tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21055778
06.12.2013
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (17)

Phần ba. PHỤ LỤC 


 


MỘT NHÀ THI SĨ MỚI - XUÂN DIỆU


 


THẾ LỮ


 


Trong những văn thơ của các bạn gửi đến Phong hóa hồi báo còn sống, một hôm chúng tôi nhận được một bài thơ ngắn, dưới ký tên Xuân Diệu. Bài thơ ấy tả cái sức huyền diệu, cái lực thần tiên của âm nhạc vang tới tâm hồn. Tác giả thấy hương thơm của hoa, thấy vị say của rượu ngọt, màu hương của ánh sáng và những cảnh sương khói hiển hiện lẫn lộn trong dòng suối, lời chim và tiếng khóc than.


Ý thơ tỏ ra thi sĩ có một tâm hồn đằm thắm và rất dễ cảm xúc, nhưng lời thơ chưa được chải chuốt; ngượng nghịu như những ngón tay đờn uốn nắn còn non. Cách đó ít lâu, ông Xuân Diệu gửi đến một bài thứ hai sửa lại bài trước, trong đó chúng tôi thấy sự âu yếm của thi sĩ đối với nghệ thuật mình, và những cố gắng diễn đạt cảm tưởng của mình bằng những lời xứng đáng. Ông khuyên người yêu hãy lắng nghe “khúc nhạc thơm” nhuần thấm, hãy “uống thơ tan trong khúc nhạc” và:


Hãy tự buông cho khúc nhạc hường,


Dẫn vào thế giới của du dương;


Ngừng hơi thở lại, xem trong ấy,


Hiện hiển hoa và phảng phất hương…


Đó là bốn câu chu đáo nhất trong mười sáu câu bối rối và mơ hồ.


Bài thơ bởi thế không đăng, nhưng chúng tôi chắc thế nào cái thiên tài còn khép nép kia sẽ có lúc nảy nở ra, và khi đó sẽ có nững màu đậm đà, nhưng ánh sán lạn.


Quả nhiên sự mong ước của chúng tôi thành sự thực.


Ông Xuân Diệu lần lượt gửi thơ đến, và cũng là gửi những lời hứa hẹn chắc chắn của tâm hồn ông.


Đó là một tâm sự nồng nàn mà kín đáo, một linh hồn rạng rỡ và say mê, đằm thắm hiện ở trong những điệu thơ êm dịu và ái ân, thiết tha và bồng bột. Cảnh sắc của sự vật, nỗi âm thầm của tình ái, dáng tươi cười của mùa xuân, nỗi tiếc thương lạnh lẽo của mùa thu, lời van xin, khuyên nhủ của tấm lòng yêu thấm thía những rụt rè; tất cả những tình cảm ấy đều tả trong thơ của Xuân Diệu một cách mới lạ, ý nhị - vừa đơn giản, vừa đầy đủ; gợi cho ta thấy những hình ảnh, những tư tưởng bát ngát và tươi đẹp không ngờ. Thơ của ông không phải là “văn chương” nữa, đó là lời nói, là tiếng reo vui hay năn nỉ, là sự chân thành cảm xúc hoặc là những tình ý rạo rực biến lẫn trong những thanh âm,…


Sự yêu đương trong lòng người thi sĩ này cũng kín đáo chân thực như nghệ thuật của ông. Ông yên lặng để cho lòng yêu yên lặng hòa với cảnh vật, nhưng trong sự im lặng ấy, ta thấy cảnh vật xung quanh ông có biết bao vẻ tình tứ và bao nhiêu điệu ái ân:


Một tối, bầu trời đắm sắc mây,


Cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy.


Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ


Nghiêng xuống làn rêu, một tối đầy


 


Những lời huyền bí tỏa lên trăng,


Những ý bao la rủ xuống trần,


Những tiếng ân tình hoa bảo gió


Gió đào thỏ thẻ bảo hoa xuân…


Khi lòng chứa chan sự thương nhớ, trước hết ông thầm nhắc đến cảnh vật gợi buồn bằng những lời thân mật và tha thiết:


Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm,


Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em!


Không gì buồn bằng những buổi chiều êm,


Mà ánh sáng đều hòa cùng bóng tối.


Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối;


Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành;


Mây theo chim về dãy núi xa xanh,


Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ,


Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ.


Tất cả lòng buồn não của nhà thi sĩ hình như thoát ra, hình như mông mênh, hòa hợp với cảnh vật mông mệnh, và cũng hình như để mặc cho cảnh vật len thầm vào tận tâm hồn. Trong thơ ông, tình với cảnh bao giờ cũng có sự cảm thông mật thiết:


Thôi hết rồi! Còn chi nữa đâu em!


Thôi hết rồi gió gác với trăng thềm,


Với sương lá rụng trên đầu gần gũi


Thôi đã hết hơn ghen và giận dỗi.


- Được giận hờn nhau sung sướng biết bao nhiêu!


Anh một mình nghe tất cả buổi chiều


Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh.


Người ta đoán thấy dáng điệu đê mê bát ngát của người thi sĩ đa tình trong lúc say sưa đau đớn, người ta hưởng những vị chua chát kỳ dị đằm thắm của nỗi xót thương. Có phải không, ông đã gợi ra hết được những điều mong manh u ẩn trong lòng người và cùng với chúng ta cùng chung những lời thở than tuyệt vọng.


Bởi vì nhà thi sĩ biết yêu, theo nghĩa rộng rãi nhất của tình yêu. Ông có tấm lòng đắm đuối của tất cả mọi người: yêu nhan sắc, yêu non sông, yêu thơ ca, và yêu cả những nỗi buồn thương, nhớ tiếc. Mà yêu là yêu chứ không nghĩ đến tại sao yêu? Ông trả lời cho lòng ông rằng:


Ai đem phân chất một mùi hương,


Hay bản cầm ca! Tôi chỉ thương,


Chị lặng chuồi theo dòng cảm xúc,


Như thuyền ngư phủ lạc trong sương.


 


Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!


Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều,


Nó chiếm lòng ta bằng nắng nhạt,


Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…


Cho nên nhà thi sĩ bao giờ cũng có cớ để cho tâm hồn rung động. Một ngày chủ nhật bỏ phí đi quá nửa, đủ khiến ông xa xôi nghĩ đến những ngày dần phai:


Thong thả chiều vàng, thong thả lại,


Rồi đi… đêm xám tới dần dần,


Cứ thế mà bay cho đến hết,


Những ngày, những tháng, những mùa xuân.


Ông ví những giờ trong những ngày tốt đẹp ấy như những bó hoa tươi mà ông ôm ấp trong tay, nhưng ông phải tiếc than vì bó hoa không còn được mãi:


Vừa mới khi mai tôi cảm thấy,


Trong tay ôm một bó hoa cười,


Ngọn gió thời gian không ngớt thổi,


Giờ tàn như những bó hoa rơi.


Mùa xuân với những tiếng chim ca ánh sáng, với những nụ cười thắm, kết bằng những cánh hồng, với hơi gió xuân thơm nhởn nhơ và vô ý, lả lơi thổi cho cành mai cợt ghẹo nhánh đào, với những tiếng cây reo hớn hở mà nghệ thuật của ông đã đúc vào những câu thanh lịch xiết bao đậm đà:


Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui,


Thiếu nữ nhìn sương chói mặt trời,


Sao buổi đầu xuân êm ái thế!


Cánh hồng kết những nụ cười tươi.


 


Ánh sáng ôm trùm những ngọn cao,


Cây vàng rung nắng, lá xôn xao,


Gió thơm phơ phất bay vô ý,


Đem đụng cành mai sát nhánh đào.


Đêm trăgn có những ánh vàng reo thành tiếng dưới ngọn bút ông:


Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá,


Ánh sáng tuôn đầy các lối đi.


Tôi với người yêu qua nhè nhẹ,


Im lìm không dám nói năng chi.


Mùa thu với những hoa lá tả tơi và xao động, với những luồng run rẩy lạnh lẽo, với những đêm quang sáng và những ngày buồn tênh:


Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ…


Non xa khởi sự nhạt sương mờ…


Đã nghe rét mướt luồn trong gió…


Đã vắng người sang những chuyến đò…


Ở tình cảm nào, Xuân Diệu cũng có lời mềm mại, hoặc sán lạn, đê mê, hoặc lả lơi sung sướng, hoặc buồn bã tha thiết như tiếng thở than tận cõi sâu kín của tâm hồn.


Nhà thi sĩ ấy bảo rằng:


Tất cả tôi run rẩy tựa dây đàn.


Mà đó là những dây đờn huyền bí kết bởi muôn sợi tình cảm thiết tha, bởi những cảnh sắc, anh linh khiến cho nhà thi sĩ dễ xúc động hát lên những tiếng đẹp đẽ ngọt ngào đã yên ủi được chúng ta trong cuộc đời hiện thực.


Sự cảm động dồi dào và quý báu của ông còn cho ta thấy nhiều hứng vị của cái chân tài đặc biệt ấy. Tôi mong rằng sẽ được dịp nói đến thơ của Xuân Diệu nhiều hơn, để lại được ca tụng nhà thi sĩ của tuổi xuân, của lòng yêu và của ánh sáng.


 


(In trong báo Ngày nay, số 46, Mùa xuân 1937)


 


 


NỬA THẾ KỶ TÌNH BẠN


 


HUY CẬN


 


Anh Xuân Diệu đột ngột từ giã chúng ta ra đi ngày 18-12-1985, còn mấy tháng nữa thì tròn năm mươi năm của tình bạn chúng tôi. Đã mười năm không còn thể phách Xuân Diệu trên đời này, tôi xin ghi vội những chặng đường chính của Huy - Xuân.


Tựu trường năm 1936, chúng tôi găp nhau lần đầu tiên ở Trường tú tài Khải Định, Huế (Trường Quốc học cũ), anh Diệu (ở Hà Nội về) học năm thứ ba, tôi vào học năm thứ nhất. Hai đứa đọc thơ cho nhau nghe, và “đồng thanh tương ứng”, kết bạn với nhau gần như tức khắc. Tình bạn của chúng tôi, ngay từ lúc đó, không chỉ đóng khung trong địa hạt văn chương. Tháng 4-1937, trong trường có cuộc vận động đón Gôđa, đại diện của Chính phủ Mặt trận bình dân Pháp đến Huế. Anh Diệu cầm đầu đám học sinh ba lớp ban tú tài đi đón. Tôi còn nhớ rõ anh Diệu bảo người gác cổng trường khóa cổng lại, không cho những kẻ nhút nhát rút lui về. Sau cuộc đón ấy, anh Diệu, tôi và một số anh em khác bị cắt học bổng, suýt nữa thì bị đuổi.


Tựu trường năm 1937, anh Diệu ra Hà Nội học trường Luật và viết báo Ngày nay, tôi học năm thứ hai ban tú tài, làm gia sư ở nhà một bác sĩ. Anh Diệu và tôi viết thư cho nhau hằng tuần và tôi gửi cho Diệu những bài thơ tôi vừa làm xong.


Tết năm Dần 1938, bài Chiều xưa của tôi được đăng cùng trong một khung với bài Cảm xúc của Xuân Diệu trên báo Ngày nay, và Tết đó tôi từ Huế ra chơi với Diệu ở Hà Nội, lần đầu tiên tôi làm quen với đất nghìn năm văn vật, và lúc trở về Huế mang theo một cành đào. Hè năm 1938, tôi ra sống với Diệu ở chân đê Yên Phụ. Ở đó Diệu viết Truyện cái giường và một số bài thơ, còn tôi thì viết Buồn đêm mưa, Trông lên, Đi giữa đường thơm và mấy bài khác. Hè năm 1939, Diệu viết bài giới thiệu Thơ Huy Cận, sau một năm tôi đã có thơ đăng đều trên báo Ngày nay.


Tựu trường năm 1939, sau khi đậu tú tài toàn phần, tôi dạy tư hai tháng ở Vinh và tháng 10 ra Hà Nội học Trường Cao đẳng Nông lâm. Diệu thì tiếp tục học Luật và dạy văn ở Trường Thăng Long. Hai chúng tôi cùng sống ở gác 4 phố Hàng Than (“Phố không cây thôi sầu biết bao chừng”), ở tầng dưới là anh Lưu Trọng Lư. Chúng tôi dành dụm tiền học bổng và tiền lương dạy học để cho tái bản tập Thơ thơ và chon in dòng chữ Huy - Xuân xuất bản” lên sách.


Đầu năm 1940, Diệu đi làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho, vì kế sinh nhai (“Cơm áo không đùa với khách thơ”), cũng như tôi học Cao đẳng Nông lâm là cốt để có nghề tay trái. Chúng tôi tạm sống xa nhau; buồn đứt ruột, hằng tuần viết thư cho nhau. Có tuần hai, ba lá thư. Từ cuối năm 1941, đầu năm 1942, tôi đã tham gia hoạt động Việt Minh, nhưng chưa có dịp cho Diệu biết. Diệu thì chờ tôi đậu kỹ sư là “cuốn gói” trở về Hà Nội. Hè năm 1942, tôi đậu kỹ sư canh nông và cuối năm bắt đầu đi làm ở Sở Nghiên cứu tằm tang. Diệu điện hỏi tôi: “Diệu từ chức được chưa?”. Tôi điện trả lời: “Từ chức ngay! Về ngay Hà Nội!”. Chúng tôi sống trên gác phố Hàng Bông (số nhà 61), tiếp tục làm thơ, “làm Nhà xuất bản Huy - Xuân”. Thời kỳ này (cuối năm 1943, đầu năm 1944), tôi hướng dẫn Diệu vào con đường hoạt động bí mật (trong Việt Minh và trong Đảng Dân chủ). Cuối năm 1941, Diệu về thăm quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh, thăm gia đình tôi ở xã An Phú và rất bí mật nói với mẹ tôi: “Anh Cận hoạt động cách mạng rồi bà ạ. Nếu cách mạng thành công thì không nói làm gì, nếu có điều gì chẳng may, thì con sẽ thay anh Cận cùng bà lo việc gia đình”. Mẹ tôi ứa nước mắt. Và anh Diệu đã giúp mẹ tôi một số tiền để trả nợ. Cuối tháng 7-1945, tôi đi dự Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào (Tuyên Quang), thì Diệu ở lại Hà Nội “giữ nhà”. Cách mạng tháng Tám thành công, chúng tôi chuyển về ở nhà số 50 phố Hai Bà Trưng (đằng sau Thư viện Quốc gia). Diệu hăng say hoạt động trong Họi Văn hóa Cứu quốc, tôi thì phụ trách công tác ở Bộ Canh nông và ở Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ.


Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, chúng tôi vào Hà Đông rồi lên Việt Bắc, tôi ở ATK (an toàn khu) của Chính phủ. Diệu ở Lục Giá, rồi ở Tham Cù, làm báo Văn nghệ, nhưng cứ khoảng một tháng một lần, Diệu vai mang ba lô đi xe đạp và đi bộ về gặp tôi ở ATK. Lại những buổi thơ giữa sương đêm của rừng Việt Bắc. Cũng ở trong rừng Việt Bắc, những năm đầu kháng chiến cả hai chúng tôi được kết nạp vào Đảng. Giải phóng miền Bắc chúng tôi về Hà Nội, được bố trí ở nhà số 24, đường Cột Cờ, nay là phố Điện Biên Phủ. Chúng tôi lại hăng say công tác, hào hứng làm thơ, “đi thực tế”. Những năm chống Mỹ cứu nước, hai đứa hơn mười lần đi khu Bốn khói lửa, nhiều lần suýt chết dọc đường vì bom Mỹ. Dọc đường, chúng tôi đọc thơ cho bộ đội, cho dân công nghe, sống cuộc đời chiến sĩ trong không khí hào hùng của đất nước. Giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, chúng tôi lại hăng say rời thực tế ở đồng bằng sông Cửu Long, ở Tây Nguyên, ở khu Năm “khúc ruột miền Trung”, nhất là Diệu ham đi miền Nam mà anh đã hiểu biết và mến thương nhiều từ trước. Và Diệu đi bình thơ, có tới gần một nghìn cuộc bình thơ cho đến ngày Diệu mất. Còn ở ngôi nhà số 24 Điện Biên Phủ thì “Đêm đêm trên gác đèn chong - Cận  gồi cặm cụi viết dòng thơ hay - Dưới nhà bút chẳng rời tay - Bên bàn Diệu cũng miệt mài trang thơ - Bạn từ lúc tuổi còn thơ - Hai ta hạt chín chung mùa nắng trong - Ánh đèn trên gác, dưới phòng - Cũng là đôi kén nằm trong kén trời”.


Cuộc sống và thơ đã cho tôi người bạn đời thân thiết nhất, cho tôi tâm hồn tri kỷ, tấm lòng tri âm nơi Xuân Diệu. Chúng tôi sống giữa đời như anh em sinh đôi, nhưng bản lĩnh và phong cách văn chương thì rất khác nhau, khác nhau mà bổ sung cho nhau thành một “quả đôi”. Anh Diệu ra đi chưa kịp viết hồi ký chỉ để lại cái tên Tôi cảm tạ cuộc đời cho tập kỷ niệm đang chuẩn bị viết. Xuân mất đi, còn lại Huy. Tôi đang viết hồi ký chung cho cả hai người với nhan đề là Hồi ký song đôi. Anh Tịnh Hà (em ruột anh Xuân Diệu), các anh Chế Lan Viên, Nguyễn Xuân Sanh, Tế Hanh và nhiều bạn thân khác của chúng tôi giúp toi viết đầy đủ về đời và đời thơ của anh Xuân Diệu.


Tôi nhớ lại: Một tháng trước khi Diệu mất, một buổi chiều, Diệu ngồi trệt giữa phòng nói với tôi: “Trong hai đứa mình, đứa nào chết trước là sướng, đứa nào ở lại sau chắc khổ lắm”. Tôi nghe, lặng người đi, không dám nói câu gì. Tôi cảm thấy nỗi đau trong lòng Diệu khi thốt ra câu đó. Nào ngờ đó là lời trối trăng của Diệu cho tôi. Quả thật, sau đám tang của Diệu, liền trong nửa năm, tôi nghe trong người tôi, trong tâm hồn tôi như hẫng đi và thấy như cuộc dời hư lãng. Và rất nhiều lần Diệu về gặp tôi trong chiêm bao, cả lúc tôi ngủ trên máy bay đi công tác xa. Ngày Diệu mất, lúc 7 giờ 40 phút tối ở Hà Nội thì tôi xuất huyết nặng, ở Đakar (Xênêgan) lúc 12 giờ 40 phút trưa (là đúng giờ phút Diệu mất, vì Xênêgan cách Hà Nội 7 giờ 40 phút). Thần giao cách cảm. Nhân điện của Diệu truyền thông cho tôi giây phút ấy. Ngày 19-12-1985, về đến Pari được Sứ quán ta báo tin Diệu mất, tôi sửng sốt bàng hoàng, máu vẫn chảy vì xuất huyết nặng ở mũi. Tôi và con tôi (cháu Vũ) trong cơn đau đớn, cố trấn tĩnh để đi đổi vé máy bay về cho kịp đám tang, nhưng ngày 23 tôi về thì đã chôn Diệu ngày 21-12. Từ Pari, tôi đánh 10 bức điện về Hà Nội (cho Hội Nhà văn, cho Liên hiệp Văn học Nghệ thuật, cho Bộ Văn hóa, cho anh Tố Hữu,…) đề nghị tôi về hãy chôn bạn tôi, nhưng không kịp.


Nửa thế kỷ tình bạn, nói sao cho xiết! Diệu ơi, ở thế giới bên kia Diệu có còn nghe chừng Cận kể chuyện Huy - Xuân trong hơi thở ấm nóng của tiếng Việt, tiếng Việt mà chúng ta đã yêu tha thiết, yêu da diết như chính hồn của dân tộc, như chính hồn của mỗi chúng ta,…


Hai bài thơ về tình bạn Huy - Xuân:


 


1. DIỆU ƠI, DIỆU ĐÃ VỀ YÊN TỊNH


Sầm Sơn, 27-7-1986


Diệu ơi, Diệu đã về yên tịnh


Cận hãy còn đây trăm xốn xang


Cận mới về thăm quê Nghệ Tĩnh


Gặp tuần trăng sáng ngẩn ngơ trang.


 


Cận ra Thanh Hóa nằm bên bờ biển


Biển lại dồn xao không phút ngưng


Diệu đã đi xa về tới bến


Cận đang biển động sóng lừng dâng.


 


“Hồi ký song đôi” đang viết dở,


Hai chương tuổi nhỏ chép xong rồi.


Đời ta trang khép, còn trang mở,


Cận viết đầy trang, tay mới xuôi.


 


Biển lớn băng qua ấy biển đời


Biển vào vũ trụ ánh sao mời


Diệu dò thế giới bên kia trước


Khỏi lạ đường khi Cận tới nơi.


 


2. BÀI THƠ MẢNH VẢI


Diệu ở Mỹ Tho gửi ra cho tôi mẩu vải, nếu tôi vừa ý thì Diệu sẽ mua vải gửi ra cho tôi may bộ quần áo mùa hè. Tôi đáp lại bằng bức thư - thơ sau đây:


Hà Nội mùa thu 1942


Cảm lòng ôm ấp phương xa


Nỗi niềm thương nhớ vì ta trải bày


Vải cầm mảnh nhỏ trong tay


Lòng kia dệt ấm trời mây mấy trùng


Mở thư một sáng lạnh lùng


Hai chiều vải dệt tao phùng Huy - Xuân


Dọc ngang tơ chỉ sát gần


Đi về mấy dạo hai thân một hồn


Một mai ta chết xin chôn


Hai ta sát cạnh xương luồn qua xương.


Đất già lạnh toát đêm trường


Huy - Xuân nằm dệt tấm thương muôn đời.


(In trong Tạp chí Văn học, số 12 - 1995)


 


 


NHÀ THƠ MỚI NHẤT


TRONG CÁC NHÀ THƠ MỚI( )


 


HOÀI THANH


 


Bây giờ khó mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần, vì thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng.


Ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý đến những lối dùng chữ đặt câu quá Tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơ Pháp. Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam, đã quyến rũ ta. Đọc những câu:


Nếu hương đêm say dậy với trăng rằm,


Sao lại trách người thơ tình lơi lả?


hay là:


Chính hôm nay gió dại tới trên đồi,


Cây không hẹn để ngày mai sẽ mát:


Trời đã thắm, lẽ đâu vườn cứ nhạt?


Đắn đo gì cho lỡ mộng song đôi!


Ta thấy cái hay ở đây không phải là ý thơ, mà chính là cái lối làm duyên rất có duyên của Xuân Diệu, cái vẻ đài các rất hiền lành của điệu thơ.


Nhưng thơ Xuân Diệu chẳng những diễn đạt được cái tinh thần cố hữu của nòi giống. Vả chăng tinh thần một nòi giống có cần gì phải bất di bất dịch. Sao lại bắt ngày mai phải giống hệt ngày hôm qua? Nêu ra một mớ tính tình, tư tưởng, tục lệ, rồi bảo: người Việt Nam phải như thế, là một điều tối vô lý. Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết.


Nhưng sự sống muôn hình thức mà trong những hình thức nhỏ nhặt thường lại ẩn náu một nguồn sống dồi dào. Không cần phải là con hổ ngự trị trên rừng xanh, không cần phải là con chim đại bàng bay một lần chín vạn dặm mới là sống. Sự bồng bột của Xuân Diệu có lẽ đã biểu hiện ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi. Sau khi đọc đi đọc lại nhà thơ có tâm hồn phức tạp này, sau khi đã tìm kiếm Xuân Diệu hoài, tôi thấy đây mợi thực là Xuân Diệu.


Trong cảnh quan mùa thu rất quen với thi nhân Việt Nam, chỉ Xuân Diệu mới để ý đến:


Những luồng run rẩy rung rinh lá…


cùng cái:


Cành biếc run run chân ý nhi.


Nghe đàn dưới trăng thu, chỉ Xuân Diệu mới thấy:


Lung linh bóng sáng bỗng rung mình


và mới có cái xôn xao gửi trong mấy hàng chữ lạ lùng này:


Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời?


Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi,


Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:


Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người.


Cũng chỉ Xuân Diệu mới tìm được nơi đồng quê cái cảnh:


Mây biếc về đâu bay gấp gấp,


Con cò trên ruộng cánh phân vân.


Từ con cò của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân, có sự cách biệt của hơn một ngàn năm và của hai thế giới.


Cho đến khi Xuân Diệu yêu, trong tình yêu của người cũng có cái gì rung rinh. Người hồi tường lại:


Rượi nơi mắt với khi nhìn ướm thử;


Gấm trong lòng và khi đứng chờ ngày


Và nhạc phấn dưới chân mừng sánh bước;


Và tơ giăng trong lời nhỏ khơi ngòi;


Tà áo mới cũng say mùi gió nước;


Rặng my dài xao động ánh dương vui.


Còn rất nhiều câu có thể tiêu biểu cho lối xúc cảm riêng của Xuân Diệu. Tôi chỉ dẫn một ví dụ này nữa. Trong bản dịch Tỳ bà hành của Phan Huy Vịnh có hai câu:


Thuyền mấy là đông tây lặng ngắt


Một vừng trăng trong vắt lòng sông


tả cảnh xung quanh thuyền sau khi người tỳ bà phụ vừa đánh đàn xong. Một cái cảnh lặng lẽ, lạnh lùng, ẩn một mối buồn âm thầm, kín đáo. Thế Lữ có lẽ đã nhớ đến hai câu ấy khi viết:


Tiếng diều sáo nao nao trong vắt,


Trời quang mây xanh ngắt màu lơ.


Mặc dầu hai chữ “nao nao” có đưa vào trong thơ một chút rung động, ta vẫn chưa xa gì cái không khí bình yên trên bến Tầm Dương. Người kỹ nữ của Xuân Diệu cả tình lẫn cảnh trở nên xôn xao vô cùng. Người kỹ nữ của Xuân Diệu cũng bơ vơ như người tỳ bà phụ. Nhưng nàng không lặng lẽ buồn, ta thấy nàng run lên vì đau khổ:


Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo;


Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da.


Ngay từ khi trăng mới lên, nàng đã thấy:


Gió theo trăng từ biển thổi qua non;


Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn.


Chỉ trong thơ Xuân Diệu mới có những tháng buồn rừon rợn như vậy.


Ngay lời thơ Xuân Diệu cũng có vẻ chơi vơi. Xuân Diệu viết văn tựa trẻ con học nói hay như người ngoại quốc mới võ vẽ tiếng Việt. Câu văn tuồng bỡ ngỡ. Nhưng cái dáng bỡ ngỡ ấy chính là chỗ Xuân Diệu hơn người. Dòng tư tưởng quá sôi nổi không thể đi theo những đường có sẵn. Ý văn xô đẩy, khuôn khổ câu văn phải lung lay.


Nhưng xét rộng ra, cái náo nức, cái xôn xao của Xuân Diệu cũng là cái náo nức, cái xôn xao của thanh niên Việt Nam bây giờ. Sự đụng chạm với phương Tây đã làm tan rã bao nhiêu bức thành kiên cố. Người thanh niên Việt Nam được dịp ngó trời cao đất rộng, nhưng cũng nhân đó mà cảm thấy cái thê lương của vũ trụ, cái bi đát của kiếp người. Họ tưởng có thể nhắm mắt làm liều lấy cá nhân làm cứu cánh cho cá nhân, lấy sự sống làm mục đích cho sự sống. Song đó chỉ là một cách dối mình. “Chớ để riêng em phải gặp lòng em”, lời khẩn cầu của người kỹ nữ cũng là lời khẩn cầu của con người muôn thuở. Đời sống của cá nhân phai vin vào một cái gì thiên liêng hơn cá nhân và thiêng liêng hơn sự sống.


Bởi Xuân Diệu đã gửi trong thơ của người lẫn với một chút hương xưa của đất nước, bao nhiêu nỗi niềm riêng của thanh niên bây giờ - Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới - nên chỉ những người lòng còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu, mà đã thích thì phải mê. Xuân Diệu không như Huy Cận vừa bước vào làng thơ đã được người ta dành ngay cho một chỗ ngồi yên ổn. Xuân Diệu đến giữa chúng ta tới nay đã ngót năm năm mà những tiếng khen chê vẫn chưa ngớt. Người khen, khen hết sức, người chê, chê không tiếc lời. Song những ai chê Xuân Diệu, tưởng Xuân Diệu có thể trả lời theo lối Lamáctin ngày trước: “Đã có những thanh niên, những thiếu nữ hoan nghênh tôi”.


Với một nhà thơ còn gì quý hơn cho bằng sự hoan nghênh của tuổi trẻ.


 


Tháng 7-1941


(Trích Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, H., 1998)


 


(còn tiếp)


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học, 2013.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »