tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20563390
Tiểu thuyết
03.12.2013
Triệu Xuân
Cõi mê

Sau lần đầu tiên gặp Hải Yến, Kỳ Hòa như bị cô hút hồn. Ngay ngày hôm sau, Hòa ra Thủy tạ và được Yến nhận lời: Sau giờ làm việc tối nay, anh đưa Yến đi dạo.


Hòa đã chở Yến lên đê Yên Phụ. Độ ấy, sông Hồng đầy ắp nước đang đe dọa những đoạn đê xung yếu. Đêm ấy họ cuồng nhiệt hòa quyện vào nhau! Tình yêu sét đánh là thế! Từ đó, Hòa thường xuyên ra nhà hàng Thủy tạ, anh không còn phải xếp hàng nữa! Một bên là mặt hồ long lanh mây trời, in hình tháp Bút, đền Ngọc Sơn và cầu Thê Húc, một bên là… Hải Yến, ngực bánh dầy mông dưa hấu, cổ cao ba ngấn trắng ngần, cằm chẻ và giọng ngọt trong, như có men làm say lòng Hòa. Hòa thường ưa ngồi ở sân lộ thiên, bên chiếc bàn con sát mép tường ngăn với hồ. Hòa ngồi đó, lặng lẽ ngắm em thoăn thoắt phục vụ khách hàng, chiếc quần phíp ống nhỏ, cộc hẫng cộc hờ khi em bước đi, hai gót chân như có cánh, phô ra cặp giò dài và thẳng, mông tròn và cong… Hòa lặng lẽ chiêm ngưỡng cho đến khi nhà hàng đóng cửa, anh đưa Yến lên đê Yên Phụ hoặc ra công viên hồ Bảy Mẫu… Có nhiều đêm đang yêu nhau thì trời đổ mưa rào, mưa ngoài Bắc dai như đỉa. Cả hai ướt như chuột lột cứ sùng sục trong chiếc áo mưa nhà binh. Kệ. Càng lạnh yêu nhau càng đậm đà, càng thú vị… Sáng chủ nhật, Hòa tới điểm hẹn, đèo1 Yến trên chiếc xe đạp Điamăng do Đông Đức sản xuất. Thời ấy, sỹ quan quân đội từ thiếu tá trở lên, còn cấp úy thì ưu tiên miền Nam tập kết, mới được phân phối loại xe này! Họ đi ăn phở, phở ngon và rẻ: ba hào một bát, rồi tới công viên Thống Nhất ngồi bên nhau, nhâm nhi cái kẹo dồi2 và kể cho nhau nghe chuyện miền Nam, chuyện hát quan họ, hội Lim… Một cuộc tình đầy thơ mộng trong không khí sục sôi chống Mỹ, mỗi người làm việc bằng hai chi viện cho tiền tuyến miền Nam.


Đơn vị đứng ra làm đám cưới cho hai người. Họ có con trai đầu lòng. Hòa đi B, Yến sanh Phương Nam năm Kỷ Dậu, một mình nuôi con, chờ chồng…


... Tiếng là ra Hà Nội nhưng thực ra ông Hòa chỉ ở bên bà Yến được đúng năm ngày. Thời gian còn lại ông đi đâu, làm gì? Ở Sài Gòn, bà Lịch vừa giận ông, vừa đau đáu nhớ thương ông, và tất nhiên, máu Hoạn Thư tưởng như đã tắt từ thuở nào nay lại trỗi dậy vô cùng dữ dội. Thế rồi, chính bà Yến chứ không phải ai khác đã thường xuyên thông tin cho bà Lịch về chương trình đi thăm thú các nơi của ông đại tá. Bà Lịch chả còn cớ gì để ghen khi mà cứ đi tới đâu, ông Hòa lại điện thoại về nói chuyện với cụ Nguyễn và với con gái rượu! Từ Sài Gòn bay ra Hà Nội, ông Hòa ở nhà hai ngày để… ngủ! Ông ngủ như chết, bà Yến lay gọi cách nào ông cũng không thể mở mắt. Suốt cả tháng trời, vì thằng cháu mất dạy, ông đã trắng đêm. Mắt thâm quầng, má hóp, da tái xám, ông mà vác cái mặt như vầy đi đây đi đó để bạn bè họ cười cho thối mũi chứ chơi à. Ở trên máy bay ông nghĩ thế và ông đã quyết định là phải ngủ liền tù tì một tuần cho lại sức rồi thì đi ngao du sơn thủy cho nó thanh cái tâm. Bà Yến nấu cháo cá quả1 thì là cho ông ăn. Nồi cháo hâm đi hâm lại ba lần, ông vẫn ngủ vùi. Rồi cháo tim gan, tôm he hấp bia, rồi canh cua rau đay mồng tơi mướp ăn với cà pháo chấm mắm tôm, rồi ốc thả lá gừng, ốc hấp thuốc bắc, chả cá Lã Vọng, cá song hấp nấm, gừng… tùm lum đồ ăn ngon, khoái khẩu một thời của đại tá Hòa. Vậy mà ông ngủ li bì đúng hai ngày hai đêm. Đến mười giờ sáng ngày thứ ba ông thức dậy, và ông ăn. Có lẽ chưa bao giờ ông đói ngấu và ăn khỏe như hùm beo vậy! Ông ăn gì cũng thấy ngon! Ông ăn suốt ngày hôm đó, vừa ăn vừa kể cho bà Yến nghe chuyện thằng Thăng, chuyện cãi cọ với bà Lịch, chuyện bán đất mà có nhà, rồi chuyện xây lại nhà Hàm Nghi, chuẩn bị làm lễ đại thượng thọ cho cha… Ông không để cho bà Yến kịp hỏi, kịp nói câu nào. Bà Yến chỉ có việc đi chợ, nấu ăn, nhìn ông ăn, và nghe ông nói. Ngủ đêm thứ ba ở Hà Nội, sáng sớm ngày thứ tư, một ông đại tá đang làm ở Bộ Tổng Tham mưu đưa ông đi Hải Dương thăm đền Kiếp Bạc, Côn Sơn. Kế đó ông đi Hải Phòng và lên Yên Tử, rồi xuống Hạ Long. Ông nghỉ ở Bãi Cháy ba đêm, đi thăm các đảo vùng Đông Bắc. Ông ra Móng Cái, tắm biển Mũi Ngọc, sang Đông Hưng (Trung Quốc) chơi một ngày, ngủ một đêm, rồi từ Móng Cái đi theo đường biên ngược lên Cao Bằng, về Lạng Sơn, lại tạt sang Bằng Tường (Trung Quốc) chơi hai ngày. Về lại Lạng Sơn, ông đi Sa Pa, lên Điện Biên Phủ, phóc sang Vân Nam. Xuôi Hà Nội, ông không về với bà Yến mà đi thẳng lên Hòa Bình, coi cái thủy điện Sông Đà nó ra răng mà người ta ca nó nhiều rứa. Ông ngủ một đêm với mấy ông bạn ở tỉnh đội Hòa Bình, uống rượu cần tại một bản Mường dưới chân dốc Cun, uống thâu đêm, uống chay, vừa uống vừa dán mắt vào ngực và mông mấy cô gái Mường làm du lịch… Từ Hòa Bình, ông về Hà Tây đi một loạt chùa: chùa Đậu, chùa Trầm, chùa Trăm Gian, chùa Thầy, chùa Tây Phương. Từ Hà Đông, ông quẹo tay mặt sang Quốc lộ số Một trực chỉ Thanh Hóa, tắm ở Sầm Sơn một cái rồi lại trực chỉ Cửa Lò thành phố Vinh. Khi ông rời thành Vinh để ra Hà Nội, cuốn sổ tay của ông có dòng chữ: Hòa đã xa Sài Gòn ngày thứ hai mươi sáu! Trước khi vô Sài Gòn, ông ăn cơm với bà Yến được ba bữa trưa, ngủ ở nhà một đêm, còn toàn đàn đúm bạn bè bởi đã lâu quá không gặp lại… Những người bạn từ thuở tóc xanh, nay đã bạc phơ, con cháu đùm đề, vồ được ông, họ như trúng số độc đắc, níu kéo ăn nhậu, bắt ngủ lại để chuyện trò cho đã, cho bõ những ngày xa cách! Gặp lại bạn hữu, được đi thăm các danh lam thắng cảnh của đất nước, Hòa đạt được chỉ tiêu đề ra là thanh tâm, hồi sức! Ông như hồi xuân, cười nói rổn rảng, bia rượu thoải mái, hò hát í ới, y như ngày xưa, trẻ trung và vô tư cực kỳ. Ông xa bạn bè, xa Hà Nội từ năm 1969, hai mươi sáu năm trời còn gì!


Nghe chồng kể chuyện thằng Thăng, bà Yến khóc, suốt đêm khóc bên chồng vì thương nhớ thằng Thành mà bà coi như con đứt ruột đẻ ra. Không ngờ hòn máu duy nhất Trung Thành để lại cho gia đình, cho cuộc đời này lại trở thành nghịch tử! Đau quá! Trong khi vợ khóc, ông Hòa ngủ mê mệt, ngáy ầm ầm y hệt hai ngày đầu vừa từ Sài Gòn ra Hà Nội. Sáng mai ông vô Sài Gòn rồi. Hai mươi sáu năm mới trở lại Thủ đô mà ông đi biền biệt, chả ở gần bà được trọn một ngày, về tới nhà tắm rửa xong, ăn uống xong, mới trò chuyện được một lát là lăn ra ngủ liền như đứa trẻ thế kia!


Chả bù cho ngày mới quen nhau! Ngày ấy, ông Hòa đeo bà Yến như sam. Cưới nhau, hầu như chả đêm nào ông để cho bà ngủ. Sáng ra, ăn sáng xong, mệt quá bà ngủ thiếp đi, cũng bị ông dựng dậy để rồi cứ sùng sục sùng sục yêu nhau cả ngày. Bà Yến sung sướng vì được ông yêu thương đắm đuối, tự hào về sức khỏe của chồng. Không ít ngày ông yêu bà tới hai mươi mốt lần trong vòng hai mươi bốn giờ! Thế nên bà phải nhắc ông giữ gìn sức khỏe:


·            - Chiến tranh ngày càng ác liệt, anh phải điều độ để mà giữ sức còn chiến đấu chứ!


Ông Hòa cười phá lên, nói tếu táo:


·            - Ngày nào anh cũng chào đón em bằng hai mươi mốt phát đại bác mà!


Ánh mắt Hòa chan chứa tình yêu thương và niềm vui, nhào tới ẵm bà Yến lên giường, vừa hôn như mưa trên mặt, trên người bà, vừa thì thào: Chiến đấu chứ! Chiến đấu chứ!...


Chỉ đến khi bà Yến báo tin vui cho chồng: Em cấn thai rồi anh! thì ông Hòa mới chịu điều độ…


Mùa xuân 1965, con trai đầu lòng Nguyễn Kinh Bắc chào đời. Càng lớn nó càng giống cha: cao ráo, vai rộng, miệng rộng, mũi cao, gáy phẳng lỳ, nhưng nó lại giống mẹ ở làn da trắng mịn, đôi mắt có đuôi dài rất sáng và tinh anh. Miền Bắc vừa phải đương đầu với chiến tranh phá hoại của Mỹ, vừa dốc sức cho chiến trường miền Nam; cuộc sống vô cùng khó khăn, thiếu thốn. Bà Yến chăm chút cho hai đứa con Thành và Bắc từng ly từng tý. Thành đi học về là giúp mẹ cơm nước tắm rửa cho em. Nhưng thằng bé không được khỏe, giống như hàng triệu trẻ em trên miền Bắc hồi đó, nó thiếu dinh dưỡng. Bắc ốm đau luôn. Cuối năm 1965, Bắc chưa đầy tuổi, ông Hòa đi chiến đấu ở chiến trường C1. Năm 1967, ông Hòa lại được điều về khu Bốn, thỉnh thoảng mới tranh thủ về Hà Nội thăm vợ con. Sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, tình hình miền Nam vô cùng khó khăn, nhiều đơn vị quân đội chỉ còn vài người! Đến mùa Xuân năm 1969, Hòa cùng đơn vị pháo của mình đi B. Mùa Thu năm Kỷ Dậu ấy, con gái rượu Phương Nam ra đời. Mỹ tiếp tục ném bom ác liệt Hà Nội, Hải Phòng. Sơ tán rồi lại hồi cư, lại sơ tán… Vừa đi làm vừa nuôi dạy ba đứa con, chồng cứ xa biền biệt… vậy nhưng chưa bao giờ bà Yến kêu ca phàn nàn một câu. Đêm mười tám rạng ngày mười chín tháng Mười hai năm 1972, bom Mỹ sát hại thằng con trai yêu quý của Hải Yến. May mà thằng Thành ở trường chứ nếu nó ở nhà thì bà mất trắng cả hai con trai rồi! Hai anh em nó quấn túm nhau như hình với bóng. Thằng Thành đào một hố tăng xê ngay dưới gầm giường, thật rộng, đủ chỗ cho bà Yến với con gái út, còn hai anh em nó, khi có còi báo động chạy ào ra hầm tránh bom công cộng, khá kiên cố, cách nhà hơn chục mét. Đêm ấy, trong hầm có mười ba người cả thảy, toàn trẻ nít và cụ già… Xác mọi người bật tung lên sau loạt bom đầu, rồi lại bị loạt bom thứ hai, thứ ba hủy diệt tiếp. Bởi thế nên thi thể thằng Nguyễn Kinh Bắc bảy ngày sau mới kiếm ra. Tang tóc trùm lên cả khu phố. Bà Yến đứt từng khúc ruột, tưởng chết theo con… Nhìn Thành và con gái út khóc nức nở trước mộ thằng Bắc, bà trỗi dậy, bà quyết không gục ngã lúc này. Hai đứa con trở thành điểm tựa cho bà trụ vững.


Bây giờ nằm bên ông, nhớ lại, bà Yến chợt rùng mình nghĩ: Tại sao hồi đó mình làm được những việc đó?


Chồng vẫn ngủ ngon, bà Yến nép sát vào người ông Hòa, không làm ông thức giấc, bà tự trả lời: Vì em yêu anh, yêu sự trong trẻo của tâm hồn anh, và yêu cái chất đàn ông trong anh, mạnh kinh khủng! Anh biết không?


Đúng là chỉ có tình yêu thương chồng con mới giúp cho bà Yến có nghị lực vượt qua những năm tháng khốn khó ấy… Ngắm chồng, tự nhiên nỗi nhớ thằng Bắc lại trào dâng trong lòng bà.


Gia đình Hòa Yến hồi ấy sống trong căn nhà chật chội ở khu nhà tập thể bãi Thiên Phúc. Nhiều gia đình sỹ quan quân đội sống ở nơi này. Một bên là sông Hồng, mùa lũ lụt, nước ngập đến giường, có năm nước ngập nóc nhà. Năm nào cũng có trẻ con chết đuối. Một bên là Hà Nội, vài chục bước chân lên mặt đê, băng qua đường Trần Nhật Duật là tới tòa nhà Viễn Đông Bác Cổ1, là tới Nhà hát Lớn với quán bia hơi ngay giữa vườn hoa lúc nào cũng đông nghịt người, là vào Tràng Tiền, là tới Hồ Gươm. Phố sá xe cộ nườm nượp ngày đêm. Những người ở bãi Thiên Phúc cùng cảnh ngộ: nghèo, chồng đi vắng, con còn nhỏ, luôn thèm ăn, luôn thấy đói, vợ là nhân viên trong cơ quan nhà nước, đồng lương rất thấp. Hộ khẩu Hà Nội và tem phiếu lương thực thực phẩm là hai thứ gia bảo, quý giá vô ngần! Xếp hàng là công việc trên hết, công việc thường ngày! Tôi xếp hàng nghĩa là tôi tồn tại! Xếp hàng mua thực phẩm, mua gạo, mua dầu hỏa, xếp hàng tới chín, mười giờ đêm để hứng nước máy từ cái vòi công cộng rỉ rỉ như mèo đái, gánh về nhà. Vậy mới nên câu: Ban ngày làm việc nhà1, ban đêm làm việc nước. Mua bia hơi, thậm chí mua phở không người lái, mua kem cũng phải xếp hàng. Người đông, hàng hóa cực kỳ khan hiếm, của không ngon nhà đông con cũng hết sạch! Trong khu tập thể, còn cái vụ xếp hàng này mới kinh hoàng, đó là xếp hàng vào nhà xí công cộng. Ngồi hố xí công cộng, gió thốc từ phía dưới tốc lên, trời nắng nóng hầm hập, ngồi đó xong, ra ngoài thì ôi thôi từ đầu tóc tới quần áo toàn mùi phân nồng hắc! Những ngày trời mưa, xếp hàng ướt như chuột lột, ngồi xong, chạy về tới nhà thì không còn nước mà tắm rửa. Trong khu tập thể, một gia đình ăn tươi, như mổ gà chẳng hạn, thì cả bãi Thiên Phúc biết, xì xầm, ganh ghét vì quá thèm! Nhà nó có vấn đề! Mới tuần trước ăn nguyên con cá chép, tuần này lại mổ gà trống thiến. Tất cả cho tiền tuyến, cả nước thắt lưng buộc bụng mà nhà nó chè chén linh đình như thế là có vấn đề rồi! Họ sống bằng đồng lương, luôn luôn thèm khát một cái gì đó, luôn luôn thiếu dinh dưỡng! Không ít những đứa trẻ ở khu dân cư này vượt lên số phận, học giỏi, thành tài, nhưng cũng không ít trẻ ham ăn chơi, hư hỏng.


Ba anh em Thành, Bắc, Nam luôn thấy thèm một cái gì, dù mới ăn xong bữa, vẫn thèm. Bởi vì, chỉ ăn no chất bột không thôi thì người ta rất mau đói và thèm nhiều thứ lắm. Thèm từ miếng tóp mỡ cho đến cái đùi gà luộc. Bây giờ, sau bữa ăn, cha mẹ thường ép trẻ con ăn nho ăn táo, chứ hồi đó làm gì có chuyện đó! Hoang đường! Đến cam, chuối, bưởi bòng còn không có mà ăn nữa là trái cây ngoại quốc… Mỗi lần đi học ngang quán phở, nước miếng thằng Bắc ứa đầy miệng. Đúng là thèm rỏ dãi ra! Bắc ăn khỏe nhất nhà. Mẹ và anh Thành toàn nhịn cho Bắc ăn. Nó ước gì có trong tay một đồng bạc để có thể chễm chệ ngồi trong quán phở và gọi dõng dạc: Cho một bát phở đặc biệt đây! Rồi cho tương ớt vào, cho một thìa dấm vào (chỉ có một vài quán có chanh tươi, còn toàn là dấm nuôi cả thôi!). Nó sẽ cho ớt bột vào cho thật cay, cay xè đến mức ù tai, chảy nước mắt nước mũi ra, rồi nó xì xà xì xụp mà ăn ngon lành, húp ngon lành cho đến giọt nước cuối cùng. Giá mà có hai đồng thì tốt hơn. Nó sẽ ăn một lúc hai bát. Ôi, biết đến bao giờ trẻ con mới được ăn sáng bằng phở, chứ không phải ngồi gặm bánh mì khô, trợn mắt trợn mũi lên mới nuốt trôi hai cái bánh! Tiếng thế, Bắc vẫn biết rằng anh em nó còn may mắn hơn hàng trăm đứa trẻ khác ở cùng bãi Thiên Phúc này. Cha mẹ chúng nó là lao động tự do, không phải người Nhà nước nên triền miên thiếu đói! Chúng nó làm gì được ăn hai cái bánh mì một lúc như mình. Nghĩ thế, nó thấy hãnh diện phần nào… Thế nhưng, càng lớn, sự thèm thuồng của nó càng mãnh liệt và diện thèm khát càng mở rộng ra. Nó thèm được ăn phở Thìn Lò Đúc, phở gà Nam Ngư, ăn mì hoành thánh trong quán của người Tàu ở Trần Hưng Đạo; thèm chả cá Lã Vọng, thèm bồ câu quay ở phố Tạ Hiện1; rồi thèm ăn cốm Vòng, thèm kem. Nó có thể ăn hết một lúc chục que kem Bờ Hồ. Rồi nó thèm uống bia hơi. Có một lần, hồi chưa đi B, Hòa cho thằng Bắc và Thành đi ra bãi bia hơi Cổ Tân. Nó nhớ hoài bữa đó, mỗi lần nhớ ba, nó kể cho mẹ nghe đến thuộc lòng!


Sau khi ba đi B, Thành từ trường đại học về ngày chủ nhật vẫn dành thời gian cho em đi chơi, cũng đến Cổ Tân xếp hàng mua bia hộ để có lạc rang húng lìu cho em, và hóng chuyện người lớn! Bia thì quá ít mà người thì quá nhiều nên xếp hàng rất dài, rất cực mới mua được bia. Nhiều khi, đến lượt thì bia hết! Hồi đó Bắc đòi uống, ba nó chiều. Ba hào một cốc vại, bọt bia trắng, xốp, mịn và thơm mát bám trên mép nó, nó liếm mép và tưởng tượng ra như thể nó đang cầm cốc bia trên tay, giữa quán bia hơi nổi tiếng trên phố Cổ Tân ở bên hông Nhà hát Lớn, nơi nhà văn Nguyễn Tuân thường ngồi hàng ngày. Nó đã từng là bạn vong niên của Nguyễn Tuân! Đó là theo cách nói của ông Nguyễn chứ hồi đó Bắc còn bé tí, chưa tới năm tuổi, biết vong niên là cái chi! Ông Nguyễn Tuân có thể ngồi cả ngày chỉ vì bia hơi. Ông ngồi để uống bia thì ít mà chủ yếu, theo nó nghĩ, ông ngồi để ngắm nghía người ta đi qua đi lại. Ông Nguyễn nói đó là dòng đời đang trôi… Chúng tự hào được cái may mắn xếp hàng hộ cho ông nhà văn có cái mũi khoằm! Mỗi người xếp hàng được mua hai cốc bia, mà tửu lượng của ông thì phải gấp ba gấp bốn chừng đó. Thế là ông đứng trước, nó bám đít ông mà xếp hàng. Nó mang hai cốc bia ra cho ông Nguyễn. Ông cười rung chòm râu đưa nguyên gói lạc rang húng lìu gói bằng giấy báo theo hình loa kèn cho nó. Rồi nó ngồi hóng chuyện. Người lớn nói đủ thứ, bên cốc vại bia hơi, thế giới như thu hết vào trong tay họ! Họ nói chuyện thời cuộc: chiến sự ngày càng quyết liệt ở miền Nam, chuyện đảo chính ở Chi Lê, chuyện về ẩm thực, món nào ngon nhất ở các miền quê, chuyện văn chương, nhiều nhất vẫn là chuyện đàn bà, chuyện nhân tình thế thái, toàn những chuyện quốc gia đại sự... Nó không hiểu hết những chuyện của người lớn, nhưng nó rất thích nghe, nó thấy chuyện của họ hấp dẫn hơn rất nhiều các bài học ở trường. Nghe người lớn nói chuyện, nó cảm thấy mình đang lớn lên. Về nhà, nó hỏi mẹ những điều nghe được mà không hiểu, những điều khiến nó chau mày băn khoăn. Một hôm, Bắc hỏi mẹ:


·            - Mẹ ơi, tại sao đàn bà phải có vú, mà vú bánh dầy mới được coi là đẹp, hả mẹ? Tại sao lại gọi người vu khống là thủy chung như nhất hả mẹ?


·            - Ơ cái thằng này, ai bảo con nói vậy? - Bà Yến trừng mắt quát.


·            - Có ai bảo đâu? Con nghe mấy bác mấy chú nói chuyện với nhau ở bãi bia Cổ Tân ấy! Không hiểu thì con phải hỏi. Mẹ chẳng đã bảo con: Cái gì không biết thì phải hỏi mẹ, hỏi ba, hỏi thầy cô là gì!


Người mẹ lúng túng trước vẻ thơ ngây của con trai mình. Rồi… theo bản năng của người lớn, cái gì không nói được, cái gì khó nói, chưa tiện nói với trẻ con thì ngay lập tức át đi bằng câu:


·            - Có nhiều chuyện lớn rồi khắc biết, bây giờ mẹ có nói con cũng chẳng hiểu đâu!


Thằng bé thông minh, hiếu động, ham hiểu biết không chịu:


·            - Thế nhưng… vú mướp là gì hả mẹ? Sao mấy bác ấy lại gọi cô Nhạn bán bia hơi là vú mướp?


·            - Con có thôi ngay cái chuyện nghe lỏm ở chỗ bia bọt đi không? - Bà Yến cáu tiết mắng con - Con trốn học hay sao mà đi hóng chuyện của mấy ông bia bọt bê tha? Tuổi của con là tuổi phải lo chăm học chăm hành. Lười học, ham la cà đầu đường xó chợ thì lớn lên đi ăn mày, con ạ! Kỳ này ba về, ba sẽ cho con no đòn!


Bắc muốn hét lên với mẹ: Nhưng mà con đói, với lại học chán lắm, đi chơi thú vị hơn nhiều… nhưng thấy mẹ nó trừng mắt nhìn, nó im re.


Đêm đêm, như thường lệ, Bắc đưa tay rờ vú mẹ, đòi mẹ kể chuyện, nghe chưa hết câu truyện cổ thì đã ngáy khò rồi dang thẳng chân tay đánh một giấc đến sáng bảnh mới dậy đòi ăn. Đêm ấy, Bắc đưa tay lên ngực mẹ, thấy mẹ nằm yên, tưởng mẹ ngủ, nó luồn tay rờ đầu vú mẹ. Biết con trai đang rất tò mò vì câu chuyện của người lớn, bà Yến vừa thương con, vừa buồn cười, vừa giận con thích hóng chuyện. Bà Yến bật cười khanh khách, vì nhột. Bà nắm lấy hai bàn tay con, ôm chặt con vào lòng. Bên trái bà, bé Phương Nam ngủ ngon lành, nét mặt như trăng rằm. Bà lựa lời nói với con trai:


·            - Năm lên ba tuổi con mới phải thôi bú mẹ, vì em gái con lúc ấy bú khỏe lắm, mẹ không đủ sữa cho em bú. Hai anh em con bú mẹ nhiều thế mà ngực mẹ vẫn gọn gàng. Ba khen mẹ đó! Đấy là nhờ ông bà sinh ra mẹ cho mẹ bộ ngực bánh dầy, giống cái bánh dầy ấy, con nhớ không? Còn những người vú mướp là giống quả mướp, nó dài, nên chưa có con mà đã chảy xệ xuống…


·            - Thảo nào! - Bắc ngồi nhỏm dậy, nhìn mẹ, nó thích được nói chuyện với mẹ trước khi ngủ. Suốt ngày mẹ đi làm, nó đi học, chiều về lại hối hả lo cơm nước, ít khi mẹ con được trò chuyện với nhau - Mấy bác ấy bảo những người vú mướp thì xấu, nuôi một đứa con là thõng thẹo, có thể vắt vú lên vai! Eo ơi, kinh nhỉ mẹ nhỉ! Nhưng, mẹ ơi, mấy bác bảo có vú mướp còn hơn những người vu khống, vu khống là quả gì bánh gì hả mẹ?


·            - Vu khống là nói lái, tức là không vú, chứ sao lại bánh với quả gì ở đó! Thủy là trước, chung là sau, thủy chung như nhất là trước sau như một, tức là những người không có vú thì trước ngực cũng phẳng như sau lưng, con hiểu chưa?


·            - Vâng, hiểu rồi mẹ ạ! Gớm thật!


·            - Con nói gớm cái gì?


·            - Thủy chung như nhất ấy! Phẳng lỳ như phản thì lấy gì nuôi em bé mẹ nhỉ!


·            - Phải rồi! Người phụ nữ phải có vú để có sữa nuôi con. Bộ ngực của người phụ nữ là báu vật do tạo hóa ban cho, nó làm cho người phụ nữ đẹp, duyên dáng và nhờ nó mà có tình yêu, tình mẫu tử… Người ta nói ai không có vú tức là vô phúc…


Thằng Bắc đã ngáy khò khò. Nó cựa mình ra khỏi mẹ để thẳng chân thẳng tay mà ngủ. Bao giờ cũng thế, bắt đầu chui vào trong màn là nó tìm hơi mẹ, nghe mẹ kể chưa hết câu chuyện gì đó là nó ngáy rồi. Khi đã ngủ thì nó rời xa mẹ để duỗi thẳng chân tay, mặt ngửa lên trời, làm một giấc đến sáng, mẹ gọi mãi mới dậy. Cái nết ăn nết ngủ của nó thật dễ. Ăn gì cũng xong, miễn là được ăn nhiều. Thi thoảng mẹ ở cửa hàng về mang cho nó vài miếng thịt luộc hoặc tấm bánh, thế là nó sướng lắm, mắt nó sáng lên, nó gọi em gái rối rít để hai anh em đi rửa tay. Nhiều lần nó không rửa tay nên bị mẹ đánh đỏ cả tay lên vì tội mất vệ sinh, không rửa tay trước khi ăn. Bắc ăn nhiều, lớn nhanh như thổi! Càng lớn nó càng ăn khỏe! Biết bao nhiêu lần người mẹ đã nhịn ăn để nhường cho con. Lúc nào Bắc cũng thấy thèm thuồng ăn một thứ gì đó. Lúc nào nó cũng đói.


Ở trường cô giáo bảo Bắc học vào loại thông minh, mỗi tội không thích học, chỉ thích chơi và nghịch ngợm kinh khủng! Bắc đầu têu ra đủ mọi trò để quậy phá trong lớp trong trường. Nó sướng nhất là được đi chơi, xếp hàng mua bia hộ bác Nguyễn. Nó không biết thích vì cái gì, nhưng thấy ông Nguyễn cười, nghe ông nói, nhìn vào mắt ông, nhìn cái cách ông đưa cốc bia lên miệng, ngửi hồi lâu trước khi uống, uống vào hồi lâu mới nuốt và khà thật sung sướng… Nó tưởng tượng nếu ông Nguyễn Tuân mà là ông nội nó thì tuyệt biết bao!


Bắc nhớ ba lắm! Nó nhớ mãi cái lần ba đưa nó đi chơi, để rồi hôm sau ba nó lên đường ra mặt trận, cha con nó gặp nhà văn họ Nguyễn. Ba nó xếp hàng, thấy một ông mũi khoằm đứng sau mình bèn nhường cho ông ấy đứng lên trước. Thế rồi khi mua được bia, họ vừa uống vừa nói chuyện bằng tiếng Pháp. Ôi cái thứ tiếng Tây nghe hay đáo để. Bắc rất tự hào vì nó hơn hẳn mọi đứa trong lớp, ở cái việc biết mấy tiếng Tây như những câu chào hỏi khi gặp nhau, ngày, tháng, giờ giấc, merci là cám ơn, bien là tốt, bonne année là Chúc mừng năm mới!…


… Nằm bên chồng, bà Yến ngược dòng thời gian nhớ về đứa con trai xấu số! Bà khóc, khóc thầm như bao nhiêu năm qua bà thường khóc thầm vì nhớ con, thương chồng…


Chồng bà là niềm tự hào của bà! Thế mà sau năm 1975, bà đành phải xa ông, nhường chồng cho bà Lịch. Tủi lắm chứ, nhưng thà thế còn hơn ở gần nhau, chồng chung… chịu sao thấu! Tuần nào ông cũng gọi dây nói cho bà. Đôi lần bà có hỏi ông, tất nhiên là qua điện thoại, về cái vụ thiếu tướng, khi nào trên cho ông. Ông chỉ thở dài… Bà thấy tiếc cho chồng, tiếc cho cả quân đội nhân dân Việt Nam! Cấp trên ông Hòa đã không trọng dụng những người có tài, có tâm như chồng bà, lại cất nhắc những kẻ dốt nát giỏi nịnh bợ lên thì quân ta yếu là cái chắc, là đáng đời!  


Hồi đó nếu không bỏ học tham gia Thanh niên Tiền phong năm 1944, chồng bà chỉ cần học một năm nữa là lấy bằng Bắc Mêtrô1 trường Petrus Ký cơ mà! Với những người đã học tới tú tài thời Tây thì tiếng Pháp cũng thông thạo chẳng khác gì tiếng mẹ đẻ. Ông Hòa mê đọc truyện. Ông đọc rất nhiều và truyện nào hay ông cũng kể lại cho vợ, cho con nghe theo cách của ông. Ông là nhà binh, nhưng rất mê đọc nên thường gần gũi giới nhà văn để mượn sách của họ. Những nhà văn ở miền Bắc, trạc tuổi ông Hòa, không ít người được học hành, rành tiếng Pháp. Bởi thế gặp một nhà văn nổi tiếng như ông Nguyễn mà lại gặp ở chốn bia bọt thì tuyệt biết bao! Ông Nguyễn hơn ông Hòa mười tám tuổi. Chỉ trong ít phút là họ trò chuyện với nhau xi xa xi xô tâm đầu ý hợp lắm lắm! Nhưng hai người không nói tiếng Pháp nữa! Cả nước đang dốc sức dốc lòng đánh đuổi đế quốc Mỹ vậy mà lại có kẻ đang nói tiếng của bọn thực dân đế quốc à?! Có vài gương mặt tỏ ra khó chịu, mặc dù hai người nói với nhau chỉ vừa đủ nghe. Họ chuyển sang tiếng Việt. Ông Nguyễn hỏi ông Hòa về cách nấu, về hương vị những món ăn Nam Bộ, trong đó có món lẩu mắm mà thời còn thanh niên, trên đường thiên lý giang hồ, khi vào Sài Gòn tìm đường sang Cao Miên, ông Nguyễn đã từng ăn. Ông Nguyễn chạm vào dây thần kinh trần của ông Hòa, nỗi nhớ người thân, nhớ ngôi nhà lợp ngói uyên ương trên đường Hàm Nghi, nhớ nơi chôn nhau cắt rốn bùng dậy trong lòng. Ông Hòa kể về những con đường rợp bóng me Sài Gòn, về những món ăn ngon của Nam Bộ: bánh xèo, chả giò, lẩu mắm, canh chua cá bông lau, tôm càng nướng, rùa rang muối, cá rô mề kho tộ, cá chìa vôi đút lò… Những món ăn mà bà Yến đã thuộc làu, từng chế biến cho chồng ăn theo khẩu vị Nam Bộ. Nhưng có nhiều món, ở ngoài Bắc không có nguyên liệu, như cá chìa vôi, đành chịu!


Bà Yến nhớ câu chuyện chồng kể hồi đó, khi ông nhà văn họ Nguyễn rút giấy bút ghi lia lịa về những món ăn Nam, ông vẫn không quên cu Bắc đang ngồi bên hóng chuyện. Ông nhón tay lấy mấy hạt lạc mẩy và thơm lựng đưa cho cu Bắc. Đưa hai tay ra nhận lạc rang, cu Bắc dõng dạc nói:


·            - Merci beaucoup1!


·            - Trời! Quả là hổ phụ sanh hổ tử! - Mắt ông Nguyễn nheo nheo nhìn Hòa - Toa dạy Pháp ngữ, ngôn ngữ tình yêu cho con trai toa được nhiều chưa?


·            - Đâu có! Em có thời gian đâu mà dạy, vả lại, bác biết không, cháu nó biếng học lắm! Em lo quên mất vì ít dùng nên lâu lâu tự ôn lại, ôn bằng cách dạy vợ học cho biết, cháu nó học lóm được mấy từ đó mà.


·            Mấy từ thế nào! - Bắc nghĩ thầm, nó không thích khi ba không chịu khoe tiếng Pháp của nó – Ít nhất cũng gần trăm từ lận! Cháu còn biết hát ba bốn bài tiếng Pháp nữa cơ.


Hôm đó, ông Nguyễn và ba nó uống nhiều bia. Bốn lần xếp hàng kia mà! Mỗi người uống mười cốc vại. Thấy ông nhà văn cứ nhìn thằng con trai mình đang ăn lạc rang mà cười tủm tỉm, ông Hòa nói:


·            - Cháu tên Bắc, Nguyễn Kinh Bắc, sinh năm sáu lăm. Cháu cũng sáng dạ, nhưng biếng học, chỉ ham chơi, nó mê làm phi công dữ lắm!


·            - Vậy sao? Làm phi công cũng tốt! Nhưng bác mong rằng đến đời cháu, có lái thì lái máy bay du lịch, máy bay chở khách chứ không còn phải lái máy bay chiến đấu nữa! Đất nước này… chiến tranh dài lê thê rồi, nhiều máu và nước mắt quá rồi! - Chợt ông Nguyễn ngừng lời, hướng ánh mắt sang ông Hòa - Thế chú Hòa đã đọc Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi của tôi chưa?


·            - Dạ rồi!


·            - Được không?


·            - Dạ…


·            - Cứ nói thật tôi nghe!


·            - Được thì chắc chắn là được quá đi chứ. Nhưng nói thiệt, em mê bác là mê Vang bóng một thờiSông Đà. Trước 1945 là Vang bóng một thời. Sau 1954 là Sông Đà. Đúng là Nguyễn Tuân, độc đáo, lừng lững một dòng văn chương, không lẫn vào đâu được! Em nói, bác có giận em xin chịu: Cái Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi… nó có tính thời sự nhiều hơn…


Ông Nguyễn khựng lại cốc bia hơi đang đưa đến gần miệng. Anh chê tôi nặng về thế sự, nhẹ về văn chương chứ gì? Biết làm sao được? Thằng giặc Mỹ nó đang muốn đẩy cả miền Bắc lùi về thời kỳ đồ đá kia mà. Biết làm sao khác được. Nhưng mà tôi phải cảm ơn anh, một người đọc đáng kính, người đã thẳng thắn chê tôi, chê mà tôi sướng! Ông Nguyễn đặt cốc bia xuống, nhìn Hòa không nói gì, ánh mắt ông thoáng buồn mà không lạnh, không kiêu bạc, vẫn ấm áp. Ông Hòa cũng không dám nói thêm. Sự im lặng kéo dài… Không thấy ông Nguyễn uống bia nữa. Ông bỏ nguyên cốc bia cho đến lúc họ bắt tay, ra về.


Trên đường về khu tập thể bờ sông, ông Hòa thấy con trai lặng yên ngồi sau xe, không hỏi liến thoắng luôn miệng như mọi khi. Ông biết con trai mình cảm nhận được thái độ ông Nguyễn khi nãy. Ông nói với con trai:


·            - Đó là nhà văn Nguyễn Tuân, tác giả cuốn Vang bóng một thời mà ba rất mê từ thời còn học Petrus Ký ở Sài Gòn. Ổng là một trong số ít nhà văn Việt Nam mà ba kính phục.


Hòa kể với vợ đến đó, nói trầm hẳn xuống:


·            - Tôi đã làm nhà văn buồn. Có thể là tôi đã chạm vào nơi sâu kín nhất của nhà văn duy mỹ, luôn tôn thờ cái đẹp của văn chương nghệ thuật. Tôi nói thẳng quá chăng? Cái tật nói thẳng nói thật đã làm khổ tôi từ khi bỏ học ngang xương đi theo cách mạng đến giờ. Sao tôi không chế ngự được cảm xúc nhỉ? Sao tôi không biết uốn lưỡi bảy lần trước khi nói nhỉ? Thế mới biết sống có chừng có mực là khó nhất. Nhưng… sống thế thì nhạt lắm, nhạt hơn nước ốc, chán phèo!


·            Đêm trước ngày ra trận, Hòa dặn dò từng người trong nhà. Với cu Bắc, ông dạy:


·            - Con lười học và lười đọc sách lắm Bắc à. Sau này lớn lên con sẽ thấm thía rằng chỉ có sách mới là người bạn lớn, hữu ích cho những ai muốn hiểu biết, muốn sống có nhân cách! Nếu con mê sách, khi đọc Nguyễn Tuân, con sẽ thấy ông ấy là cả một thế giới riêng, đầy hấp dẫn!


Nhưng lúc đó cu Bắc đã ngủ rồi. Lời Hòa dặn con, bà Yến nghĩ là chồng dạy mình. Từ ngày Hòa vô Nam, bà đã làm theo. Bà đọc sách như là một cách để tăng nghị lực trụ vững trước khổ đau, gian khó… Họ yêu nhau thật lâu, cho đến bốn giờ sáng thì Hòa lên đường…


(còn tiếp)


Nguồn: Cõi mê. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Hội Nhà văn. In lần đầu năm 2005; in lần thứ sáu năm 2013.


www.trieuxuan.info








1 Đèo: chở, còn kêu là lai, bằng xe đạp.




2 Kẹo dồi: Một loại kẹo gồm mạch nha và lạc (đậu phộng) cuốn tròn như khúc dồi (lòng), bên ngoài bao một lớp áo mỏng bằng bột nếp, nhai giòn tan và thơm ngon, rất hợp với nước trà móc câu Đại Từ Thái Nguyên.




1 Cá quả, có nơi gọi là cá chuối, cá tràu. Trong Nam kêu bằng cá lóc.




1 C tức chiến trường Lào.




1 Tên gọi thời Pháp. Nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.




1 Mang quần áo dơ đến cơ quan giặt giũ, nấu nước sôi, nấu cơm tại cơ quan.




1 Tạ Hiện chứ không phải Tạ Hiền như lâu nay người ta vẫn gọi.




1 Baccalauréat Métropolitain: Tú tài Tây, Tú tài toàn phần. Trước 1925 là Baccalauréat local: Tú tài bản xứ, chương trình không phân ban, rất nặng. Bởi thế ai thi đậu bằng này có kiến thức sâu rộng.




1 Tiếng Pháp: Cám ơn rất nhiều!



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »