tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19374575
25.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế Cuộc đời và sự nghiệp (10)

TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ VÀ SỰ NGHIỆP VĂN HOÁ


“Văn hoá là những gì còn lại, sau khi người ta đã quên tất cả”, câu nói của một nhà văn Pháp nổi tiếng, đã diễn tả cái nội hàm cơ bản nhất của từ văn hoá.


Những gì Trương Đăng Quế để lại, tự bản thân nó đã là một di sản văn hoá, từ cách tiếp cận cuộc đời, hành xử với tha nhân, đạo đức trong cuộc sống riêng tư, cho đến những công nghiệp to lớn về chính trị, quân sự, kinh tế và giáo dục. Đó là chưa tính đến di sản văn học với nhiều tác phẩm giá trị mà tiêu biểu là Trương Quảng Khê Tiên sinh tập, do Tùng Thiện vương Miên Thẩm sưu khảo, cho khắc mộc bản và in ra vào năm Tự Đức thứ mười (1857)


Ông làm thơ như người ta tham dự một trò chơi trên con đường đời mà ông đã đi qua. Thơ ông có đủ các sắc màu lung linh của cuộc sống, từ những rung động trước phong cảnh tươi đẹp của mọi miền đất nước, đến tình cảm thắm thiết đối với quê hương và những người thân yêu ruột thịt. Từ những ưu tư về bản thân hay thời cuộc, đến sự thán phục hay phê phán về những nhân vật lịch sử của mọi triều đại. Ông đặt tên cho tập thơ của mình là “Học văn dư tập”, (khi san định Miên Thẩm đặt thêm tên tạp thơ này là “Trương Quảng Khê tiên sinh tập”) với sự khiêm tốn chân thành của kẻ sĩ, chỉ học văn sau khi thực hành chu toàn cái đạo làm người. (Sách Luận ngữ – thiên Học nhi có câu: “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu dư lực tắc dĩ học văn”(Người quân tử ở nhà thì giữ chữ hiếu, ra ngoài biết tôn trọng người khác, thương yêu mọi người, gần gũi bà con họ hàng, làm được những điều ấy, mới nói đến chuyện học văn).


Hầu hết di cảo của Trương Đăng Quế đều được viết bằng chữ Hán, kể cả thơ. Đây là một điều mà chúng ta phải mở ra một dấu ngoặc. Nếu so sánh về mức độ đồ sộ thì tác phẩm của Trương Đăng Quế không thua kém bất cứ nhà thơ Việt Nam nào ở thế kỷ mười chín. Song, chúng ta có thể cảm nhận rằng, sự hiểu biết và đánh giá của người đời sau đối với thơ ông, là hết sức hạn chế. Nguyên nhân cơ bản là trong thời buổi suy tàn của Hán học, chỉ có các tác phẩm viết bằng văn Nôm, mới có cơ may được xem xét và thẩm định đúng với giá trị đáng có. Điển hình là ai cũng biết Truyện Kiều của Nguyễn Du, song các tác phẩm chữ Hán của thiên tài này, liệu có mấy người biết đến? Một vấn đề liên quan sâu sắc đến việc thẩm định văn học chính là việc dịch thơ. Việc dịch thơ đòi hỏi, bên cạnh khả năng dịch thuật ngôn ngữ, người dịch phải có một tâm hồn đồng điệu, cùng rung cảm với tác giả về mỗi thể tài, và nhất là trình độ diễn đạt ngôn ngữ phải tương xứng với ý đồ của tác giả. Điều này thật không dễ dàng. Nếu không có Đoàn Thị Điểm, chắc chắn đến thế kỷ hai mươi, đã không còn mấy người biết đến Chinh Phụ Ngâm và Đặng Trần Côn.


Về phương pháp, như Trương Đăng Quế viết trong Lời Nói Đầu của tác phẩm “Học văn dư tập”, tình yêu đối với thơ đã có trong ông từ thuở còn thơ ấu, rồi dần dà theo năm tháng, cùng với việc hấp thu kiến thức trên đường học vấn, ông có cơ hội tìm hiểu các phép tắc, tiêu chuẩn của các tác gia, để cuối cùng ông kết luận: “… Tôi nhận ra rằng, chung quy không ngoài hai chữ tánh linh. Cho nên làm thơ, nói cho cùng là không nên nương tựa vào cửa nhà người khác. Ý nảy ra là viết liền, chưa nói chi đến chỗ cao sâu, nhưng được cái cốt cách riêng…”.


 Thực ra, để đi đến kết luận này, ông đã trải qua một quá trình không đơn giản. Ông đã phải: “… Kẻ xướng người hoạ, cùng nhau đẽo gọt mài dũa, truy tìm tận gốc, chắt lọc cho ra cái cốt lõi. Nhờ đó mà sành sỏi thơ văn của các danh gia qua các triều đại; từ thời Tấn, Ngụy, lưỡng Hán trở về trước, tôi đều ghi chép cẩn thận, không để sót một bài nào”. (Thơ Trương Đăng Quế, Lời nói đầu, tr. 11).


 Ngày nay, người ta gọi phương pháp của Trương Đăng Quế thuộc trường phái thơ Tự nhiên chủ nghĩa (Naturalism). Vì tự nhiên nên có thể lột tả được xúc cảm và tâm hồn của người thơ qua từng dữ kiện. Trương Đăng Quế gọi đó là tánh linh, là cốt cách. Còn văn học đương đại gọi đó là bản sắc.


 Thật kỳ lạ, một vấn đề còn đang được tranh luận như là một trong các trào lưu văn học đương đại, thì thực tế đã được hình thành và phát triển trong tác phẩm của một nhà Nho thế kỷ thứ mười chín.


 Lương Khê Phan Thanh Giản, vị Tiến sĩ khai khoa của đất Nam Kỳ, từng nhận xét về cái cốt cách nhà thơ của Trương Đăng Quế: “Tại kinh đô, ai cũng bảo rằng tiên sinh là bậc đáng kính, đứng đầu giới tao nhã. Trong những cuộc tương hội của giới mũ áo nơi văn đàn, thì tiên sinh lúc nào cũng làm.người chủ trì”. (Lương Khê Phan Thanh Giản, Thơ Trương Đăng Quế, Tựa, tr.9).


Song có lẽ người hiểu rõ nhất tâm hồn, cốt cách thơ Trương Đăng Quế trong số những người đồng thời với ông, không ai khác hơn là Tùng Thiện vương Miên Thẩm. Vị Hoàng thân này là một đại danh sĩ của đất đế đô, có mặt trong nhóm bốn người mà Tự Đức từng có thơ ca ngợi:


Văn như Siêu, Quát, vô tiền Hán


Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường


Tùng Thiện vương đã dõi theo dấu chân thơ của Trương Đăng Quế, hiểu rõ ngọn ngành tâm hồn nghệ sĩ thấp thoáng bên trong cái vỏ ngoài của một đường quan hết lòng vì sự nghiệp của triều đình. Có như vậy, Tùng Thiện vương mới cảm thụ được những ý thơ tự nhiên không gọt dũa của Trương Đăng Quế:


“Chưa từng gọt chữ, dũa câu, mà uyển chuyển tựa đường bay viên đạn. Lời lẽ nào trung nào hiếu, ý tưởng đủ cả chung cả riêng.”


Miên Thẩm, Thơ Trương Đăng Quế, tr. 558


 Tùng Thiện vương thực tình khâm phục cái cốt cách thanh cao trong thơ Trương Đăng Quế, bao quát trong những điều đơn giản bình thường là những ý tứ sâu xa:


 “Trong cái nhỏ mà nhìn thấy cái vô biên, như giấu quả núi to trong hạt cải mầm nhỏ xíu; kiếm chút nhàn trong công việc bận rộn, làm thơ văn chép đầy trên giấy hoa đàm. Hà Tông Quyền liếc xem mà quên bước. Phan Thanh Giản nhác thấy hoá ngẩn ngơ.”


Miên Thẩm, Thơ Trương Đăng Quế, tr. 558


Người đời sau không ai không ngạc nhiên về sự đa tài của Trương Đăng Quế. Xuất thân bằng con đường khoa bảng Nho học, việc ông đảm đương các chức trách của triều đình cần đến khả năng văn học, là điều bình thường. Ngay cả việc trở thành giám khảo hoặc chủ khảo của các kỳ thi Hội, thi Đình, hoặc đứng đầu Quốc sử quán, cũng vẫn chỉ thể hiện tài năng, và uy tín văn học của ông. Song bên cạnh khả năng văn học, ông lại tỏ ra xuất sắc trong lĩnh vực chính trị và quân sự khi đảm đương trọng trách Thượng thư bộ Binh sung Cơ mật viện đại thần, chưa kể đến khả năng kinh tế thể hiện trong chuyến Kinh lược Nam Kỳ, giải quyết nhiều vấn đề dân sinh phức tạp. Ở ông, người ta khám phá ra một con người có năng lực toàn diện.


Bên cạnh những tài năng gần như phi thường đó nơi Trương Đăng Quế, người ta còn nhận ra một tâm hồn nhân hậu, gần gũi với nhân dân, với những suy nghĩ cao đẹp về đất nước, về con người. Ông lo cho cuộc sống những người dân thường sau cơn binh lửa, ông lo cho đám trẻ thuộc dân tộc ít người ở miền tây Thanh Hoá không có điều kiện để học hành, ông lo cho những đưá cháu ở quê, ông khóc thương một người chị họ… Ông quyết tâm từ bỏ kinh kỳ, với lầu son gác tía, để quay về căn nhà tranh mà tổ phụ đã để lại ở quê hương.


Ông đã trở thành một con người mang đậm tính nhân văn, xứng đáng có một chỗ đứng trong tâm hồn người dân, và trong lịch sử.


TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ, NHỮNG GÌ CÒN LẠI


Chúng tôi lặp lại, “Văn hoá là những gì còn lại, sau khi người ta đã quên tất cả”, câu nói của một nhà văn Pháp nổi tiếng, đã diễn đạt cái nội hàm cơ bản nhất của khái niệm văn hoá.


Những gì Trương Đăng Quế để lại, tự bản thân nó đã là một di sản văn hoá, từ cách tiếp cận cuộc đời, hành xử với tha nhân, giữ gìn đạo đức trong cuộc sống riêng tư, cho đến những công nghiệp to lớn về chính trị, quân sự, kinh tế và giáo dục. Đó là chưa tính đến di sản văn học với nhiều tác phẩm giá trị mà tiêu biểu là Trương Quảng Khê Tiên sinh tập, do Tùng Thiện vương Miên Thẩm sưu khảo, cho khắc mộc bản và in ra vào năm Tự Đức thứ mười (1857)


Thoạt tiên, ông tự đặt tên cho tập thơ của mình là “Học văn dư tập”, với một sự khiêm tốn chân thành nhưng các tác phẩm của ông là cả một công trình hết sức đồ sộ. Ngoài những tác phẩm mà ông đảm trách vai trò Tổng tài, chủ biên, chịu trách nhiệm về chất lượng và khối lượng, hiện còn lưu lại như Thiệu Trị văn quy, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam thực lục tiền biên, thì Trương Quảng Khê tiên sinh tập, có lẽ là một trong rất ít tác phẩm thuộc dạng sáng tác văn học, được khắc mộc bản để in ra vào thế kỷ mười chín. Đây cũng là một tác phẩm đồ sộ với 244 bài thơ, diễn tả bao nhiêu cảm xúc tâm hồn khi đối diện với những tình huống khác nhau.


Ông làm thơ như người ta thở và sống, sống một cách hết mình cái cuộc đới mà tạo hóa đã ban cho. Thơ ông có đủ các sắc màu lung linh của từng trường đoạn mà ông đã trải qua trong suốt cuộc đời. Từ những rung động tính tế trước phong cảnh tươi đẹp của đất nước, đến tình yêu thắm thiết đối với nơi cắt rún chôn nhau, tình cảm nồng đượm với những người thân thuộc, nỗi trăn trở về cuộc đời, về thân phận, suy nghĩ về các danh nhân lịch sử, nhưng không quên những người dân đen khốn khổ, cho chí những vấn đề quốc gia đại sự, đều được thể hiện trong thơ của ông.


Thăm núi Dục Thuý, một danh thắng ở Ninh Bình, ông lưu luyến khi chia tay:


Nam lai tuấn tiểu thiên phong trổ


Bắc cố di man nhất thủy hoành


Minh phát đô trung hoài thủ vọng


Đài ngân tạch sắc hữu dư phong


Dục Thúy sơn ngẫu đề


Dịch:        Mặt Nam lởm chởm cao phong nhọn


Hướng bắc, mênh mông nước thẫm xanh


Từ giã lên đường còn ngoảnh lại


Nhớ hoài sắc đá vết rêu xanh.


Ở Trương Đăng Quế, tính cách của một con người mơ mộng, lãng mạn bộc lộ khá rõ, và sẽ không ai ngạc nhiên về điều này, bởi lẽ đó là những thuộc tính gần như cố hữu ở mỗi nhà thơ. Ông rung động với cảnh sắc thiên nhiên của mùa thu đầy gợi cảm, nhưng tánh linh của nhà thơ khiến ông liên tưởng đến cái cảnh tiệc vui đã tàn:


Phong phiêu quế thụ hương thiên đạm


Sương nhiễm phong lâm diệp tận hồng


Nhất khúc nghê thường ca vũ tán


Quảng hàn sầu tịch cánh thù đồng


Thu trung cảm sự


Dịch:          Gió xao cây quế hương thơm nhẹ


 Sương thấm rừng phong lá rực hồng


Xong khúc nghê thường trăng cũng vắng


Quảng hàn lạnh giá có buồn không?


Từ đó, ông ưu tư về thân phận, suy nghĩ đến thân thế cuộc đời, với nỗi bâng khuâng:


Tài tình bán vị công thi lụy


Thân địa thường ưu báo quốc khinh


Luyến luyến thâm tri ban cát xả


Vãn liên hồ thượng bất thăng tình


Thu nhật thư hoài


Dịch:    


Tâm tình xin gửi cho thi phú


Thân thế lo đền nợ núi sông


Bao mối thâm tình đâu bỏ được


Bên hồ sen muộn một bầu không


Ông nặng lòng với miền quê đất Quảng, một thôn xóm nghèo ở làng Mỹ Khê, nằm ven bờ biển. Ông đang đảm đương trọng trách ở triều đình, nhưng lúc nào cũng canh cánh trong lòng niềm hoài vọng về cái xóm thôn mộc mạc đó. Cũng là điều lạ, vì thói thường, khi từ chỗ bần hàn, một bước lên quan, người ta có xu thế lãng quên quá khứ. Ở Trương Đăng Quế thì ngược lại. Đôi khi ông tự trách mình là đã quá đa cảm, và tự chấp nhận, coi đó như một cá tính không thay đổi được nơi con người ông. Một làn gió thoảng, một ánh trăng soi cũng đủ dấy lên trong ông, cồn cào nỗi nhớ:


Thi tồn cổ điệu đa canh cải


Tài cộng cao thu sảo liễm sàng


Chỉ nhất cá tình phong vị đắc


Tãc tiêu minh nguyệt chiếu phần hương


Ngẫu vịnh


Dịch:     Thơ dù cổ điệu bao canh cải


Tài dẫu cao xa cứ nhún nhường


Chỉ mỗi tâm tình không đổi được


Đêm qua trăng rọi nhớ quê hương


Nỗi nhớ càng như được nhân lên, khi ông tiễn người bạn cũ về quê, còn mình thì phải ở lại kinh thành. Nhìn cánh buồm của con thuyền chở người bạn xa dần, lòng ông cảm thấy nôn nao:


Thiên hải khan như tiếp


Phàm tường vọng dĩ vi


Vô nhân sinh vũ hản


Nhiễu hướng cố viên phi


Tống cố nhân hoàn lý


Dịch:


Biển tiếp trời trải rộng


Cánh buồm như nhỏ đi


Ước gì mọc đôi cánh


Bay về quê tức thì.


Lần phụng mệnh vua đi Kinh lược Nam Kỳ, thuyền đi ngang Quảng Ngãi. Do làng ông ở ven biển, nên thuyền gần như đi sát bìa làng. Thế nhưng vì công vụ, ông không thể ghé thuyền thăm quê. Nỗi xúc động vì thương nhớ quê hương lại trào lên trong ông:


Không hoài tang tử kính


Trùng xương thử miêu ca


Khởi lập thuyền đầu vọng


Dao thôn ẩn bệ la


Thuyền quá Quảng Ngãi cố hương


Dịch:          Quê nhà thương biết mấy


Xóm thôn giờ thế nào


Đầu thuyền xa chỉ thấy


Quê mình dưới tàng cao.


Đối với người thân yêu ruột thịt, tình cảm của ông vô cùng thắm thiết. Ông hiểu được sự hy sinh, chiụ đựng thầm lặng của người vợ trẻ, khi tiễn chồng lai kinh: không muốn chồng phải nặng lòng khi ly biệt, nên cố giữ vẻ bình thản, song cuối cùng cũng không giữ được những giọt lệ lăn tròn trên đôi má:


Khản khản tôn tiền khuyến miễn từ


Doanh doanh song kiểm lệ thâu thùy


Lâm hành cố tác hồi thân tỵ


Bất nhẫn tương khan đáo biệt thì


Biệt nội


Dịch:         Nói cứng khăng khăng: chẳng có gì


Yêu kiều đôi má lệ hoen mi


Lên đường cố tránh gây bi lụy


Sao khỏi buồn thương lúc biệt ly.


Với người chị mà ông yêu kính, tình cảm của ông giống như dành cho một người bạn tương tri, hơn là dành cho một người bà con ruột thịt:


Đối tửu tâm tiền túy


Tá bôi vị nhẫn khuynh


Kim thần hướng tỷ biệt


Minh nhật trục nhân hành


Biệt tỷ


Dịch:


Chưa uống lòng đã say


Nâng ly bụng không đành


Sáng nay tạm biệt chị


Ngày mai em lên đường


 Cuối năm, ngồi ngẫm nghĩ đến những thăng trầm của cuộc đời, nỗi u hoài lại đến trong ông, thì người ông nhắc đến đầu tiên cũng chính là người chị mà ông cho là rất hiểu mình:


Cốt nhục tương tri duy hữu tỷ


Cung thương thuộc hạ, cánh hà nhân


Hàn song tận nhật thương trì mộ


Thu khứ đông lai hốt hựu xuân


Tuế vãn thư hoài


Dịch:         Tương tri ruột thịt còn bà chị


Đắc ý trên đời mấy bạn thân?


Ngày hết bên song chiều xuống chậm


Thu qua đông đến lại sang xuân.


 Mặc dù đã chọn lựa và chấp nhận con đường làm quan, song từ trong tâm thức, vẫn hiện diện nơi ông cái tâm lý bất an, băn khoăn về chính con đường mình đã chọn. Bởi vậy, ông luôn tự coi mình như một kẻ lạc loài, vị khách phong trần đã dấn thân vào hoạn lộ một cách bất đắc dĩ:


Dư huy ẩn cao thụ


Sa thảo gian thanh bạch


Cố ngã du thần trung


Phong trần thượng vi khách


Giang hồ hoài cựu du


Dịch:


Ánh chiều đọng tàng cây


Bãi cát màu thanh bạch


Bơi trong bể hoạn này


Ta vẫn phong trần khách


Đôi khi tâm trạng bất an ấy lại bùng nổ, để đến nỗi ông phải tự dằn vặt mình:


Ngã kim cánh hà sự


Nhật tịch đồ doanh doanh


Khởi vi thăng đấu lụy


Lưu hận thử thân danh


Xuân nhật thư hoài


Dịch:


Cớ sao ta cứ mãi


Ngày đêm ra vào cung


Lụy vì thăng đấu phong?


Để hận cái thân danh.


Mặc dù mang một tâm trạng bất an, hoài nghi về con đường mình đã chọn, song khi làm việc công thì ông tỏ ra là người hết sức tận tuỵ và liêm khiết:


Tam quân thượng đới yên lam địa


Nhất kỷ ninh khai yến lạc trường


Đoan ngọ


Dịch:


Ba quân còn chịu bao lam chướng


Đâu thể mình ta tiệc tỉnh say


Đi thanh sát chiến trường, chứng kiến cảnh đầu rơi máu chảy, dân chúng lầm than vì thảm họa chiến tranh, ông thương xót người dân và binh lính phải gánh chịu đau thương mất mát chỉ bởi tham vọng mưu bá đồ vương của một số người:


Vô mệnh tương sanh tao kiếp số


Hữu chinh tướng sĩ trệ phong ai


Dịch:


Vô cớ dân lành mang kiếp nạn


Bao phen tướng sĩ chịu phong sương


Sau cuộc chiến, ông một lòng một dạ muốn khôi phục cuộc sống bình thường, để người dân yên tâm làm ăn:


Thương sanh binh tiễn hậu


Điều tể phí trù duy


Khâm mạng Kinh lược Nam Kỳ


Dịch:


Nhân dân sau binh lửa


Cần sớm được an vi.


Trong vai trò của một vị đường quan đang đảm đương chức trách của triều đình giao phó, ông tận tâm tận lực theo tinh thần của một nhà Nho đầy trách nhiệm, lo trước cái lo của dân, vui sau cái vui của dân, như danh sĩ Phạm Trọng Yêm, đời Tống, từng viết: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”


Bình tố giảng minh văn chánh ngũ


Tiên ưu hậu lạc niệm thường tồn


Tập thiện đường bái biệt


Dịch:


Nguyện ý thánh hiền đem thực hiện


Trước lo sau hưởng, có quên đâu.


Hầu hết di cảo của Trương Đăng Quế đều được viết bằng chữ Hán, kể cả thơ. Đây là điều mà chúng ta cần phải mở ra một dấu ngoặc. Nếu so sánh về mức độ đồ sộ thì tác phẩm thơ văn của Trương Đăng Quế không thua kém bất cứ danh sĩ Việt Nam nào ở thế kỷ mười chín. Song, chúng ta có thể cảm nhận rằng, sự hiểu biết và đánh giá của người đời sau đối với thơ văn ông, thì lại hết sức hạn chế. Một trong những nguyên nhân cơ bản là trong thời buổi suy tàn của Hán học, chỉ có các tác phẩm viết bằng văn Nôm, mới có cơ may được xem xét và thẩm định đúng với giá trị đáng có. Một thí dụ điển hình là, ai cũng biết Truyện Kiều của Nguyễn Du, song đối với các tác phẩm chữ Hán của thiên tài này, liệu có mấy người biết đến? Một vấn đề khác liên quan sâu sắc đến việc thẩm định văn học chính là việc dịch thơ. Việc dịch thơ đòi hỏi, bên cạnh khả năng dịch thuật, người dịch phải có một tâm hồn đồng điệu, cùng rung cảm với tác giả về mỗi thể tài, và nhất là trình độ diễn đạt ngôn ngữ phải tương xứng với ý đồ của tác giả. Điều này thật không dễ dàng. Nếu không có Đoàn Thị Điểm, chắc chắn đến thế kỷ hai mươi, đã không còn mấy người biết đến Chinh phụ ngâm khúc và Đặng Trần Côn.


Về phương pháp, như Trương Đăng Quế viết trong Lời Nói Đầu của “Học văn dư tập”, tình yêu đối với thơ đã có trong ông từ thuở còn thơ ấu, rồi dần dà theo năm tháng, cùng với việc hấp thu kiến thức trên đường học vấn, ông có cơ hội tìm hiểu các phép tắc, tiêu chuẩn của các tác gia. Với những đồng liêu, mà phần lớn xuất thân từ giới khoa bảng, ông cùng họ miệt mài trong các trường văn trận bút:


 “... Kẻ xướng người hoạ, cùng nhau đẽo gọt mài dũa, truy tìm tận gốc, chắt lọc cho ra cái cốt lõi. Nhờ đó mà sành sỏi thơ văn của các danh gia qua các triều đại; từ thời Tấn, Ngụy, lưỡng Hán trở về trước, tôi đều cẩn thận, không để sót một bài nào”


Trương Đăng Quế, Thơ Trương Đăng Quế,
Lời nói đầu, tr. 11


Thế nhưng, sau khi đắm mình vào các dòng văn học cổ điển, nghiên cứu những thủ pháp của các danh gia, thì cuối cùng ông lại đưa ra một kết luận khá bất ngờ:


“…Tôi nhận ra rằng, chung quy không ngoài hai chữ tánh linh. Cho nên làm thơ, nói cho cùng là không nên nương tựa vào cửa nhà người khác. Ý nảy ra là viết liền, chưa nói chi đến chỗ cao sâu, nhưng có được cái cốt cách riêng…”


Có thể coi đó là tuyên ngôn của một trường phái thơ mà ngày nay, người ta gọi là trường phái Tự nhiên chủ nghĩa (Naturalism). Vì tự nhiên, nên có thể lột tả được xúc cảm và tâm hồn của người thơ qua từng dữ kiện. Trương Đăng Quế gọi đó là tánh linh, là cốt cách. Còn trường phái thơ Tự nhiên ngày nay thì gọi đó là bản sắc,


Tuy nhiên, cái tự nhiên của thơ Trương Đăng Quế không phải là cái tự nhiên mộc mạc và thô ráp. Ngược lại nó là cái tự nhiên đã kinh qua sự rèn dũa từ các trường văn trận bút, kinh qua sự tắm gội trong các dòng văn học bậc thầy, do đó nó có được sự tự nhiên thuần thục và vô cùng sang trọng.


Thật kỳ lạ, là một trong những trào lưu văn học đương đại, trong khi phương pháp của trường phái Tự nhiên, vẫn còn là một vấn đề đang được tranh luận, thì thực tế đã được hình thành và phát triển một cách dung dị, tự nhiên, trong các tác phẩm của một nhà Nho thế kỷ thứ Mười chín.


Lương Khê Phan Thanh Giản, vị tiến sĩ khai khoa của đất Nam Kỳ, từng nhận xét về cái cốt cách nhà thơ của Trương Đăng Quế:


 “Tại kinh đô, ai cũng bảo rằng tiên sinh là bậc đáng kính, đứng đầu giới tao nhaõ.Trong những cuộc tương hội của giới mũ áo nơi văn đàn, thì tiên sinh lúc nào cũng làm người chủ trì”.


Lương Khê Phan Thanh Giản,
Thơ Trương Đăng Quế, tr. 9


Song có lẽ, người hiểu rõ nhất tâm hồn, cốt cách thơ Trương Đăng Quế trong số những người đồng thời với ông, không ai khác hơn là Tùng Thiện vương Miên Thẩm. Vị Hoàng thân này là một đại danh sĩ của đất đế đô, có mặt trong nhóm bốn người mà Tự Đức từng có thơ ca ngợi. Tùng Thiện vương đã dõi theo dấu chân thơ của Trương Đăng Quế, hiểu rõ ngọn ngành tâm hồn nghệ sĩ thấp thoáng bên trong cái vỏ ngoài của một vị đại quan hết lòng vì sự nghiệp của triều đình. Có như vậy, Tùng Thiện vương mới cảm thụ được những ý thơ tự nhiên không hề gọt dũa của Trương Đăng Quế:


“Chưa từng gọt chữ, dũa câu, mà uyển chuyển tựa đường bay viên đạn. Lời lẽ nào trung nào hiếu, ý tưởng đủ cả chung, cả riêng.”


Miên Thẩm, Thơ Trương Đăng Quế, Lời tựa, tr. 10


Tùng Thiện vương thực tình khâm phục cái cốt cách thanh cao của thơ Trương Đăng Quế, bao quát trong những điều đơn giản bình thường là những ý tứ sâu xa:


“Trong cái nhỏ mà nhìn thấy cái vô biên, như giấu quả núi to trong hạt cải mầm nhỏ xíu; kiếm chút nhàn trong công việc bận rộn, làm thơ văn chép đầy trên giấy hoa đàm. Hà Tôn Quyền liếc xem mà quên bước, Phan Thanh Giản nhác thấy hoá ngẩn ngơ”.


Miên Thẩm, Thơ Trương Đăng Quế, tr.555


Không chỉ có những người đồng thời cảm phục ông. Người đời sau có lẽ không ai không ngạc nhiên về sự đa tài và đa diện của Trương Đăng Quế. Xuất thân bằng con đường khoa bảng Nho học, việc ông đảm đương các chức trách của triều đình cần đến khả năng văn học, là điều bình thường. Ngay cả việc trở thành giám khảo hoặc chủ khảo của các kỳ thi Hội, thi Đình, hoặc đứng đầu Quốc tử giám và Quốc sử quán, cũng vẫn chỉ thể hiện tài năng và uy tín văn học của ông. Song bên cạnh khả năng văn học, ông lại tỏ ra xuất sắc trong lĩnh vực chính trị và quân sự khi đảm đương trọng trách Thượng thư bộ Binh sung Cơ mật viện đại thần, chưa kể đến khả năng kinh tế thể hiện trong chuyến Kinh lược Nam Kỳ, giải quyết nhiều vấn đề dân sinh phức tạp. Ở ông, người ta khám phá ra một con người có năng lực toàn diện.


Một nhân vật lịch sử lao tâm khổ tứ, lăn lộn vất vả với công cuộc tấn Tây, bình Nam, định Bắc, vươn mình ra biển đông thành công như Trương Đăng Quế thất hiếm có. Bên cạnh những tài năng phi thường đó, người ta còn nhận ra nơi Trương Đăng Quế, một tâm hồn nhân hậu, gần gũi với nhân dân, với những suy nghĩ cao đẹp về đất nước, về con người. Ông xót xa cho cuộc sống những người dân thường sau cơn binh lửa, ông lo cho đám trẻ thuộc dân tộc ít người ở miền tây Thanh Hoá không có điều kiện để học hành, ông thương xót cho những đứa cháu ruột thịt của mình ở quê nghèo xứ Quảng, ông khóc những tài năng thanh xuân phải sớm lìa bỏ cõi đời, ông thương những người chiến sĩ trấn giữ nơi biên thùy xa xôi đến bỏ cả ngày Tết vui vẻ nơi kinh thành. Ở đỉnh cao quyền lực và danh vọng, ông lại quyết tâm từ bỏ kinh kỳ, từ bỏ lầu son gác tía, để quay về căn nhà tranh mà tổ phụ đã để lại ở quê hương.


Ông đã trở thành một con người, mà hành trang của cả cuộc đời, xét trên nhiều khía cạnh, đều thể hiện một tâm hồn thấm đẫm tính nhân văn, xứng đáng có một chỗ đứng trong lòng người dân, và trong lịch sử.


PHỤ LỤC


QUẢNG NGÃI ANH HÙNG VÀ VĂN HIẾN


Vũ Khiêu -Giáo sư, Anh hùng lao động


 


Tôi xin nêu lên ở đây thái độ gắn bó với quê hương qua hai nhân vật điển hình: Trương Đăng Quế thời xưa và Phạm Văn Đồng thời nay.


Về Trương Đăng Quế, tôi đã đọc hết 244 bài thơ trong Học Văn dư tập của ông. Thơ ông rất sâu sắc về nội dung, chặt chẽ về hình thức, tràn đầy tình yêu Tổ quốc và đạo lý làm người, đặc biệt là từ tấm lòng của ông với quê hương Quảng Ngãi.


Tôi rất xúc động, khi đọc bài thơ Thuyền qua Quảng Ngãi cố hương của ông. Trên đường đi kinh lý Nam Kỳ, thuyền ông đi sát quê hương mà ông vì công vụ bề bộn, không thể dừng lại thăm quê hương ông được. Ông ra đứng ở đầu thuyền, nhìn về quê nhà với tấm lòng dào dạt thương nhớ.


 


THUYỀN QUA QUÊ NHÀ QUẢNG NGÃI


Gió xuân, cánh chim biển


Thoáng chốc, vượt sóng trào


Thuyền nhắm hướng quê trẩy


Du tử lòng nôn nao.


Quê nhà thương biết mấy!


Xóm thôn giờ thế nào?


Đầu thuyền, xa chỉ thấy


Quê mình dưới tàng cao


Tiêu biểu cho tình cảm quê hương còn có nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của Quảng Ngãi, người học trò kiệt xuất của Bác Hồ, nhà lãnh đạo được toàn dân yêu quí. Hàng trăm bài ngợi ca ông đã được in trong sách báo. Ở đây, tôi chỉ muốn tìm hiểu ông đã gắn bó sâu sắc với quê hương như thế nào?


Ông sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương Quảng Ngãi. Trên đường cách mạng, ông đã quan tâm giác ngộ các tầng lớp nhân dân đặc biệt là thế hệ trẻ. Ông góp phần xây dựng cơ sở Đảng, rèn luyện những thế hệ trung thành với Tổ quốc và chiến đấu kiên cường trong sự nghiệp cách mạng.


Hồi ký của các cán bộ Quảng Ngãi viết về ông đều nhắc đến những ngày ông về thăm quê, cũng như những ngày cán bộ và đồng bào từ quê hương ra thăm ông. Mỗi lần gặp gỡ là một lần ông tìm hiểu tỉ mỉ về tình hình mọi mặt của quê hương, đồng thời góp ý kiến cặn kẽ với từng cán bộ, về từng nhiệm vụ.


Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn và phát huy văn hóa Dân tộc, Văn hiến Quảng Ngãi, truyền thống và hiện đại, tr. 36


ĐẤT THIÊNG NGƯỜI TÀI VÀ NHỮNG TRỚ TRÊU CỦA LỊCH SỬ


Giáo sư Trường Lưu


Biểu trưng núi Ấn sông Trà càng làm cho vùng đất Quảng Ngãi thêm thi vị, khi nó được đặt trong tổng thể phong cảnh hữu tình mà Nguyễn Cư Trinh đã sáng tác: vịnh Quảng Ngãi thập cảnh lưu truyền mãi cho đến hôm nay.


Như câu nói của nhà phê bình vĩ đại Nga Bielinski: “Thiên nhiên bao giờ cũng là bầu vú sữa nuôi sống tâm hồn con người, nhưng đồng thời thiên nhiên cũng cũng là khúc hát trữ tình muôn đời của thơ ca, nghệ thuật ”. Thực ra, hầu như không một danh nhân chí sĩ nào trong các phong trào yêu nước xưa nay mà tấm lòng không nặng nợ với núi sông, cả nghĩa đen và nghĩa bóng, cả chiều rộng lẫn chiều sâu trong tâm thức dân tộc. Hai chữ “sơn hà” trong câu thơ của Lý Thường Kiệt đã nói lên ý nghĩa này.


Những ai vốn quần tụ trên mảnh đất này theo các giai đoạn biến động của lịch sử và những ai sinh thành trên mảnh đất này rồi tỏa ra các vùng đất khác, đều biết phát huy nghĩa khí và sĩ khí của một vùng văn hiến trong sự xây dựng non sông đất nước.


Nhưng điều băn khoăn ở đây là lịch sử không công bằng với ai, khi nhìn lại bao nhiêu danh nhân, hào kiệt vào loại nổi bật của Quảng Ngãi cho đến nay vẫn còn mờ nhạt trong sử sách hiện đại và trong lòng người. Vẫn biết lịch sử thường trớ trêu, gây ra những nhận thức vòng vèo, cũng xin nêu ra đây một số trường hợp cần suy nghĩ:


1.Bùi Tá Hán là một trung thần của triều Lê trung hưng, giữ chức Tổng trấn thừa tuyên Quảng Nam, trước Nguyễn Hoàng (Thừa tuyên Quảng Nam rộng lớn bao gồm vùng đất từ đèo Hải Vân đến đèo Cả bây giờ). Bùi Tá Hán là người đặt viên đá đầu tiên ổn định và phát triển nông nghiệp và nông thôn, mở mang đường sá, chợ búa và trường học. Ông mang trọng trách của người xây dựng cuộc sống nơi vùng đất địa đầu của Tổ quốc về phía Nam. Ông có công lớn trong việc ngăn chặn quân Chiêm luôn quấy phá đòi đất, tiêu diệt thổ phỉ, nội gián vừa chăm lo công cuộc an dân, đoàn kết Kinh Thượng, tạo bước ngoặc lớn cho sự ổn định lâu dài. Danh tướng Bùi Tá Hán đã trở thành danh thần trong các sắc phong của thời Tây Sơn và triều Nguyễn. Nhiều nơi ở Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên có đền thờ ông, nhưng đền thờ chính là ở Quảng Ngãi, đã được cấp bằng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nhưng việc nghiên cứu công nghiệp đề cao ông vẫn còn bỏ dở.


2.Trương Đăng Quế làm quan cả ba triều Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức và đều giữ trọng trách cao nhất của triều đình, góp phần quyết định tạo dựng phương lược triều Nguyễn. Ông từng đôi lần làm chủ khảo thi Hội ở Kinh đô và nhiều năm làm Tổng tài Quốc sử quán triều Nguyễn, chủ biên nhiều bộ sách lớn còn giá trị cho đến hiện nay. Ngoài ra, riêng ông đã đóng góp cho đời sau sáu trước tác lịch sử và văn chương, tiêu biểu là bộ Trương Quảng Khê tiên sinh tập (tứcHọc Văn dư tập) đồ sộ. Phan Thanh Giản, tiến sĩ khai khoa của Nam Kỳ lục tỉnh và các danh sĩ hoàng tộc Miên Thẩm, Mai Am đều hết lời ca ngợi tài năng và trình độ học vấn uyên bác sắc sảo của ông. Ở thành phố Hồ Chí Minh đã có đường phố mang tên Trương Đăng Quế, vì ông có công to trong việc lập địa bạ Nam Kỳ lục tỉnh, tạo điều kiện cho nhân dân khai hoang lập ấp.


Hội thảo về Trương Đăng Quế, 1994, bản vi tính.


Trích
ĐẠI
NAM NHẤT THỐNG CHÍ


Trương Đăng Quế: người huyện Bình Sơn, đỗ Hương tiến đời Gia Long. Đăng Quế là người khai hoa Hương tiến ở Quảng Ngãi. Đầu đời Minh Mệnh sung Đông cung bạn độc, sau thăng chức Binh bộ Thượng thư sung cơ mật đại thần, năm thứ 14 gia Thái tử Thiếu bảo, năm thứ 15 sung Kinh lược đại sứ đi khám đạc ruộng đất ở 6 tỉnh Nam Kỳ, thăng Hiệp biện Đại học sĩ, vẫn giữ công việc bộ Binh, năm thứ 17 sung Kinh lược đại thần ở Thanh Hóa, đánh tan thổ phỉ, khi trở về vẫn giữ chức cũ, năm thứ 20 tấn phong tước Tuy Thạnh Nam, năm thứ 21 (năm Thiệu Trị thứ 1) là cố mệnh sung phụ chính, vì có công giúp rập, thăng thự Văn Minh điện Đại học sĩ, gia Thái Bảo, quản lý bộ Binh kiêm Cơ mật viện, lại kiêm Tổng tài Quốc sử quán, tấn phong Tuy Thạnh tử, lại xét thấy Đăng Quế có nhiều công trù hoạch về việc bình định Trấn Tây, khi đúc súng để biểu dương công lao, tên Trương Đăng Quế được khắc vào khẩu súng Bảo đại định công là khẩu súng đứng hàng thứ nhất. Ngày tháng 9 năm thứ 7, năm Tự Đức thứ 1 là cố mệnh lương thần sung phụ chính, thăng Cần chính điện Đại học sĩ, tấn tước Quận Công, sung giảng quan ở Kinh diên, sau đó vì già yếu, cố xin nghỉ, về quê chết, thọ 73 tuổi. Đăng Quế trải thờ bốn triều, hơn 40 năm giữ việc cơ yếu, được tặng Thái sư, cho thụy là Văn Lương, thờ ở Thế miếu. Có tập thơ Học văn dư tập.


Trích
TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT
NAM


Nguyễn Q. Thắng – Nguyễn Bá Thế


Danh thần đời Tự Đức, tự Duyên Phương, hiệu Đoan Trai, Quảng Khê. Quê làng Mỹ Khê, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.


Ông là người cầm đầu phe chủ chiến dưới đời Tự Đức, cương quyết đánh Pháp đến cùng. Năm Kỷ Mão 1819 ông đỗ Hương cống (Cử nhân) đời Minh Mệnh. Ông làm đến thượng thư bộ Binh, sung Cơ mật viện đại thần rồi thăng Hiệp biện Đại học sĩ. Đời Triệu Trị, từng làm phụ chánh đại thần, Văn Minh điện Đại học sĩ. Sang đời Tự Đức, ông thăng Cần chánh điện Đại học sĩ, tước Quận công.


Ngoài ra, ông từng được cử làm chủ khảo thi Hội, từng làm Tổng tài biên soạn Đại Nam liệt truyện và Đại Nam thực lục tiền biên. Cuối đời Thiệu Trị, dư luận cho rằng ông là nhân vật góp phần quyết định trong việc phế Hồng Bảo, lập Hồng Nhậm (Tự Đức).


Ông sáng tác văn học rất nhiều, Tùng Thiện vương Miên Thẩm và Mai Am Nguyễn Thị Trinh Thận, Lương Khê Phan Thanh Giản rất quý mến ông về tài học.


Trích
QUỐC SỬ TẠP LỤC


Nguyễn Thiệu Lâu


Ở Thế miếu, tại Huế, Trương Đăng Quế, được thờ, tòng tự, từ năm 1868. Trương Đăng Quế mất tháng hai, năm Ất Sửu (1865). Về tiểu sử Trương Đăng Quế, tôi tra cứu không thấy tài liệu về công trạng.


Thế miếu là nhà thờ trong Nội (nội thành). Ở trước sân có chín cái đỉnh đúc năm Ất Vị (1835), tức là năm thứ mười sáu đời vua Minh Mệnh. Nhà thờ này thờ những vị có công to với nhà Nguyễn.


Ai khảo cứu lịch sử, tới Thế miếu, vào nhà thờ, xem các bài vị, ra sân, nhìn chín cái đỉnh … rồi tra cứu các sách …


Sách của ta còn lại, ít lắm …


Người khảo cứu bâng khuâng …


Về Trương Đăng Quế, tôi chỉ biết một vài chi tiết và một bài thơ của vua Tự Đức mà tôi xin sao lục ra sau đây.


Năm Ất Vị (1847), tháng chín, vua Thiệu Trị băng tại cung Cần Chánh.


Trước khi băng, Ngài có đòi mấy vị Thần vào chầu.


Tôi chép đúng sử như sau này (tài liệu này rất quý):


“Ngài se, đòi cố mạng lương thần Trương Đăng Quế và các đại thần Vũ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Thiếp vào chầu”.


Ngài truyền đuổi mấy người tả hữu rồi ban rằng:


“Ta nối nghiệp lớn đã bảy năm nay, ngày đêm lo lắng, không dám thong thả vui chơi, mấy lâu se mình, hôm nay mệt lắm. Ta lo nghiệp lớn, tổ tông phó thác cho ta, nên ta phải lựa người nối nghiệp để yên xã tắc. Trong mấy người con ta, Hồng Bảo tuy lớn nhưng vì thứ xuất mà lại ngu độn, ít học, chỉ ham vui chơi, nối nghiệp không đặng; con thứ hai là Phước Tuy Công, thông minh, ham học, giống in như ta, đáng nối ngôi làm vua. Hôm trước ta đã phê vào tờ di chiếu để lại trong Long đồng. Các người phải kính nơi đó. Đừng trái mệnh ta!”.


Long đồng là cái ống chạm rồng, trong đó có tờ di chiếu của vua Thiệu Trị.


Sử chép rằng:


“Các Đại thần kêu khóc lạy, vâng mạng, rồi lui ra …”.


Đến ngày Quý Mão, ngài băng. Liền ngày ấy, các hoàng thân và các quan văn võ hội đồng tuyên đọc tờ di chiếu tại điện Cần Chánh.


Hoàng tử thứ hai là Phước Tuy Công- Hồng Nhậm, khóc lạy vâng mạng. Ngày Kỷ Sửu, Phước Tuy Công- Hồng Nhậm lên ngồi ở điện Thái Hòa đặt niên hiệu là Tự Đức. Bấy giờ mới 18 tuổi.


Trương Đăng Quế được vua Thiệu Trị đặt vào chức Cố mạng lương thần, chắc đã phải có tài, có đức, và có tuổi.


Trương Đăng Quế về hưu vào năm Quý Hợi, 1863. Vậy suốt mười sáu năm, các công việc ở Triều đình, một phần lớn là do Trương Đăng Quế quyết định, vì Võ Văn Giải và Nguyễn Tri Phương phải nay đây mai đó, đánh Đông dẹp Bắc.


Một ông vua còn trẻ, một vị cố mạng lão thành.


Khi Trương Đăng Quế về hưu, vua Tự Đức ba mươi ba tuổi, đã trưởng thành rồi.


Tôi đọc sử, thấy chép như sau này:


“Năm Canh Thân (1860), tháng bảy, Trương Đăng Quế dâng sớ xin về hưu trí.


Ngài chuẩn cho, lấy nguyên hàm thượng thư Binh bộ, sung Cơ mật viện đại thần, Kính diên giảng quan. Hễ bộ, viện có việc gì lớn phải tới trình Trương Đăng Quế duyệt trước, thự tôn rồi mới tâu, nhưng cho ở nhà tư dưỡng bệnh, hoặc mười ngày, hoặc năm ngày một lần vào chầu. Nếu có việc chính sự lớn cũng dự nghị. Ngài lại cho phép được đi võng đến ngoài cửa Nhật tinh, Nguyệt anh để tiện tới chầu cho khỏi mệt nhọc”.


Vậy vua Tự Đức đã rất ưu đãi Trương Đăng Quế. Phải chăng vì Trương Đăng Quế tài giỏi? Nhưng ở trong tờ di chiếu của vua Thiệu Trị, có mười sáu chữ răn, dạy. Trong mười sáu chữ đó có hai chữ “ thần hiền”.


Khi Trương Đăng Quế về hưu thời như thế nào?


Tôi sao ra đây một đoạn sử trích trong bộ Quốc triều Chánh biên:


“Trương Đăng Quế về hưu, Ngài ban cho một bài thơ và sâm, quế, vàng, lụa các hạng. Khi về, ngài khiến đình thần làm tiệc đưa; lại cho lúc về nhà rồi, mỗi năm được lãnh bán bổng lộc (một nửa lương). Quan tỉnh sở tại phải thường tới thăm hỏi.


Ngài lại dạy Trương Đăng Quế từ rày biết điều gì, hay là nghĩ ra điều gì mà quan hệ về việc lợi hại lớn trong nước, cho phép phát trạm tâu lên”.


Trương Đăng Quế có tâu ngài năm điều, sử ghi sơ sài như sau này:


1. Dùng người giỏi giúp việc chính trị.


2. Lo ngài chưa có Hoàng tử.


3. Các Tri huyện nhiều người chưa thuộc việc.


4. Tiền của Nhà nước chưa đủ dùng.


5. Nên tùy thời định ngạch quân lính lại.


Vua Tự Đức đều xem cả các bản điều trần.


Rồi khi Trương Đăng Quế về hưu, tôi không biết ở làng nào. Vua Tự Đức ban cho một bài thơ bằng chữ Hán.


Trương Đăng Quế về hưu được độ hai mươi ba tháng thời mất. (tôi tính theo sử).


Sử ghi như sau này:


“Tháng hai năm Ất Sửu (1865), Cần Chánh điện Đại Học sĩ, Tuy Thạnh Quận Công, Trí sĩ, Trương Đăng Quế mất.”


Ngài bãi triều ba ngày, tăng hàm Thái sư, cấp thêm tiền lụa, sai đem rượu thượng phương và bài thơ (chép ở Thi sơ tập) tới nhà ban tế, dựng bia ở phần mộ, khắc mười một chữ “Lưỡng triều cố mạng lương thần, Trương Văn Lương chi mộ”. Và Vua Tự Đức truyền chỉ là chờ hết tang sẽ tuân lời tiên đế cho tòng tự tại Thế miếu.


Vua Tự Đức đối xử với Trương Đăng Quế đã rất có nghĩa. Sự nghiệp Trương Đăng Quế đã như thế nào?


Tôi tra cứu lịch sử, tôi không thấy chép gì mấy.Tôi viết bài này, mong rằng một sử gia sẽ cho ta biết công trạng của Trương Đăng Quế.


Vị này đã là một vị quan trọng trong lịch sử nước ta, nhưng tiếc thay, tài liệu mà tôi đã thu thập được ít ỏi quá.


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. NXB Văn học. 1-2009.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nói có sách (2) - Vũ Bằng 29.05.2017
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
xem thêm »