận thế nào, thuộc quyền sở hữu của ai, vì đâu mà có, trồng loại cây gì, làm nhà, để mồ mả hay hoang phế. Ruộng lúa thì thuộc đẳng điền nào, và nếu cộng điền cộng thổ thì phải ghi riêng. Theo nguyên tắc, làng nào cũng phải có địa bạ vì ngay khi xin lập làng mới đã phải có địa bạ kèm theo. Rồi khi tính thuế, người ta sẽ căn cứ vào địa bạ để làm ra điền bạ. Trong điền bạ còn phải ghi rõ cả số lúa, số tiền thuế tính riêng từng thửa ruộng đất rồi cộng chung cho cả làng. Nhưng ở Nam Kỳ vì pháp luật còn lỏng lẻo nên các sổ đinh điền chưa được phân minh. Phái đoàn Kinh lược 1836 thực hiện lần đầu ở Nam Kỳ những sổ bạ đó theo đúng qui cách chung của toàn quốc… Đồng thời các đạc điền quan cũng dùng những thước đã được định chuẩn mệnh danh là quan điền xích để đo khám ruộng đất co giản tùy tiện theo thỏa thuận từng địa phương, có khi chỉ giữa một số người với nhau.


Các nhân viên tùy biện của đoàn Kinh lược lần này gồm đa số là đạc điền quan, những người biết đo đạc, tính toán, định phương hướng, vẽ địa đồ. Họ cũng là những người đã quen việc lập sổ địa bạ theo cung cách chung của cả nước… Trong địa bạ của mỗi làng hầu như bao giờ cũng có những mục riêng dành cho công điền công thổ. Vậy trong tình hình bê bối về chiếm hữu ruộng đất ở Nam Kỳ mà có lẽ triều đình đã nắm được phần nào, các đạc điền quan phải biết giải quyết và đối phó trước mỗi trường hợp tranh chấp hoặc rắc rối. Riêng đối với mục công điền công thổ, thì sẽ tính sao đây? Có nên theo tục lệ truyền thống của cả nước và xã thôn mà định đoạt khắp lục tỉnh Nam Kỳ? Chắc trước khi phái bộ lên đường, triều đình đã hội bàn, tìm ra phương hướng rồi chỉ thị cho đạc điền quan cách giải quyết đối với mục công điền công thổ.


Chúng ta chưa tìm thấy tư liệu về sự quyết định thiết lập chế độ công điền công thổ ở Nam Kỳ qua những cuộc tranh biện ở triều đình hay chỉ thị áp dụng nói trên, nhưng qua những bản trẩn tấu và thành tích kinh lý trình bày sau đây, chúng ta có thể khẳng định rằng chế độ công điền công thổ đã được thiết lập tại Nam Kỳ nhân cuộc kinh lý năm 1836.


Chúng ta hãy trở lại với cuộc kinh lý này. Mới ở Nam Kỳ được 2 tháng, Trương Đăng Quế đã tâu báo về kinh:


“Lính mới tuyển ở Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường đã gần đủ số. Còn việc đạc ruộng đã làm thử ở chỗ gần, thấy dân tình cũng có một vài người không vui, nhưng phần đông đều muốn đo đạc. Vì Nam Kỳ chứa chất tệ hại đã lâu, cường hào cậy mạnh bá chiếm, người nghèo không đất cắm dùi. Có kẻ biệt xã chiếm ruộng đất xã khác, mà người xã sở tại lại phải tá ngụ để cày cấy và ở. Có nơi ruộng có một thửa, tô thuế nguyên trưng không quá 3, 4 hộc, nay đã chia làm 6, 7 thửa bán cho người khác, mà các người mua ấy đều phải nộp thóc gấp bội cho chủ nguyên trưng thu riêng, lại còn nhiều nỗi sách nhiễu không kể xiết! Nay khám đạc lại thì mọi người cứ chiếm phần mình cày, cấy, nộp thuế, không bị cường hào ức hiếp. Ngoài ra, đất bỏ không có ra sức khai khẩn cày cấy thì dân thường cũng được chia lợi. Cho nên người thích muốn đạc ruộng thì nhiều… Thế thì việc đạc ruộng cũng là điều người muốn làm, chứ không phải là làm đau khổ dân”.


Như vậy, về mặt dư luận, tình hình thuận lợi hơn trước như về kỹ thuật, sứ bộ còn gặp khó khăn vì số đạc điền quan kinh phái thì ít mà người địa phương thì chưa quen việc đo tính và lập địa bạ. Vả lại, số xã thôn phường ấp ở lục tỉnh khi đó đã lên tới khoảng 1.700 đơn vị (chúng tôi phỏng đoán giữa hai con số 1.489 của Gia Định thành thông chí và 2.063 của Đại Nam nhất thống chí, do chúng tôi cộng lại), đây là một số lượng công tác rất lớn. Ngoài ra, có những thửa ruộng trước chỉ đóng thuế ba bốn hộc thóc nhưng tới lúc hạ thước đo thì đi nửa ngày mới hết chỗ cấy cày. Đo được những thửa ruộng như vậy cũng rất vất vả. Nên tờ tấu trình nói thêm:


 “Duy từ quan lại ở tỉnh đến các tổng lý, không một ai am tường về địa phận đông tây, về phân số mẫu sào và những cách nêu ruộng, ghi nhận, tính, đo! Bọn thần đã chỉ bảo hai ba lần cho đến khi họ thông thuộc được, kể cũng rất gian khổ. Trong các số ruộng đem đạc có chỗ nguyên trưng là ruộng, mà nay thành ra vườn tược, nhà ở, có chỗ có cày cấy thực mà không có sổ; có chỗ ở xã khác mà ghi vào bán xã; có chỗ trưng là một thửa mà nay chia làm mấy chục thửa, chuyển bán cho người ta rồi; có chỗ trước gọi là một thửa, mà dài rộng quanh co đi đến nữa ngày đường mới hết chỗ cày cấy thực! Sự tình dường ấy không phải kể một nơi mà đủ cả được. Cho nên có đo đạc, tất phải kê cứu, nên không tránh khỏi kéo dài ”.


Minh Mệnh được tin báo, rất mừng, liền thưởng thăng cấp và tiền bạc cho cả phái bộ lẫn quan lại địa phương, đồng thời chỉ thị cho gửi thêm đạc điền quan vào Nam Kỳ phụ giúp cho việc kinh lý.


Phái bộ kinh lý làm việc khẩn trương và cũng rất nghiêm túc, như khi “có tên nhũng lại ở tỉnh Định Tường là Tống Hữu Tài nhân đưa qui thức đạc điền, sách nhiễu lấy tiền của dân. Việc phát giác, bọn Giảng liền đem chém để làm gương răn”. Cho nên phái bộ kinh lý chỉ mất đúng năm tháng (18 tháng 2 đến 18 tháng 7) đã hoàn thành công tác đạc điền cho khắp Nam Kỳ lục tỉnh, một công tác hết sức phức tạp và vĩ đại, một công tác mà chính thực dân Pháp sau này phải thán phục. Họ cho rằng chỉ có những nước có trình độ văn minh cao mới thực hiện được công trình đạc điền kinh lý chính xác như vậy, và các bản địa bạ 1836 đó vẫn có giá trị pháp lý và làm căn cứ cho các công cuộc kinh lý trắc địa sau này.


b. Công điền công thổ trong địa bạ 1936.


Sau khi hoàn tất việc kinh lý, Trương Đăng Quế, Tôn Thất Bạch, Nguyễn Đắc Trí đi đường trạm về kinh phục mệnh, còn Trương Minh Giảng lại về thành Trấn Tây (tức Nam Vang) giữ chức. Trước hết, họ đệ trình bản sách ghi rõ mục ruộng đất:


“Trước ruộng đất nộp thuế là linh 20.197 sở, 13 dây, 8 khoảnh và hơn 3.464 mẫu”.


Nay đạc thành các hạng ruộng đất là hơn 650.075 mẫu. Lại nguyên ruộng trước có linh 65 sở, nay khám ra thành 1.017 khâu ao cá”.


Tiếc rằng chúng ta chưa tìm ra “bản sách ghi số mục ruộng đất” hơn 630.075 mẫu, để biết được số lượng công thổ tổng cộng của cả Nam Kỳ là bao nhiêu. Tuy nhiên, bản kết toán kinh lý còn có nhiều điều khoản liên quan đến công điền công thổ trong “14 điều khoản châm chước bàn định nên làm để tâu lên”. Sự kiện này chứng tỏ đoàn Kinh lược đã dụng ý thiết lập chế độ công điền công thổ tại đây, và số lượng công điền công thổ của mỗi làng nếu cộng chung lại chắc đã lên tới mức đáng kể.


Trong 14 “điều khoản” áp dụng để lập địa bạ, có 7 điều khoản trực tiếp nói tới công điền công thổ còn 7 điều khoản nữa thì không. Nhưng muốn hiểu thêm chế độ công điền công thổ, ta cũng nên biết tới quan niệm của người xưa về cách cư trú, chiếm ruộng đất, nên chúng tôi trích lại toàn văn cả 14 điều khoản và chỉ nhấn mạnh trên những điều liên quan đến công điền công thổ:


“1. Trước trong sổ nộp thuế là ruộng, nay khám đạc là thổ; trước trong sổ nộp thuế là thổ, nay khám đạc là ruộng; trước hoang vu, nay hiện đã thực sự cày cấy, đều theo sự thực, khai vào các hạng. Gián hoặc trước trong sổ là ruộng thực, mà nay khám ra toàn trồng dâu, mía và cau, cũng có một hai phần tách ra, thì cũng theo thực sự, khai vào các hạng thổ đánh thuế.


2. Các hạng ruộng đất nộp thuế trước, gián hoặc có chỗ xây dựng miếu mạo, đền chùa và nơi để mồ mả, thì tách chiêu đạc biên vào sổ.


3. Những đất dân cư, chỗ nào là đất hoang và gò đồng, trong sổ không ghi người nào trước đã nộp thuế thì liệt làm hạng đất dân cư (dân cư thổ) miễn thuế; nếu có chủ khai nhận, thì cho dân đánh giá, nộp thuế theo hạng đất công.


4. Trong số trước là thực trưng, nay khám ra còn một hai chỗ hoang vu thì căn cứ vào ruộng thực canh, đã đạc thành mẫu thành sào, trước bạ; còn thì liệt vào hạng lưu hoang, đều do quan địa phương sức dân khai khẩn cày cấy thành ruộng, cho làm hạng công điền, bắt nộp thuế.


5. Các hạng ruộng đất của các xã thôn trước đã nộp thuế, có lệ thuế trong điền bạ ở thôn này, mà ruộng đất tọa lạc ở thôn khác, và điền bạ theo tỉnh này, mà ruộng đất lại tọa lạc ở tỉnh khác, nay cho trả về số địa bạ của tỉnh và thôn mà ruộng đất đã tọa lạc ở đó.


6. Ruộng đất thực canh, ở trong sổ khai là cả thôn ấy cùng cày cấy, “bốn thôn đồng canh”, thì cho là hạng ruộng đất công. Gián hoặc có những chủ ruộng trốn đi hoặc chết, mà không có con cái, thì giao cho dân sở tại nhận cày cấy, nộp thuế theo hạng ruộng đất công.


7. Ở ngoài phụ quách thành Phiên An cũ, trừ ra những nơi đặt làm thành mới Gia Định và những chỗ liệu để làm quán xá, quan trại, thủy trường, còn thì đạc được hơn 400 mẫu, cho dân phụ cận lập sổ địa bạ, nộp thuế theo hạng công thổ.


8. Một thửa đất, thành cũ Định Tường, trước đạc được hơn 40 mẫu, cho dân sở tại cày cấy, nộp thuế theo hạng công điền.


9. Ở Gia Định có 3 thửa ruộng bỏ hoang, trước cấp cho đội An Lương khai khẩn cày cấy đã thành ruộng, nay đạc được 14 mẫu linh, cho dân nhận lãnh canh tác, nộp thuế theo hạng ruộng công.


10. Ở Hà Tiên có 3 thửa quan điền, trước không phải nộp thuế, cấp cho cơ Hà Tiên cày cấy; nay đạc thành ruộng được 75 mẫu linh, vẫn để cho lính cơ, nộp thuế theo hạng quan điền.


11. Ở Định Tường, trước kia Tôn Thất Chương để lại 2 thửa ruộng cỏ, từ trước vẫn cho người tá canh, nửa vời, các điền hộ chuyền tay nhau bán đi; nay khám ra là 50 thửa, mà dấu tích tá canh hãy còn rõ ràng thì có 6 thửa đạc được 398 mẫu linh, vẫn giao cho chủ trước. Còn 44 thửa, đạc thành 359 mẫu linh, thì cho nhân dân lãnh nộp thuế, liệt vào hạng ruộng công.


12. Nhân dân xã nào đã trốn tránh tan tác, địa phận của họ không ai đứng nhận đo đạc thì sức cho tổng trưởng sở tại gọi những xã thôn bên cạnh nhóm lại tiếp nhận, khám đạc, rồi căn cứ vào sổ ruộng đất, lập thành sổ địa bạ, cho người tá canh nộp thuế; đợi khi dân ấy về, lại cho nhận ruộng cày cấy và cư trú.


13. Thôn xã nào trước không có địa phận, lại không có ruộng đất nộp thuế ở đâu, duy có mua được một hai thửa ruộng đất ở thôn khác để ngụ cư mà hiện có số dân và ngạch lính, thì cho tách lấy chỗ ruộng đất đã mua ấy làm địa phận, xây dựng địa bạ. Gián hoặc có một hai xã thôn, trước không có địa phận, cũng không có ruộng đã mua và đóng thuế, mà chỉ ở nhờ ruộng đất người khác, hiện nay đã thành làng xóm thì cũng cho xắn lấy số ruộng đã ở nhờ đó là địa phận mình. Nếu thôn xã nào ở tản mác, không có thành thôn xóm, thì do quan địa phương xét xem trong hạt, những nơi rừng rú gò đồng bỏ hoang mà có thể cày cấy, cư trú được thì cho họ lập ấp, làm sổ địa bạ, để họ được yên cư.


14. Các hạng ruộng đất, trước ở trong đó, gián hoặc có chỗ trước bạ hai lần hoặc có chỗ bỏ hoang mà không rõ tọa lạc nơi đâu, nay xét ra quả thực là đúng, thì đều cho miễn trừ”.


Những điều khoản trên đây rất súc tích và cụ thể, nếu nghiên cứu kỹ có thể hiểu được những khái niệm của người xưa về địa phận xã, an cư lạc nghiệp, lập ấp mới, sổ địa bạ, đồn điền, quan điền và đặc biệt nơi đây là nguồn gốc của công điền công thổ. Tới nay, hầu như tư liệu này chưa được khai thác đúng mức.


Sau khi đọc xong bản tấu trình các điều khoản trên, Minh Mệnh nói với Nội các:


“Lục tỉnh Nam Kỳ, bấy nay những xứ sở bờ mốc ruộng đất đều lộn xộn. Nay Kinh lược đại thần thân đi xem xét tại chỗ, bàn kỹ từng khoản, đều được ổn thỏa hợp lý, chuẩn cho thi hành như lời đã bàn…


Vậy truyền chỉ cho đốc, phủ, bố, án ở các tỉnh chuyển sức cho các phủ huyện chiếu theo những xã thôn thuộc hạt phải lấy sổ ruộng mới đạc làm chuẩn đích, lập rõ giới hạn, hoặc dùng nêu gõ, hoặc chôn mốc đá, ghi dấu rõ ràng, để trong chỗ làng mạc cứ theo đấy, cùng sống yên ổn”.


Cuộc kinh lý năm 1836 đã giải quyết nhiều việc như duyệt dân tuyển lính, thanh lọc hàng ngũ quan lại, xếp đặt thể lệ chuyển vận đường sông, chia cắt lại đơn vị hành chánh, cắt đặt lính tráng bố phòng những đồn bảo trọng yếu, định lệ thưởng phạt trong việc khai hoang lập ấp,… nhưng kết quả đáng kể hơn cả chính là việc lập địa bạ làm cho “bờ cõi đã đúng, kẻ giàu không được bán chiếm, người nghèo đều có tư sản”. Triều đình Huế đã hãnh diện và hài lòng về chuyện kinh lý này, nên Trương Minh Giảng được thăng chức Đông các đại học sĩ, Trấn Tây tướng quân lãnh tổng đốc An Hà (An Giang, Hà Tiên); Trương Đăng Quế được thăng Hiệp Biện Đại học sĩ lãnh thượng thư bộ Binh, sung Cơ mật viện đại thần; Tôn Thất Bạch, Nguyễn Đức Trí cùng các tùy viên khác cũng được thăng chức hoặc khen thưởng (như vậy Trương Minh Giảng được thăng tới tòng nhất phẩm). Quan lại và lý dịch địa phương cũng được khen thưởng nhiều ít tùy công lao. Ngoài ra, triều đình còn định lệ thưởng phạt cho quan lại và lý lịch tùy theo mức độ khai hoang hoặc để hoang nhàn ruộng đất.


Địa bạ 1836 đã làm cho “kẻ giàu không được bá chiếm, người nghèo đều có tư sản”, đã thiết lập chế độ công điền công thổ ở Nam Kỳ. Nhưng cái “tư sản” có của người nghèo còn quá nhỏ, nên nhà nước quân chủ đương thời đã tìm biện pháp nới rộng thêm phạm vi của công điền công thổ ngõ hầu đem quân cấp cho dân nghèo.


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. NXB Văn học. 1-2009.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
Những đám khói - Võ Phiến 23.03.2017
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
Mười ngày rung chuyển thế giới (11- tiếp và hết) - John "Jack" Silas Reed 15.03.2017
Hoàng Đạo Thúy với những trang viết về Hà Nội - Hoài Anh 13.03.2017
xem thêm »