tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20541442
Tiểu thuyết
03.12.2013
Triệu Xuân
Cõi mê

Con gái út, con gái rượu đẹp vậy mà chưa khi nào ông Hòa thấy con dẫn bạn trai về ra mắt. Sao vậy cà? Hay là con mình vô duyên? Trong nhà ông Hòa, không ai hay rằng không phải vậy. Thực ra Phương Nam có rất nhiều người theo đuổi, không phải cô kén cá chọn canh, nhưng cô chưa vừa ý ai.


Rồi đến ngày cái điều ấy xảy ra. Người có diễm phúc được Phương Nam yêu là Nguyễn Thành Đạt. Đạt đang ở giai đoạn sung mãn của lứa tuổi trung niên. Vào một sáng mát trong như mùa thu, tay trong tay, họ dắt nhau vào tiệm cà phê đẹp nhất đường Đồng Khởi, lên lầu một, nơi có những phòng sang trọng dành cho việc thư giãn, tâm tình của những người tri kỷ. Đạt cúi xuống, nhìn vào đáy mắt người con gái nhỏ hơn mình mười bảy tuổi. Vẻ trân trọng, nâng niu, ngời sáng tình thương yêu hiện rõ trên gương mặt, trong từng cử chỉ của Đạt. Anh hôn suối tóc dài đen huyền. Hai bàn tay to khỏe, ấm áp với những ngón thon dài của anh âu yếm vuốt ve cái cổ cao ba ngấn trắng ngần, bờ vai mềm và cái eo nhỏ xinh như eo của thiếu nữ nước Sở1. Gương mặt người con gái ngước lên, ánh mắt lóng lánh tình yêu và nỗi khát khao, đôi môi hé mở như chờ đón, như thôi thúc… Cô đứng trên mười ngón chân, gót nhón cao để có thể dán chặt bộ ngực bánh dầy nóng hổi, phập phồng của mình vào bộ ngực vạm vỡ của người yêu. Họ chỉ rời môi nhau khi cả hai đã gần như hụt hơi…


- Có nhất thiết anh phải ra mắt hôm nay?


- Không thể trễ hơn, anh à! Em đã nói với ông nội rồi. Hôm nay là sinh nhật thứ một trăm của nội! Mẹ từ Hà Nội cũng vừa bay vào. Ba, mẹ sẽ bất ngờ, nhưng không sao… Ba, mẹ, má Lịch, luôn chiều em mà anh!


- Anh e rằng chúng mình sẽ gặp phải sự phản đối quyết liệt của ba mẹ em…


- Vì sao?


- Anh vừa ra tù. Anh hơn em gần hai chục tuổi…


·            - Anh kỳ quá hà! Em đã nói với anh biết bao nhiêu lần rồi! Tình yêu bất chấp tất cả! Miễn là người mình yêu phải xứng để cho mình trao thân gửi phận… Anh bị tù oan chứ có phải tham nhũng đâu!


·            - Đành là vậy. Nhưng… đó là quan niệm của em, của anh. Còn ba mẹ em, còn má em, và cả ông nội em nữa…


·            - Không nói nữa anh! Chúng mình chỉ còn vài giờ nữa để chuẩn bị, nếu anh muốn mua bông tặng nội…


Vẻ kiên quyết hiện rõ trong ánh mắt thông minh, quyến rũ của Phương Nam. Cô vẫn nhón gót, ngước lên say đắm nhìn Đạt. Đạt ngồi xuống salon, ôm chặt Phương Nam. Gương mặt hồng hào với vầng trán nở đầy đặn, sống mũi thẳng, cái miệng rộng khi cười rất tươi của Đạt ngang tầm bộ ngực chắc nịch đang tỏa hương quấn quýt anh. Đạt ghì chặt người yêu. Mùi hương từ da thịt Phương Nam hút hồn anh đã gần một năm rồi. Xa em một ngày anh đã thấy nhớ da diết cái mùi hương ấy. Ba tháng trong trại tạm giam, anh nhớ đến ngẩn ngơ, nhớ đến tê tái cõi lòng khuôn mặt đẹp như tiên nữ, giọng nói trong vắt ngọt ngào và mùi hương da thịt em. Anh ao ước được có em. Nếu không có tình yêu của em, không biết anh có còn đến hôm nay hay đã chết rũ trong tù vì tuyệt vọng, vì mất niềm tin vào cuộc đời? Ơn Trời, đã ban em cho anh! Chính tình yêu của em đã giúp anh trụ vững, không nản chí, luôn yêu đời, tin tưởng vào công lý suốt một năm qua…


Hồi ấy, Đạt theo học chương trình tiếng Anh để lấy chứng chỉ C. Công ty của Đạt vừa xây dựng xong công trình kho lạnh và nhà máy đông lạnh cho Tập đoàn khai thác thủy sản Viễn Đông Liên Xô. Chỉ qua hai hợp đồng này, công ty đã thu lãi ròng hơn hai triệu đôla Mỹ. Công việc ở miền Viễn Đông nước Nga đòi hỏi Đạt bay tới bay lui nhiều lần. Anh phải nghỉ học. Mỗi lần bỏ học, anh lại phải tìm cô giáo Phương Nam để hỏi bài. Cô tốt nghiệp hạng ưu cùng lúc hai bằng: Cử nhân Anh văn và Cử nhân Ngữ văn. Vào thời điểm 1990-1991, những sinh viên học cùng lúc hai trường, hai khoa là rất hiếm hoi. Phải thật xuất sắc mới được đặc cách như thế! Phương Nam giỏi Anh văn, môn sinh ngữ thứ hai là tiếng Pháp cô cũng đứng đầu khóa. Ra trường, cô được thông báo sẽ giữ lại trường giảng dạy, rồi may mắn được chọn trong nhóm sinh viên đi tu nghiệp ba tháng tại London thủ đô nước Anh. Về nước, tưởng được ở lại trường giảng dạy, nhưng không, cái chân ấy không thuộc về cô nữa! Chưa xin được việc làm, cô vào dạy tiếng Anh ở Trung tâm ngoại ngữ đại học Sư phạm, lớp của Đạt. Buổi học đầu tiên, cô giáo kiểm tra trình độ học viên. Không hiểu sao cô lại gọi Đạt, học viên lớn tuổi nhất lớp! Đạt đáp trôi chảy những câu hỏi của Phương Nam. Từ sau lần đó, anh thấy mình như đang tương tư cô giáo trẻ! Những lần đi công tác ở Nga về, anh thường mua sôcôla làm quà cho cô giáo. Cô giáo trẻ nhiệt tình giúp Đạt luyện nghe, nói, hai kỹ năng cốt yếu của việc học ngoại ngữ để ứng dụng trong việc giao tiếp cho doanh nhân. Mãi về sau này Đạt mới nói rằng ngay từ hồi đó, anh đã đem lòng yêu thương cô giáo, là thương vụng nhớ thầm thôi, chứ người như thế ai thèm thương anh chàng quá đát, đã từng có gia đình! Cũng mãi về sau này anh mới biết: Mỗi chiều, tối cô chạy sô dạy hai lớp, để có tiền theo học chương trình thạc sỹ Văn chương Anh Mỹ của trường Harvard Hoa Kỳ. Cô không phiền đến ba má. Cô đang ở với ba má tại căn nhà trên đường Hàm Nghi. Còn mẹ đẻ của cô, bà Hải Yến vẫn ở Hà Nội.


Cha cô, ông Nguyễn Kỳ Hòa là bộ đội tập kết, mang theo đứa con trai thứ hai (tức thứ ba, theo cách gọi của Nam Bộ) là Nguyễn Trung Thành. Năm 1959, khi phong quân hàm, ông được mang lon trung úy. Trung úy Hòa sống trong cảnh ngày Bắc đêm Nam, không nguôi thương nhớ vợ và đứa con trai cùng người cha thân yêu ở Sài Gòn.


Sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, Ba Hòa được giáo dục theo tinh thần của Khổng giáo. Nhân - nghĩa lễ - trí - tín cùng Tam bất là những bài học nằm lòng: Bần tiện bất năng di. Phú quý bất năng dâm. Uy vũ bất năng khuất1. Lớn lên theo học ở nhà trường của nền giáo dục Pháp, Hòa được tiếp thu văn hóa văn minh châu Âu, từ nếp sinh hoạt đến phong cách đi đứng nói năng, lối sống… Ngày đánh răng ba lần, thường xuyên tắm rửa sạch sẽ, đi toilet xong là rửa ráy kỹ càng, trước khi ăn phải rửa tay, áo sơ mi luôn luôn bỏ trong quần, đi ra ngoài đường là mang giày, không giày thì cũng xăng đan, luôn luôn biết cám ơn và xin lỗi… Những gì là tốt đẹp nhất trui rèn nhân cách một con người, Hòa biến thành máu thịt, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng bất di bất dịch.


Đẹp trai, khỏe như lực sỹ, lại hào hoa phong nhã, trung úy Hòa khiến bao cô gái nơi đơn vị trú quân như Thanh Hóa, Nghệ An rồi Hà Nội mê tơi! Thời gian đầu, kỷ luật quân đội và những bài học về đạo đức cách mạng đã giúp ông Hòa đứng vững trước những khóe mắt, nụ cười tình tứ của các thanh nữ Bắc Hà. Nhưng rồi… bản tánh lãng tử hào hoa quá, cuộc sống ngày Bắc đêm Nam cô quạnh quá, cầm lòng chẳng đặng, ông đã không ít lần đáp lại sự tha thiết của các cô gái dễ thương, hiền dịu. Hòa biết rằng nếu sự việc vỡ lở, sẽ bị tổ chức kỷ luật rất nặng! Nhằm nhò chi ba cái lẻ tẻ! Ông Hòa có chính kiến riêng về lãnh vực này! Theo ông, những cuộc tình bay bướm ấy chẳng phương hại gì đến lý tưởng, đến sự nghiệp, không gây hại gì cho phe Xã hội Chủ nghĩa, và càng không ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới. Ông bị kiểm điểm hoài về chứng đa tình, đã hơn một lần bị kỷ luật, từng bị cảnh cáo trong Đảng và trong trung đoàn!


Còn nhớ lần đầu tiên bị chi bộ kiểm điểm, đó là thời kỳ mới ra Bắc, Hòa ngồi im thin thít cắn răng chịu trận sỉ vả suốt hai tiếng đồng hồ của các đồng chí. Toàn những người mà bấy lâu nay anh quý mến, tin cậy, thường xuyên tâm sự sẻ chia vui buồn, ăn nhậu bù khú... Vậy mà, chỉ có mỗi một chuyện anh ngủ với cô gái đẹp nhất làng, đang là Phó bí thư Xã đoàn, mà họ quay ngoắt lại mạt sát anh, quy chụp anh là tha hóa, sa đọa, trác táng, vi phạm đạo đức cách mạng, làm mất danh dự của đơn vị, làm suy yếu hàng ngũ của Đảng, rạn nứt tình quân dân vốn đang như cá với nước, và như thế sẽ làm cản trở sự nghiệp cách mạng!… Đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt rồi tức điên lên, anh muốn cho mỗi người một chưởng để họ im cái miệng nói bậy nói bạ, sỉ nhục đồng đội. Nhưng trong cái khí thế kiểm điểm đằng đằng sát khí phân rõ địch ta như vậy, anh thu mình lại như con ốc sên gặp nguy. Bí thư chi bộ là Đại đội phó của anh, người gốc Quảng Nam nhưng định cư ở Bảy Hiền từ hồi trước cách mạng tháng Tám, căn vặn anh đủ điều, toàn những chuyện không thể nói ra được. Đàn ông với nhau, sao lại kỳ cục thế! Trai gái đã bén hơi nhau thì dù chỉ một giây một phút thôi cũng là tuyệt vời rồi, cớ gì mà văn vẹo:


·            - Đồng chí đã ngủ với đồng chí Mơ mấy lần? Khai thiệt ra hỉ, khai thiệt thì mới mong được khoan hồng!


Anh ta là người hễ mở miệng ra là đồng chí. Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai gồm anh, em, chị, cô, bác, ông… không có trong miệng Bí thư chi bộ! Không hiểu răng mà rứa! Hễ mở miệng ra là anh ta dùng từ đồng chí. Trong sinh hoạt Đảng mà xài từ này thì quá chuẩn, còn trong sinh hoạt hàng ngày, cả chuyện riêng tư ở trên giường, anh ta cũng xài đồng chí thì rõ là man rồi! Ở Việt Nam, theo như sự đọc của Hòa, ông biết rằng người đầu tiên xài từ đồng chí là vua Minh Mạng. Năm Canh Dần 1830, trong bài Tổng thuyết, Minh Mạng viết:


Thánh Thán bất phùng, tàn yên tản mạn,


Hoa đường dĩ viễn, phá bích tiêu điều,


Sở đương mịch kỳ di biên, cáo chư đồng chí


Truyền hình tả chiếu ly tảo trích hoa…1


Thánh tổ Nhân Hoàng đế ngự chế


 Lúc đó Nguyễn Du đã chết, mà văn bản chính thức của truyện Kiều do Nguyễn Du viết thì không còn. Vua Minh Mạng viết điều này khuyến khích bề tôi đi tìm văn bản ấy mà khắc in, phổ biến cho những người đồng chí, cùng chí hướng văn chương, cùng tâm trạng thưởng lãm!... Hòa miên man nghĩ, Bí thư chi bộ hỏi ba lần, Hòa vẫn câm như hến. Đến lần thứ tư, anh ta quát lớn:


·            - Đồng chí có chịu khai không? Đồng chí dám coi thường tổ chức, coi thường Đảng?


Bất đắc dĩ, Hòa phải cất lời, không muốn để anh chàng này thóa mạ mình thêm một giây nào nữa. Hòa đứng dậy, nói rõ từng lời một:


·            - Cô Mơ chưa chồng, cô ấy thương tôi, tôi cũng thích cổ. Nếu người ta có chồng mà tôi nhào vô thì mới là chuyện bậy bạ, vi phạm đạo lý làm người! Vợ tôi ở Nam, tôi rất nhớ vợ và rất thèm vợ… nên chúng tôi ngủ với nhau. Vậy thôi, không phương hại gì đến cách mạng, đến Đảng. Cô Mơ không kiện, gia đình cô Mơ không bắt thường, hà cớ gì các anh xía vô. Tôi nhắc lại: Tôi không bao giờ chơi bậy! Đây chẳng qua chỉ là chuyện sinh hoạt, là nhu cầu chính đáng của con người. Tùy, các anh muốn làm gì, muốn kỷ luật cỡ nào, tùy! Tôi nhắc lại: Tôi không bao giờ chơi bậy! Các anh hiểu chưa? Chắc các anh không thể hiểu điều đó! Vậy thì ráng mà hiểu!


Dứt lời, Hòa nói rằng anh đau bụng, xin phép cho anh đi… cầu! Anh không nhịn được nữa, ra tới nơi rồi!


Ngoài cái vụ thường xuyên bị các cô gái trẻ tia và sẵn sàng tia lại, Hòa là một trang nam nhi có nhân cách, tôn trọng nhân - nghĩa - lễ - trí - tín như bài học khai tâm, vỡ lòng cha ông đã dạy khi lần đầu tiên ông học chữ thánh hiền.


Năm 1960, ông đứt liên lạc với gia đình ở Sài Gòn. Năm 1962, ông nhận được tin dữ: Trần Thanh Lịch, vợ ông, bị bắt và bị tra tấn đến chết trong tù! Mất vợ, có lúc ông không còn thiết sống nữa! Ông dành hết tình cảm, tâm huyết nuôi dạy con trai Nguyễn Trung Thành. Ông tìm mọi cách liên lạc với cha và con trai trưởng Nguyễn Anh Trung, nhưng bặt vô âm tín. Thế rồi ông gặp Hải Yến, người xứ Kinh Bắc, làm việc tại nhà hàng Thủy tạ Bờ Hồ. Hải Yến xinh đẹp, hát quan họ cực hay. Dòng máu văn hóa Kinh Bắc, dòng máu quan họ chảy rần rật trong người cô. Gặp Hòa, cô say mê liền! Hải Yến nhận ra đây chính là người đàn ông mà cô ao ước, Hòa như là hiện thân của một tinh thần trong sạch trong một cơ thể cường tráng! Tại một bờ cỏ dày và mịn như nhung trên đê Yên Phụ, trong một đêm sông Hồng giữa mùa mưa đầy ắp nước đỏ cuồn cuộn đổ về đông, Yến tự nguyện và mãnh liệt dâng hiến cho Hòa, hết đợt này tiếp đợt khác. Nếu không vì kỷ luật sắt của quân đội thì họ đã qua đêm với nhau trên đê Yên Phụ! Quá giờ vào cổng một tiếng mất rồi! Hòa gấp áo mưa, soi đèn pin cho Yến tìm quần lót, ông mỉm cười mãn nguyện khi thấy chiếc khăn mui xoa trắng tinh có những giọt đỏ hồng. Thảm cỏ dày như thế mà bây giờ đã nát như sân Hàng Đẫy sau một trận banh nảy lửa giữa hai đội Công an Hà Nội và Thể Công! Chưa bao giờ ông được con gái mê như cách của Hải Yến!


Sau lần đầu tiên gặp cô, Hòa cứ ngỡ như mình chiêm bao, người cứ lâng lâng hệt như mới sáng bảnh mắt đã nốc hết ba xị rượu Làng Vân cháy cổ. Hồn vía Hòa bị Yến rút mất tự bao giờ! Đẹp người lại đẹp nết, thông minh, Hải Yến hết lòng yêu thương cưng chiều Trung Thành. Bé Thành quấn quýt cô Yến chẳng khác nào mẹ con ruột. Cầm lòng sao đặng? Ông yêu Yến như chưa bao giờ biết yêu! Ông quyết định gắn bó đời mình với người con gái quan họ. Cưới vợ năm 1964, năm 1965 ông có con trai, đặt tên Kinh Bắc, quê vợ. Đúng lúc đó, ông nhận được tin Thanh Lịch, vợ ông không chết mà đã được trả tự do! Thằng Hai Trung, con trai đầu, ngay sau khi vợ ông bị bắt đã bỏ học, vào biệt động Sài Gòn.


Trong đơn vị có người trùng tên Nguyễn Kỳ Hòa, chỉ khác là quê Biên Hòa, vì thế anh em đặt cho ông Hòa biệt danh Hai Sài Gòn. Thời đó, với những đồng đội quê miền Bắc, danh từ anh Hai Sài Gòn, anh Hai Nam Bộ mang ý nghĩa đẹp: bản lĩnh, ngang tàng, hiệp khách, hào hoa phong nhã, chịu chơi! Hòa là típ người ấy, ông thứ ba, nhưng anh Hai của ông đã chết, ông thành con trai trưởng, thế nên anh em kêu ông là Hai Sài Gòn. Hòa rất thích biệt danh này. Vợ Hai Sài Gòn còn sống là tin mừng, nhưng oái oăm thay lại trở thành án kỷ luật của ông! Trung úy Hai Sài Gòn bị kỷ luật vì lấy vợ hai trong khi vợ trong Nam còn sống! Bởi vậy, cái lon trung úy bám trên vai ông suốt từ năm 1959 đến năm 1969, ông xung phong vô chiến trường mới được phong đại úy. Vừa hành quân tới Khe Sanh, ông bị viêm ruột dư cấp và bị bục. May mà gặp nữ bác sỹ giỏi đã cứu ông thoát chết. Tại nơi này, ông đã để lại một hòn máu của mình trong lòng bác sỹ Thanh Việt, nhưng chiến trường hồi ấy ác liệt vô cùng, ông quên mất! Chính điều này về sau khiến ông tự giằn vặt mình, cho mình là tên đốn mạt! Vào tới B2, sau một trận đánh, tiểu đoàn ông lập công, ông mới được thăng thiếu tá. Rồi cũng vì quá đa cảm, đa tình, hay quan tâm săn sóc, chiều chuộng mấy em giao liên, cứu thương… ông cứ bị kiểm điểm hoài, đánh giặc giỏi, chỉ huy tài nhưng mãi không được thăng cấp! Năm 1975, khi kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh, ông mới được đeo lon trung tá.


Đêm trước ngày ông Hòa dắt con trai đi tập kết, ông tìm cách về thành, yêu vợ suốt đêm! Có vài tiếng đồng hồ mà ông cuồng nhiệt yêu vợ tới ba lần. Lần nào ông cũng cùng với vợ đạt tới sự… tót vời! Trong cơn khoái ngất thứ ba, bà Lịch ghé hàm răng đều như hạt bắp cắn vào hai bên vai ông, để lại trên đó hai vầng trăng non. Hòa đê mê khi vợ cắn, chợt nhớ ngày mới cưới, ông hỏi vợ:


·            - Vì sao em yêu anh?


·            - Xạo vừa thôi nghe! Biết rồi còn hỏi cầu cơ!


·            - Thì nói nghe chơi!


·            - Thì bởi… tại cái tinh thần anh trong trẻo, và anh mạnh… như cọp!


Bà Lịch rời hàm răng đều như hạt bắp khỏi vai chồng thì chuông đồng hồ điểm bốn tiếng!


·            - Lẹ dễ sợ! Đã bốn giờ rồi sao? - Hòa thốt lên!


Họ bật dậy! Hai vợ chồng bịn rịn mãi, cho đến khi cụ Nguyễn dắt thằng Ba Thành từ trên lầu xuống, hối như lửa cháy:


·            - Lẹ lên con ơi! Bộ muốn tụi mật thám xét giấy sao?


Suốt đêm qua, bà Lịch xin chồng cho đi tiễn ở miệt Năm Căn, Hòa không cho. Bốn giờ mười phút, chiếc xe thổ mộ vẫn chở mối rau tươi cho chợ Cũ dừng trước nhà, hai cha con lên xe, ngồi lẩn trong đống cần xé.


Bà Lịch ruột nôn nao như sớm mai chưa bỏ bụng chút gì mà uống liền ba cữ cà phê đen đậm đặc. Bà dò hỏi biết được vị trí chồng sẽ xuống tàu, vội vã nhảy xe đò rồi tàu đò… tới nơi thì chiếc xuồng máy đã rời bến được gần trăm mét. Nó chở cha con ông Hòa cùng hơn chục người khác ra nơi tàu Ba Lan thả neo. Hai vợ chồng cùng gào lên kêu tên nhau, tiếng họ chìm lẫn vào sông nước. Ở rừng đước xanh thăm thẳm bờ bên kia chợt bay vụt lên hai con chim mòng nước cùng tiếng kêu thất thanh, có lẽ chúng bị rắn hổ hay cá sấu tấn công. Mỗi con bay về một hướng… Hòa giơ hai ngón tay lên, hẹn với vợ hai năm sau hiệp thương tổng tuyển cử, anh sẽ trở về. Chín tháng sau, bà Lịch sanh thằng Ngọc Bảo. Đêm đêm, bà ôm con, nhẩm tính từng ngày để đón chồng về. Nào ngờ… thằng Bảo mệnh yểu, mới được mười sáu tháng, trắng như hòn bột, nặng tới mười tám ký lô, tự nhiên lăn ra bệnh, sốt cao, mẩn đỏ khắp người. Nó sốt đúng bảy ngày thì mất! Lúc ấy chú Khoa, em ruột chồng, đang đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ, các bác sỹ ở nhà thương Sài Gòn không rõ Bảo mắc chứng bệnh gì. Mãi về sau này, đến những năm Bảy mươi mới biết đó là bệnh sốt xuất huyết!


Sài Gòn với Hà Nội mà muôn trùng cách trở. Bà Lịch đau nỗi mất con, xót nỗi xa chồng, sắt son chờ chồng, chăm sóc cha chồng và nuôi dạy con trai. Tiệm tạp hóa Thanh Lịch là cơ sở của cách mạng. Thực thi Luật 10/59, anh em Ngô Đình Diệm đàn áp những người kháng chiến, đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Bà Lịch bị bắt vào nhà lao vì có chồng tập kết. Không chịu chào cờ ba que1, không chịu ký đơn ly khai cộng sản, bà Lịch bị đưa đi giam giữ ở Trung tâm cải huấn Phú Lợi. Sau vụ hàng trăm tù nhân Phú Lợi bị trúng độc, Ngô Đình Diệm bị dư luận trong nước và quốc tế lên án. Nhằm xoa dịu dư luận, chính quyền Sài Gòn phải thả một số tù nhân. Bà Lịch được tự do. Ra tù, bà gián đoạn liên lạc với cách mạng. Suốt từ khi bị bắt đến năm 1964, không có ai đến tiệm tạp hóa Thanh Lịch đường Hàm Nghi bắt liên lạc! Âu cũng là quy luật chiến tranh. Cảnh giác không bao giờ thừa! Bà Lịch biết vậy nên kiên tâm chờ đợi…


Má bị bắt, Trung nghỉ học ở nhà cùng ông nội trông nom tiệm tạp hóa. Năm 1966, Trung mười tám tuổi, lén ông nội và má gia nhập biệt động thành Sài Gòn. Trung hoạt động được hơn nửa năm thì nội và má mới hay. Cuối năm ấy, bà Lịch được tin chồng đã lấy vợ hai từ năm 1964! Đau đến xé ruột, hơn đau đẻ, và tủi nữa! Cụ Nguyễn rất thương con dâu, hết lòng động viên, khuyên nhủ, phân tích lẽ phải, quấy. Nhờ vậy, bà trụ vững, nén chặt nhớ thương, kiên tâm chờ đợi chồng, thay chồng chăm sóc cha. Cách mạng, thông qua con trai Anh Trung, lại tìm đến bà, tin tưởng bà, lại dùng tiệm tạp hóa Thanh Lịch làm căn cứ. Trung chuẩn bị cưới Thiên Trang, cô bạn gái dễ thương từ khi học trung học, nay đang hoạt động trong phong trào sinh viên. Nhưng duyên cầm sắt chưa thành thì… Tết Mậu Thân 1968, Trung hy sinh trong trận tấn công dinh Độc Lập. Mới bốn chục tuổi, tóc bà Lịch trắng phớ!


Nguyễn Trung Thành sống ở Hà Nội với ba, mẹ Hải Yến và hai em Bắc, Nam. Em gái út Phương Nam chào đời ngày mười lăm tháng Tám năm 1969, khi cha của Thành đang chiến đấu trong Nam. Thành là một đứa con ngoan, học giỏi, hiếu đễ. Năm 1973, Thành tốt nghiệp Đại học Tổng hợp, khoa Hóa, anh được phân công tác tại Ủy ban Khoa học Tự nhiên. Nhưng, nghe những bài ca ra trận hào hùng trên loa phóng thanh, những bài thơ từ tiền tuyến gửi về, tình yêu Tổ quốc và ngọn lửa lý tưởng sùng sục trong lòng, Thành viết đơn tình nguyện vào Nam chiến đấu. Bà Hải Yến khuyên nhủ con, van vỉ con trai mãi, nó không nghe, nó quyết ra trận sống mái với quân thù! Thành nói với mẹ:


- Mẹ ơi, hãy yên lòng cho con đi! Anh Hai con hy sinh trong Tết Mậu Thân. Em Kinh Bắc chết vì bom B52 của giặc Mỹ, bảy ngày sau mẹ con mình mới tìm thấy xác em trong đống đổ nát! Mối thù này lớn quá trời! Ông nội con, má con, cha con đang ở miền Nam, Tổ quốc gọi, con phải lên đường! Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước!


Thời ấy, thanh niên sống với lý tưởng chói sáng trong đầu! Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, đại úy Nguyễn Trung Thành hy sinh ở bờ bắc cầu Rạch Chiếc, chỉ cách ngôi nhà nơi ông nội và má anh đang sống chưa đầy ba kilômét đường chim bay!


Thành cưới Hoàng Trúc mùa Xuân năm 1974. Trúc là con gái độc nhất của đại tá Bình, thủ trưởng của ông Hòa. Khi Thành ngã xuống ở bờ bắc cầu Rạch Chiếc, chính là thời khắc vợ anh sinh con trai, lúc 10 giờ ngày 30-4-1975, ở bệnh viện Nhi Hà Nội. Chồng, bố đẻ và bố chồng đều vào chiến dịch Tổng tấn công mùa Xuân 1975, Hoàng Trúc tự đặt tên con là Nguyễn Quốc Thăng.


Hai anh em Trung, Thành xả thân vì nghĩa lớn, may mắn sao Thành đã kịp để lại cho cha mẹ đứa con trai nối dõi tông đường! Thằng Thăng là cháu đích tôn của ông Hòa. Thăng thông minh nhưng lười học, ham chơi. Ông Hòa, bà Lịch vô cùng thương cháu mồ côi cha, má đi bước nữa, gặp cha dượng chẳng ra hồn người: say xỉn tối ngày, thường xuyên đánh đập vợ con tàn nhẫn. Hoàng Trúc thuộc loại mỏng mày hay hạt, nhưng phải cái chứng khó mà sống thiếu đàn ông. Chồng hy sinh chưa được đầy một năm mà Trúc đã héo hắt, má hóp, môi trắng nhợt, duy có bóng mu u yếm là vẫn mây mẩy, bộ ngực chỉ chực bật ra khỏi xu chiêng và tia nhìn thì lúc nào cũng lóe lên niềm đói khát dục tình. Làm giỗ đầu cho liệt sỹ Nguyễn Trung Thành xong, Trúc đi bước nữa. Chồng Trúc tên Trà, người Quảng Bình. Hồi chiến tranh phá hoại, Mỹ ném bom, bắn pháo hủy diệt Quảng Bình. Bởi thế, con em tuyến lửa được ưu tiên vô đại học, ưu tiên ra nước ngoài học. Thế nên tuy rằng chả thông minh tí nào mà Trà cũng giật được mảnh bằng tiến sỹ ở Lômônôxốp. Về nước, đất nước hòa bình, thống nhất, vậy mà chả nơi nào thèm nhận tiến sỹ Trà vào làm việc. Của đáng tội, cũng có nơi nhận, nhưng chỗ đó ôi, Trà không thèm! Đúng lúc vất va vất vưởng thì Trà gặp Trúc đang nhìn mình như muốn ăn tươi nuốt sống, muốn cùng Trà lên giường ngay tức khắc. Trà biết Trúc đã một lần đò, có con trai hai tuổi. Gái một con… lại khát dục, Trúc chiếm được Trà bằng tình hay bởi cái lon thiếu tướng của bố Trúc khiến Trà hy vọng? Muôn đời nay là thế, người ta lấy nhau một là vì tình (hơi hiếm!), hai là vì tiền hoặc những thứ như quyền lực, danh vị… để có thể từ đó mà kiếm ra tiền. Thế là lấy nhau, từ lúc giáp mặt lần đầu tới lúc rước Trà về nhà mình, lên giường mình, vẻn vẹn năm ngày! Hà Nội ngày ấy còn xo xúi trăm bề, cuộc sống nhếch nhác lắm! Họ làm đám cưới với sáu gói chè Hương Sơn quá đát, một cây thuốc Trường Sơn hơi bị mốc và hai cân bánh quy ỉu xìu, cho qua chuyện, rồi rinh nhau vô Sài Gòn. Đó là mùa khô năm 1977. Biết tin ấy, bà Lịch thương cháu Thăng muốn nát gan đứt ruột, bỏ cơm ba ngày, không ngủ ba đêm, rồi đùng đùng tới nhà con dâu cũ bứng cháu nội về. Một sự tính toán thoáng nhanh trong đầu viên tiến sỹ thất nghiệp. Trà hiểu rằng, còn thằng Thăng thì gia đình bà Lịch còn phải gửi tiền cung phụng cho nó! Thế là Trà ra điều thương thằng Thăng, trả lời bà Lịch, giọng chắc như cái bàn ủi Nga mà Trà thường buôn về:


·            - Con của vợ thì cũng là con của cháu! Cháu sẽ nuôi thằng Thăng nên người, vì cháu rất thương Hoàng Trúc! Bác không phải lo!


Trúc nghe Trà nói, lòng rưng rưng muốn khóc! Cô giữ chặt con, không cho bà Lịch ẵm, nhưng rồi tỏ ra thông cảm với cựu má chồng:


·            - Má yên chí đi, con còn thì thằng Thăng không khổ đâu, má lo chi cho bạc tóc!


·            - Tóc má còn sợi nào đen mà bạc! Con ơi, nghe má, để má nuôi thằng Thăng! Tụi bay còn trẻ, còn phải bay nhảy mần công chuyện, chớ con mọn thì bó chân bó cẳng mần ăn sao đặng!


Hai người đàn bà nói qua nói lại cả buổi chiều, không ai chìu ai. Cuối cùng, Trúc nhượng bộ cho con về ở với ông bà nội một tháng rồi đón về.


Mãn hạn một tháng, bà Lịch phải đem trả con cho Trúc. Vừa gặp cựu con dâu, bà Lịch ngỡ ngàng muốn la rầm trời khi thấy nó như vừa được lột xác, đỏ da thắm thịt như có phép tiên! Thật đúng là gái phải hơi trai như thài lài gặp c…t chó! Các cụ nói linh thiệt!


Thế mà cái sự tốt xổi của đám thài lài ấy không dài!


Một tháng sau khi vợ chồng Trúc vô Sài Gòn, nhờ bố của Trúc, nhờ ông Hòa tác động, họ làm được hai chuyện tày đình mà dễ cứ như bỡn: nhập hộ khẩu và được cấp nhà! Duy có việc làm, nghề ngỗng thì trầy trật. Trúc được làm nhân viên bưu điện, còn chồng vẫn thất nghiệp! Ăn hoài mà hổng làm thì núi cũng lở! Trúc đã bao lần phải chạy đến xin bố mẹ đẻ, nhưng lương bổng ông thiếu tướng có là bao mà bòn mãi kia chứ. Chàng tiến sỹ phần thì do ăn chơi quen rồi, phần thì thất nghiệp hoài cũng ngượng với vợ, thế là lấy rượu làm cơm để quên sầu. Vừa uống Trà vừa ca ư ử trong cổ như con chó đực vừa bị thiến, cầm trong cũi:


Chơi cho biết mặt sơn hà


Cho sơn hà biết ai là mặt chơi 1


Ngày nào Trà cũng khát rượu, Trúc đi làm về là Trà đòi tiền mua rượu. Để yên cửa yên nhà, Trúc phải chiều Trà. Rồi thì cãi nhau, rồi thì choảng nhau. Sau những cuộc oánh lộn, Trà lại dỗ dành. Trà biết cái gót chân Asin của Trúc là luôn luôn khát khao được rên, được run rẩy, được hổn hển rướn cong mình bật lên tanh tách dưới thân thể hộ pháp của Trà… Trúc lại chiều chồng. Cô cầu cứu ông bố thiếu tướng:


·            - Bố ơi! Bố tìm việc cho chồng con. Chỉ có việc làm thì mới cứu được anh ấy, mới cứu được hạnh phúc gia đình con!


Ông thiếu tướng ra tay, nhưng nơi nào người ta cũng chỉ hứa hẹn cho qua chuyện, để rồi sau đó thì lắc đầu thật sự. Đường cùng, Trúc phải gặp ông cựu bố chồng:


·            - Con xin ba giúp con! Anh Trà có việc làm thì thằng Thăng mới đỡ khổ!


Thương cháu, ông Hòa quyết tìm việc cho chồng của cựu con dâu. Hòa cho đệ tử đi gõ cửa cả chục nơi, nơi nào cũng nói: Vì nể đồng chí Hai Sài Gòn nên chúng tôi mới nhận chứ cơ quan không có nhu cầu, nhưng liệu anh Trà có đồng ý làm nhân viên lao công hoặc nhân viên bảo vệ?


- Đời nào! Quyềnh quàng một ông tiến sỹ chứ có phải c…t đâu mà nó bảo tao làm bảo vệ? - Tiến sỹ nhậu quát ầm lên như thế với vợ.


Tiến sỹ nhậu đã ực đã khà hết cả tivi, xe Honda, tủ lạnh… Không biết sơn hà đã biết Trà là mặt chơi hay chưa, nhưng mà ai cũng biết Trà oánh con thâm tím mặt mày. Không biết bao nhiêu lần Trà oánh vợ như đòn thù, có lần suýt gãy tay. Kẻ đang say lại bị vợ tiếng bấc tiếng chì thì tức điên lên, họa có là ông Trời cũng không nhịn nổi! Khi điên rồi, Trà oánh dữ dội, bất kể con hay vợ! Đám rau thài lài khi xưa tốt lợp chả được mấy nả, nay lại héo hắt xơ xác. Sự héo và xơ này có phần thê thảm hơn trước rất nhiều!


Trúc thương nhất thằng Thăng. Thân mình kể như… bỏ! Nhưng thằng Thăng nó có tội tình gì hả Trời! Mấy lần Trúc tính đưa con về gửi bà Lịch, nhưng bị Trà cấm đoán, đe dọa… Trúc đi vắng là cha dượng để thằng Thăng đói triền miên.


Sự việc tồi tệ ấy kéo dài hai năm. Tiến sỹ nhậu bị sưng gan, mỗi ngày phải hút ra gần ba xị nước đùng đục, vàng khè khè! Ông bà nội của Thăng tìm mọi cách đón cháu về. Từ đó, họ muốn bù chì1 cho thằng bé đến mức họ quá nuông chiều cháu mà không biết. Cụ Nguyễn nhiều lần nhắc nhở các con phải biết cách chiều chuộng, nếu không thì hư thằng chắt đích tôn của cụ. Nhưng nào có ai nghe! Không có sai lầm nào tai hại hơn sự nuông chiều con cháu vô mực vô thước. Thằng bé ham chơi, mới học lớp tám đã uống được rượu, uống bia đua với ông nội! Những lúc vắng ông bà nội, nó phì phèo thuốc lá! Mười sáu tuổi, Thăng bị bắt vì tội đua xe cán chết người. Ông Hòa, bà Lịch phải chạy chọt cho cháu… Nhưng, chứng nào tật ấy. Thăng trở thành nỗi đau, như là nghiệp chướng của gia đình cụ Nguyễn.


(còn tiếp)


Nguồn: Cõi mê. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Hội Nhà văn. In lần đầu năm 2005; in lần thứ sáu năm 2013.


www.trieuxuan.info








1 Nước Sở thuộc Trung Hoa cổ.




1 Tam bất: Ba không: Nghèo khổ không dời chuyển ý chí, phẩm cách. Giàu sang không vô độ. Trước uy quyền không khuất phục.




1 Bản dịch của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm: Thánh Thán khôn tìm, khói hương lạnh lẽo/ Hoa Đường xa vắng, tườngvách tiêu điều/ Nên phải lượm lặt những mảnh tàn biên/ Để mà cống hiến các bạn đồng chí/ Truyền hình vẽ bóng thâu nhị hái hoa.




1 Cờ của chế độ Sài Gòn màu vàng, ba sọc đỏ.




1 Thơ Tản Đà.




1 Bù chì, cũng còn nói bù trì.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »