tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21054376
30.11.2013
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (15)

XUÂN DIỆU - DIỄN GIẢ THƠ


 


Xuân Diệu - nhà thơ và cũng là diễn giả tài năng và hấp dẫn về thơ. Trong những lần gặp, tôi thường được nghe Xuân Diệu kể về những buổi nói chuyện của mình với công chúng. Xuân Diệu nói chuyện về thơ Hồ Chí Minh, Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến và chủ yếu là thơ Xuân Diệu. Ông quan niệm nói chuyện là một hoạt động truyền bá và giao cảm về thơ với công chúng. Xuân Diệu nói: “Mỗi cuộc nói chuyện là một trận đánh”. Phải chuẩn bị thật chu đáo về mọi mặt từ tâm trạng của diễn giả trước khi nói cho đến hội trường, ánh sáng. Phải tránh những chuyện bực mình, căng thẳng , buồn bã. Như một người đi xe đạp leo dốc, nếu không chuẩn bị đà thì xe dễ bị dừng lại ở giữa dốc. Cho đến việc có được một nụ cười, một tràng vỗ tay của người nghe diễn giả cũng phải chuẩn bị từ trong câu chuyện. Rất có thể với lớp công chúng này thì câu chuyện ấy được đón nhận vui cười, nhưng ở một hoàn cảnh khác có thể lại bị thờ ơ. Và ngay cùng một công chúng quen thuộc, thái độ tiếp nhận của họ rất khác nhau. Phải chuẩn bị nếu họ biểu hiện dấu hiệu chán nản thì phải thay đổi món ngay. Xuân Diệu có nhiều sở trường và dự trữ. Bù đắp của những buổi nói chuyện thật là lớn lao, nào là những tràng vỗ tay, ánh mắt tinh thần ngưỡng mộ, những lời chào hỏi vồn vã yêu mến của công chúng là vô giá”.


Một lần tôi đến thăm ông, trên bàn ông còn để một tấm áp phích của công nhân gang thép Thái Nguyên: “Hoan nghênh nhà thơ Xuân Diệu đến với anh em gang thép Thái Nguyên”. Xuân Diệu giới thiệu, kể lại về buổi nói chuyện: “Hàng nghìn anh em công nhân lặng im nghe chăm chú, mình như một ông tướng, cầm quân không được một phút trùng xuống mà căng thẳng, dồn nén hấp dẫn cho đến khi kết thúc. Các nhà máy khác cũng chào mời để mình đưa vào kế hoạch. Nói chuyện xong, thường theo phong tục Việt Nam là có quà cho khách. Chuyến đi nói chuyện ở nhà máy gỗ Yên Bái, ban giám đốc đã tặng mình một tủ chè loại gỗ quý”. Ông chỉ tủ gỗ và bảo: “Đang còn mộc, mình sẽ cho trang trí sau”. Một lần khác, ông đi nói chuyện ở Trường Đại học Nông lâm về và được biếu một con ngỗng to. Xuân Diệu bảo: “Mình ngại vì chỉ sống có một mình làm sao giải quyết được con ngỗng to này. Nhưng họ cố nài là cây nhà lá vườn của cơ sở chăn nuôi”. Tôi nói với ông: “Nếu lần sau có gà to, ngỗng to anh cứ đưa đến quay tại Hàng Buồm, rồi lấy về một phần”. Ông cười: “Thầy giáo này ở Hàng Ngang nên có kinh nghiệm ăn uống lắm”. Một lần khác ông đi Hà Tây về và cũng khoe: “Mình được biếu bốn năm cân mơ chùa Hương. Mang cũng nặng nhưng là lộc đất chùa thành phải cố”. Xuân Diệu đi nói chuyện như tìm đến nguồn giao cảm với quần chúng. Ông thích chuyện trò với nhiều đối tượng, mỗi đối tượng lại có những đáp ứng riêng cho phù hợp với người nghe. Ông muốn thơ hay đến với mọi người, nếu không phải lời bình thì cũng thưởng thức bài thơ và giọng ngâm. Một lần trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ tôi cùng ông đi tham dự một cuộc họp ở Trường Đại học Sư phạm Vinh sơ tán tai vùng rừng núi Thanh Hóa. Buổi trưa Xuân Diệu không nghỉ, anh tìm đến anh chị em cấp dưỡng và đọc thơ. Ông nói: “Anh chị tặng mình thức ăn ngon miệng mình phải có quà tinh thần đáp lại”. Mọi người hoan nghênh nhà thơ Xuân Diệu. Trong cuộc hội thảo, Xuân Diệu phát biểu và được mọi người tiếp nhận hứng thú. Anh là nhà thơ nổi tiếng và ở vào tuổi trên năm mươi, giọng tốt và có bản sắc âm thanh riêng, tóc bồng bềnh và dáng đi cũng hơi khác biệt. Tôi nhớ cử tọa ngoài thầy cô giáo và sinh viên khá đông còn có quan chức cỡ thứ, bộ trưởng. Xuân Diệu phân tích câu thơ của Hồ Xuân Hương:


Đương cơn nắng cực lại mưa tè.


Ông bảo: “Phải có bản lĩnh lắm mới dùng được hai chữ mưa tè”. Xuân Diệu đứng nói lim dim mắt và giơ tay về phía trước chỉ vào công chúng đáng kính và nói: “Chỉ có ông trời và trẻ con mới dám tè thôi. Mưa tè là mưa to, cơn mưa đến lúc người ta đang khao khát, đang cơn nắng cực nên đọc chỉ ngôn từ thế đã thấy khoan khoái, nhẹ người”. Nói chuyện trước đám đông, Xuân Diệu muốn có sự đồng điệu đồng cảm. Ông không thích có kèm người đàn, người ngâm. Xuân Diệu muốn độc diễn vì khả năng đọc thơ diễn cảm và ngân vang của ông. Ông muốn thu hút sự chú ý toàn diện của người nghe. Có lần trong một buổi nói chuyện, có mấy chị nữ giáo viên chuyện trò riêng và thỉnh thoảng lại nhìn ra cảnh phố xá. Xuân Diệu nói vui: “Xin các chị đừng ngoại tình để nội tình mất trật tự và bối rối”. Xuân Diệu hay đi thực tế và đi đến đâu ông cũng cố làm hai việc: một là nói chuyện với địa phương, hai là đáp nghĩa lại một bài thơ, nhất là với những miền quê có phong trào điển hình tiêu biểu. Cảm hứng về đất nước thấm sâu vào ông qua những chuyến đi thực tế. Ông không đi lâu, chỉ ba bốn ngày nhưng đi nhiều nơi vì hoàn cảnh riêng cũng ít bị ràng buộc và ông thực sự tìm thấy niềm vui của cuộc đời sau những chuyến đi. Khi miền Nam được giải phóng, Xuân Diệu viết bài thơ Tôi muốn đi thăm khắp cả miền Nam, những miền quê quen thuộc, những bà má, những người thân quen. Ông có những ý thơ xúc động:


Trái tim tôi: một cái túi tràn trề


Hột lúa, hột mê, hột bông, hột cải


Lòng tôi chứa mà hồn tôi thì vãi


Gió bay họt cải rơi lại trong vườn…


Xuân Diệu xúc động với ánh nắng mặt trời phương Nam khi vừa xuống sân bay, với hương vị quả chanh, quả bưởi, với tiếng bà má gọi thân yêu thằng Hai. Và Xuân Diệu lại làm một cuộc hành trình của một diễn giả được công chúng yêu mến đã trở về sau nhiều năm xa cách. Ông kể cho tôi nghe nhữn chuyến đi nói chuyện ở miền Nam. Đến với Đà Lạt, Xuân Diệu say sưa trong buổi nói chuyện được tổ chức trang nghiêm. Xuân Diệu tặng tôi tấm ảnh ông đang giơ cao tay để diễn tả một ý thơ. Phía sau diễn giả là hình ảnh ngọn quốc kỳ treo cao. Xuân Diệu cũng kể về gian nan qua những chuyến đi: Có một lần ông về nói chuyện ở một trường học. Mọi lần qua sông rạch, bị cạn, thuyền phải đẩy. Một thầy giáo cấp II tự nguyện xuống đẩy thuyền cho nhà thơ Xuân Diệu. Nước xâm xấp đến gần đầu gối. Thầy giáo nói với Xuân Diệu: “Em quý trọng và yêu mến nhà thơ Xuân Diệu nên sẵn sàng phục vụ. Nếu không phải nhà thơ thì đến bộ trưởng em cũng không làm việc này”. Xuân Diệu kể lại với giọng cảm động và bảo khi được công chúng yêu mến thì nhà thơ là một ông hoàng không có tước. Câu chuyện gian nan vẫn chưa hết. Ông kể, một lần về Quy Nhơn nói chuyện, sau đó ra đi tàu đêm. Mọi người tiễn ông nhưng không có ai tháp tùng. Xuân Diệu bước vào toa tàu thì mất điện. Tàu đông, người và hàng hóa ngổn ngang và nhà thơ không đi được. Xuân Diệu nói to: “Ai đó làm ơn chỉ cho tôi lối vào”. Chỉ một lần được nghe Xuân Diệu nói chuyện, một anh đã nhớ giọng ông và nói: “Xin nhà thơ cứ đứng đó em sẽ ra đón vào”. Trong cái cảnh “Đêm trường dạ tối tăm trời đất” như Xuân Diệu nói, ông được đưa vào giữa toa và ngồi tạm trên một bao gạo. Xuân Diệu bảo: “Thế là tốt, mọi việc xong xuôi và mình nghĩ, anh nhà thơ trong hoàn cản nào cũng có người yêu mến, cứu giúp”. Nghe chuyện, tôi cảm động và cũng không hỏi thêm hoàn cảnh đi lại khó khăn như thế nào mà để nhà thơ vất vả.


Đi vào bếp núc của việc nói chuyện thơ, Xuân Diệu cũng có kinh nghiệm riêng. Tôi cũng thường hay đi nói chuyện nhưng thường vào dịp lễ lạt hoặc theo đặt hàng và ở những nơi gần. Tôi cũng hay hỏi chuyện ông về kinh nghiệm cụ thể. Ông cho biết: “Chủ yếu là phải giữ cái họng, cái dây tơ của thanh quản cho tiếng trong và ngân. Không nên uống nước ngọt hoặc bia pha đá trong khi nói. Cũng phải thận trọng với các nước hoa quả. Nước mình có nhiều loại cam, nhưng cam ngọt thì rất hiếm”. Một lần Khoa Văn mời ông nói chuyện và sinh viên vắt những quả cam to loại cam bưởi Hà Tây mời khách, Xuân Diệu nhấm qua và lắc đầu, ông cũng bảo: “Phải chú ý đến thời hạn của các chai bia và nước ngọt. Có khi quá hạn hàng năm đem phục vụ cho diễn giả thì dễ tan cuộc nói chuyện. Ông đi nói chuyện nhiều nhưng không đòi hỏi gì, không nhận phong bì và có thể nhận chút quà thành tâm của địa phương”. Ông tâm sự: “Đi nói chuyện là được cho người nghe và cũng được cho mình”. Đã từ lâu trên các diễn đàn văn nghệ đã vắng tiếng nhà thơ Xuân Diệu. Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi đều nói hay nhưng không chuyên chú. Thế hệ sau cũng ít người có duyên nói và đầu tư nhiều vào khu vực này. Chưa ai sau đó gây được ấn tượng như ông. Xuân Diệu quý mến, nghề nói chuyện văn thơ ngày nay cũng khác rồi. Văn chương không còn vị trí chân chính mà nhiều người nghe thích chuyện giải trí cùng với các loại hình nghệ thuật mọc lên như nấm trong nền kinh tế thị trường. Vả lại, thế giới từng ngày diễn ra bao chuyện từ động đất, sóng thần, khủng bố thu hút sự chú ý của nhiều người và họ cũng muốn được hiểu biết lắng nghe những chuyện quan trọng và hấp dẫn ấy. Một hội trường hàng ngàn người có thể tập trung và chăm chú nghe nhạc Trịnh Công Sơn, nhạc rốc, “Sao Mai điểm hẹn”, rồi nghe chuyện sóng thần, chuyện khủng bố, khủng hoảng kinh tế,… hơn là nghe một nhà thơ độc diễn tiếng đàn thơ của mình.


Đã có thời nhà thơ cách mạng đọc thơ trên quảng trường cho hàng trăm người nghe, có diễn giả nhà thơ nổi tiếng thu hút hàng ngàn người nghe ở câu lạc bộ. Nhưng ngày nay thơ phải cạnh tranh với những hoạt động tinh thần nhiều màu sắc khác, liệu thơ giữ được nguyên ngôi vị? Vị trí của thơ được luận bàn không riêng gì ở Việt Nam. Thực ra trên thế giới đã có một ngày thế giới về thơ (21-3), một Viện Hàn lâm thơ thế giới (Huy Cận được bầu là một thành viên). Tuy nhiên, chiều hướng thơ thế giới mất dần vị trí linh thiêng là tiếng nói cao đẹp của tâm hồn mà dần trở thành xa lạ, bị xếp vào loại “ảo tưởng tinh thần và chỉ chiếm vị trí bên lề xã hội” (Tan Kexim - nhà thơ Trung Quốc). Hoặc có tình trạng ngược lại như ở Mỹ “là sự hồi phục bất ngờ và quy mô rộng lớn của hình thức thơ quần chúng phát triển chủ yếu ngoài lề giới văn học như rap, slam, thơ cow boy”( ). Loại thơ này gắn với tài dàn dựng, nghệ thuật biểu diễn giỏi, độc diễn và tạo ngẫu hứng. Loại thơ quần chúng này dần tạo nên “cái chết của văn bản viết”. Người thưởng thức không đọc mà nghe, xem kết hợp với các hình thức biểu diễn nghệ thuật, múa, ca nhạc. Nếu còn sống và hoạt động Xuân Diệu cũng không thể hòa nhập với các hình thức này vì ông là một diễn giả thơ chứ không phải là diễn viên của một trò diễn. Nhưng thơ vẫn tồn tại và có những cách biểu hiện và tiếp nhận riêng của nó. Nói như nhà thơ Đức, Hans Magnus Enzensberger cũng cho thơ tồn tại mãi, nó là nghệ thuật trong tầm tay với của mọi người, không gắn với chi phí sản xuất lớn, không chịu sức ép to lớn của thị trường nên tự do hơn. Như một loài cỏ không thể trử bỏ nó hoàn toàn, không thể kiểm soát được nó.


 


XUÂN DIỆU VÀ NHỮNG TÀI NĂNG THƠ CA


 


Người ta thường nói: “Văn nhân tương khinh”. Đó là chuyện khen chê thường thấy ở một số nhà văn nhà thơ. Hoạt động sáng tạo nghệ thuật thường gắn sâu với chủ thể sáng tạo nên dễ chủ quan. Ngay nhiều nhà văn lớn trên thế giới cũng không dễ chịu nhau về tài năng, thị hiếu. Xanhtơ Bơvơ không thích Bandắc vì nghệ thuật chưa tinh vi. Víchto Huygô rất thích Satôbriăng mặc dù nhà văn này cũng không được dư luận hoàn toàn tán thưởng. Có yêu, có thích văn chương mình thì mới sáng tác được. Cũng như nói “văn mình vợ người” chắc là không đúng về ý nghĩa đạo lý nhưng có thể có căn cứ ít nhiều khi so sánh cái gần gũi và sự khác lạ. Còn về văn chương thì đúng là tự đánh giá cũng dễ chủ quan. Xuân Diệu là nhà thơ số một trong phong trào Thơ mới, tác giả của gần năm chục công trình sáng tác thơ văn và nghiên cứu văn học, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Cộng hòa dân chủ Đức. Xuân Diệu tự đánh giá mình, có lúc khiêm nhường, có lúc tự khẳng định vị trí và phần đóng góp quan trọng của mình. Đó cũng là điều tự nhiên. Có lần đến thăm ông, khi chuyện trò về những từ điển văn thơ trong Nam ngoài Bắc viết về các nhà thơ, Xuân Diệu, Huy Cận là những nhà thơ “tiền chiến” được ca ngợi và chiếm nhiều trang sách nhất. Trong các công trình nghiên cứu về thơ cách mạng thì Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên,… được chú ý nhiều. Hai chặng đường thơ là một phép cộng, là những chùm quả chín của hai mùa thơ trước và sau Cách mạng. Tôi bày tỏ lời ca ngợi, và Xuân Diệu im lặng một lúc rồi nói: “Lịch sử vài chục năm sau không dễ lại rặn được một cặp như mình và Huy Cận”. Câu nói ấy đã nói ra trên hai chục năm. Xuân Diệu đã mất qua hai mươi năm. Huy Cận sắp đến giỗ đầu. Đúng là những tài năng lớn là của lịch sử, không dễ lặp lại, không dễ thay thế.


Với những nhà thơ cổ điển của dân tộc, Xuân Diệu đem toàn bộ tâm sức để đánh vật cho được hết nhà thơ này đến nhà thơ khác, với lòng thành kính và mến yêu tài năng: Từ Nguyễn Trãi - tài năng lớn của thơ ca dân tộc: “Người rất cứng cỏi là Nguyễn Trãi mà người rất mềm mại cũng là Nguyễn Trãi”; đến Hồ Xuân Hương - Bà Chúa Thơ Nôm: “Lòng Hồ Xuân Hương là lửa, tay Hồ Xuân Hương có điện nên các chữ đều sống cả lên”; rồi đại thi hào Nguyễn Du là thiên tài mà ông hết lòng ca ngợi: “Ở trên đời này cái văn dở là vô hạn, mà cái văn hay cũng là vô cùng. Như đứng trước cảnh đẹp tả thế nào cũng không bằng, như ngồi trước mỹ nhân biết làm sao mà khen ngợi như một tình yêu mênh mông tràn ngập lấy lòng người mà nói hết được hay chỉ ấp úng thôi”. Nguyễn Khuyến nhà thơ của làng quê, rồi Nguyễn Đình Chiểu, Tú Xương. Xuân Diệu có một phương pháp riêng trong nghiên cứu. Ông quan niệm cái hay sẽ tụ lại những bài thơ tiêu biểu. Từ đó truy tìm ra phong cách, tài năng và Xuân Diệu đã tạo hiệu quả. Trong những nhà thơ nước ngoài ông bày tỏ lòng cảm phục nhiều tài năng thuộc nhiều thế hệ, từ Bôđơle, Aragông, Êluya và gần gũi hơn là Pablô Nêruđa, Nadim Hítmét. Xuân Diệu thích Nadim Hítmét vì cảm thấy chất đời trong thơ phong phú và chất thơ được phát hiện tinh tế trong cuộc đời cho dù bề bộn. Nêruđa sang trọng và kiểu cách hơn. Xuân Diệu cũng rất quý trọng Blaga là một nhà thơ nữ giàu tình cảm, chị lại có cả cái chí nên thật sự nổi trội.


Với các nhà thơ trong nước, ông ít bày tỏ sự khen chê trực tiếp. Về Huy Cận, gần như tôi chưa nghe một lời chê nào của Xuân Diệu về Huy Cận và ngược lại. Thỉnh thoảng khi khen một người, thì chỉ nghe một người nói thêm: “Đó cũng là ưu điểm của cả Huy Cận và Xuân Diệu”. Với Chế Lan Viên, Xuân Diệu rất quý trọng tài năng của Chế Lan Viên nhưng dường như hai người hay vướng vất một điều gì khác ý nhau. Trong một số cuộc họp mà tôi có dịp được tham dự khi có cả hai anh thì thường ý kiến đôi khi trái ngược. Xuân Diệu nói nhiệt tình, có khi vung tay nói to. Chế Lan Viên bình tĩnh, triết lý rành mạch và tạo hiệu quả hơn. Trong một lần trò chuyện tại nhà, ông nói với tôi: “Mình không hiểu sao, rõ ràng mình có lý, nhưng tranh luận một hồi lại thua Chế Lan Viên. Cậu ấy nói như người múa gươm sáng lóa còn mình thì không diễn tả hết được cảm xúc và ý nghĩ của mình. Ngày xưa khi cậu ấy ra tập thơ đầu Điêu tàn với mình cậu ấy còn khép nép vì mình nhiều tuổi hơn và nổi tiếng sớm hơn”. Xuân Diệu mở tủ tìm cuốn Điêu tàn cho tôi xem. Đó là một cuốn sách in khổ nhỏ, chữ in dày trong đó có lời tặng của Chế Lan Viên “Anh Xuân Diệu, sách của em đây. Anh nhận cho em, anh. Quy Nhơn, ngày 01-5-1938”. Xuân Diệu cười vui: “Ngày xưa thì cậu ấy anh em với mình, bây giờ thì cậu ấy làm ghê quá”. Nói thế rồi chuyện cũng qua đi nhanh chóng. Xuân Diệu lại khen chê với tình cảm bình thường. Thực ra đây là hai tài năng lớn trong thơ hiện đại, hai người có quan điểm sáng tác thi ca riêng, có vốn kiến thức lớn văn hóa văn học, nên cũng có trái ý nhau.


Trong các nhà thơ mới, Xuân Diệu nói đến Tế Hanh với nhiều ưu ái. Ông nói vui: “Tế Hanh là một nước trung lập nhỏ nên cũng ít bị ai cất quân xâm chiếm. Thơ Tế Hanh hay, tinh tế nhưng dòng hẹp. Đó không phải là dòng sông lớn mà chỉ là con suối róc rách, không bao giờ khô cạn, trong trẻo và gợi cảm”.


Nhận xét về các tài năng trong thơ cổ điển cũng như hiện đại, trong cũng như ngoài nước, Xuân Diệu luôn trân trọng, tìm hiểu, phát hiện và ngợi ca những đóng góp, sáng tạo của các nhà thơ. Ông hiểu rõ vị trí của mình - một nhà thơ lớn của nền thơ Việt Nam hiện đại. Ông hiểu rõ tài năng và sức sáng tạo dồi dào và những giới hạn của một đời thơ. Tuy nhiên, Xuân Diệu vẫn luôn khiêm tốn học hỏi trong suốt cuộc đời mình: “Tôi là học sinh của nhiều nhà trường, mãi mãi tôi vẫn là học sinh. Dù vậy tôi đi trên đôi chân của mình và điều cơ bản nhất mà thơ tôi hiến cho bạn đọc là những giọng điệu của tôi, là tâm khảm, là linh hôn tôi( ).


 


 


NHÀ THƠ XUÂN DIỆU NÓI VỀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO


CHẤT LƯỢNG TRONG THƠ


 


Ngày 24-2-1977


Tôi viết bài Nâng cao chất lượng của thơ sẽ đăng báo Văn nghệ. Vấn đề hóc búa lắm, nhiều phạm trù quy luật cứ lẫn vào nhau, người anh hùng và bài thơ viết về người anh hùng, hai cái khác nhau lắm, không thể dựa vào cái này mà không nỗ lực sáng tạo. Có lần tôi nói với Tố Hữu là nếu không khéo thì rồi ta thua các cụ. Bài thơ Thu điếu tám câu, mà đủ hết không bỏ được chữ nào. Còn thơ bây giờ thì được cái tư tưởng, ngoài ra không có gì hết - mà tư tưởng lại là của Đảng, nghĩa là phần của nhà thơ không có gì. Những tập thơ gần đây của các tác giả, kể cả lớp trước đều hơi yếu (Nông Quốc Chấn, Nguyễn Viết Lãm,Tế Hanh). Nói hơi yếu là nói nhẹ, nói dè dặt cũng như nói tàu của ta hơi chậm thực ra thì rất chậm đến ì ra. Phải phân tích cho ra chỗ hạn chế. Ngay như bài Khúc hát người anh hùng của Trần Đăng Khoa cũng có người quá khen. Hoàng Ngọc Trì nói như là thơ Nguyễn Du. Thực ra thì bài thơ viết khéo quá. Tố Hữu bảo, Trần Đăng Khoa nó làm xiếc. Mình có viết thư bảo Khoa. Khoa nhận rằng làm thơ cho thật khó quá. Nhân nói về cái thật của thơ, tôi cắt ngang ý Xuân Diệu và khen một số bài thơ miền Nam của Xuân Diệu viết sau giải phóng như Tôi muốn đi thăm khắp cả miền Nam, Quâ ngoại, vừa thật, vừa có tình sâu. Xuân Diệu bảo: “Nếu đọc được thì công nhà thơ chỉ một phần thôi mà là công của sự sống mà mình có dịp trực tiếp cảm nhận khi được trở về sau bao năm xa cách. Mình còn mắc nợ với miền Nam. Miền Bắc làm quá nhiều rồi. Chất liệu, hình ảnh, con người miền Bắc nói kỹ, nói nát ra trong thơ rồi. Mình là anh Bắc Kỳ rồi. Phải đến lúc viết về miền Nam. Sắp tới tôi sẽ đi miền Nam ba tháng, đi Lục tỉnh, về các vùng đồng bằng. Sài Gòn dành cho các nhà tiểu thuyết. Ở Sài Gòn thấy khó viết, gặp ai thấy họ đang như chiếc bách giữa dòng, một số đã nhận được vào quy luật và guồng máy cách mạng, còn một số thì còn bị xô đẩy. Mình chỉ còn mấy năm nữa, phải viết về miền Nam”.


Nói về Nhà xuất bản Văn học và việc xuất bản sách, Xuân Diệu nói: “Chuyện mình xuất bản thơ ở nhà Văn học, Như Phong có bản lĩnh nhưng cũng không hiểu nhiều về thơ. Và quan trọng là anh chị em phụ tá. Phải có một đội ngũ chuyên viên tinh thông công việc: Nhà xuất bản văn học phải là nơi lui tới tin cậy, là bà đỡ cho các tác phẩm văn nghệ”.


 


 


CÁC CHỊ Ở VIỆN VĂN HỌC ĐẾN THĂM NHÀ THƠ XUÂN DIỆU


 


Ngày 25-11-1978


Xuân Diệu vừa đi Hungari về cùng với chị Thiếu Mai. Hungari là nước anh yêu thích, vì theo nhà thơ, Hung là đất nước tươi đẹp và thành phố Buđapét được xem như một Pari thu nhỏ. Hungari có hồ Balaton, thiên nhiên thơ mộng. Đây cũng là đất nước có truyền thống văn hóa. Chỉ riêng nhà tư tưởng mỹ học Lucát và nhà thơ Pêtôphi cũng cho chúng ta nhiều kinh nghiệm học tập. Các chị Tôn Phương Lan, Mai Hương, Bích Thu lần đầu tiên đến thăm Xuân Diệu nên còn bỡ ngỡ ngại ngùng. Tôn Phương Lan gọi Xuân Diệu là bác, Xuân Diệu có ý không bằng lòng vì nhà thơ gần tuổi sáu mươi  trông còn sức vóc và tươi trẻ, còn các chị bên Viện cũng khoảng gần ba mươi. Độ chênh không quá lớn và để câu chuyện giao lưu được nhẹ nhàng nên Xuân Diệu bảo: “Thôi cứ gọi anh em cho dễ nói chuyện. Cũng còn ở tuổi thanh xuân cả, nhất là với nhà thơ tình”. Bích Thu nói: “Thơ tình cho mọi lứa tuổi và nhà thơ tình trẻ mãi không già”. Xuân Diệu cười vui: “Đúng thế, nếu có già thì thuộc phần thân xác còn tâm hồn vẫn trẻ mãi”. Mở đầu, Xuân Diệu đọc một số bài thơ tình. Ông dừng lại phân tích trạng thái tương tư trong một số bài:


Sớm trông mặt đất thương xanh núi,


Chiều vọng chân mây nhớ tím trời.


rồi đến những câu:


Nước chảy lơ thơ bờ lúi ríu


Mây chừng đó có, gió bao nhiêu.


Xuân Diệu nói: “Phải có biến hóa tài tình trong thơ tình. Cũng chỉ có các phạm trù thương nhớ, mong, đợi, tương tư, hạnh phúc, thất vọng nhưng ở mỗi phạm trù lại chia ra nhiều trạng thái. Cũng là chuyện tình yêu cụ thể mà Xuân Diệu lại mở ra và đẩy nó vào phạm trù thiên nhiên, vũ trụ, tạo vật nhưng rồi vẫn là rất người. Hôm nay các chị muốn hỏi tôi về chuyện tuyển chọn thơ để làm tuyển tập. Đây là chuyện đi vào lịch sử, chuyện quan trọng, khắc bia văn miếu đấy. Nhưng nói thật, Xuân Diệu cũng cóc cần. Xuân Diệu không đo thơ mình ở mấy xăng ti mét trong tuyển tập mà ở quần chúng. Thơ Xuân Diệu không phải là cái đền để cho mọi người đi qua cúi đầu mà ngưỡng mộ kính cẩn. Thơ tôi là căn nhà cho mọi người đến trò chuyện. Tôi muốn họ yêu đương nhau, cãi cọ nhau trong thơ tôi. Tất cả rồi thời gian sẽ đánh giá cái hay, cái dở. Nó cũng như chuyện con vịt, không phải cứ to mồm là được mà chủ yếu là phải làm lông thì mới biết con nào béo, con nào gầy. Chuyện làm tuyển chưa phải là cái gì tuyệt đối. Cái tuyệt đối là những tác phẩm hay cho nên làm chưa hay thì người khác làm lại. Đối với chúng tôi, việc chọn cũng thế. Tiêu chuẩn chật hẹp, mấy bài hay làm sao có thể chứa được hết thơ hay của một người. Cho nên cũng phải thay đổi bài chọn. Những bài hay cũng sàn sàn như nhau cả, bài này lần trước được vào thì lần này nhường lại cho bà khác. Nó không kém gì nên được vào tuyển thì cũng vinh dự thêm và vui vẻ cả. Cứ để vinh quang cho một đứa thì tủi thân những đứa khác. Tôi mong cuối cùng thơ tôi được nhớ trong lòng người đọc chứ không phải khắc tên vào lịch sử theo kiểu văn học sử… Đi vào nghiên cứu văn học như các cô quả thật cũng vất vả, nhất là vớ phải con gà gầy có nấu nướng cũng khó. Tôi nghiên cứu văn học cổ điển Tú Xương, Nguyễn Khuyến,… là tôi thêm vào đó nhiều chứ. Tôi thổi hồn Xuân Diệu vào, tôi trân trọng nâng niu bồi đắp chứ nếu không thì làm sao có thể tạo được sự sống. Tôi lo lắng nhất là trong thơ không có được sự cảm thông. Thật là thiệt thòi cho nhà thơ, cho bạn đọc. Huy Cận còn có người hiểu là Xuân Diệu. Còn Xuân Diệu, người ta chưa hiểu Xuân Diệu nhiều lắm. Người ta bất công với Xuân Diệu. Công bằng mà nói, chúng tôi thua anh Tố Hữu, nhưng chính anh Tố Hữu cũng thua chúng tôi, có những mặt nào đó còn đi sau chúng tôi. Đó là chuyện hiển nhiên thôi”.


Từ câu chuyện thơ ca Xuân Diệu chuyển sang đời sống gia đình. Xuân Diệu hỏi: “Các cô đây đã có gia đình chưa?”. Mấy chị nhìn nhau tủm tỉm cười. Chị Mai Hương nói nhỏ: “Chúng em đều đã có gia đình và có người đã có cháu nhỏ”. Xuân Diệu gật đầu và bảo: “Như thế thì phải tính chuyện chửa đẻ, phải có kế hoạch. Một gia đình cũng như một đất nước phải chủ động trong kế hoạch dân số. Có ý kiến cho rằng mình ở cạnh một nước quá đông dân nên mình cũng phải sinh đẻ nhiều để cho cân đối! Vấn đề là mình phải lo cuộc sống của mình. Bây giờ không phải thời buổi lấy thịt đè người. Họ đông thì mặc họ chứ không phải lo đối phó. Tại sao một Cuba có chín triệu dân, lại ở trước miệng con thú dữ mà nó chẳng dám làm gì? Đẻ nhiều rồi ăn mày, chứ không phải ăn cám nữa vì cám cũng không có mà ăn. Tôi về Thái Bình, người đông như kiến, chị lái đò chở mãi không hết phải kêu lên. Chạy gạo cũng không đủ còn nói gì đến xây dựng, đáng lẽ có mấy chục nhà máy nhưng rồi cuối cùng cũng để đong gạo là hết. Phải tách chuyện hôn nhân với quan hệ nam nữ, tách hôn nhân với giao hợp. Trai gái trưởng thành có nhu cầu phải giải đáp nhưng không nhất thiết phải trong quan hệ hôn nhân sinh con đẻ cái. Ở bên Hung, học sinh cấp III được phát thuốc tránh thụ thai. Anh thợ rèn đi Pháp về nói thuốc tránh thụ thai ở Pháp cho vào thuốc đánh răng và cứ thế người đánh răng cũng đã miễn dịch rồi, đánh răng trước lúc đi ngủ. Bây giờ ở nước ta coi như chỉ có hai phạm trù thôi, phạm trù đẻ và phạm trù tinh bột. Tinh bột nhiều là đẻ và đẻ nhiều lại thiếu tinh bột. Chưa phải lúc nói đến chuyện văn chương. Có cũng được, không có cũng được chẳng chết ai. Chao ôi, nghĩ đến lắm lúc ngao ngán. Nhưng thôi chuyện ấy đã có Nhà nước giải quyết, ta bàn chuyện văn chương. Các cô có ý kiến gì chất vấn tôi, nếu đủ lý lẽ thì tôi trả lời. Trong các thứ tranh luận thì xem ra tranh luận với phụ nữ là khó nhất. Cái lô gích của nam giới thua cái phi lô gích của nữ giới. Cuối cùng, bao giờ họ cũng là người thắng cuộc, nhất là nữ trí thức như các cô. Chị Mai Hương nói: “Chúng em được nghe là thấy bổ ích và hứng thú lắm rồi. Nếu anh cho phép, chúng em sẽ đặt những câu hỏi sau”. Xuân Diệu gật đầu: “Chúng ta còn nhiều dịp gặp nhau”.


 


THƠ TÌNH VÀ CUỘC SỐNG


Ngày 06-8-1979


Mỗi nhà thơ có một cách nói về tình yêu. Sau Cách mạng, Xuân Diệu thích thơ tình của Aragông, Nêruđa nhưng đặc biệt là Nadim Hítmét. Hítmét có một tình yêu lớn, tình yêu Tổ quốc, tình yêu con người và tình yêu lứa đôi. Vấn đề là tất cả đều từ cuộc sống, sự sống mà khai thác. Cuộc sống rất quen thuộc bình dị thôi nhưng anh nào có ăng ten thì bắt được và không có ăng ten thì để cho nó qua đi mất. Ngay trong chuyện tình yêu, tuy gần gũi nhưng có phần thiêng liêng. Nếu chỉ yêu theo kiểu thực dụng thì chẳng còn gì giữ lại. Sống phải có kỷ niệm, yêu phải xúc động, phải khai thác đến đáy sâu tâm hồn nếu không thì còn sống làm gì. Bây giờ “Cho chú xin một quả si”, tôi đặt vấn đề về cuộc sống. Tâm hồn trẻ con thương quá, nó dễ tưởng tượng, thi vị hóa, quả chẳng ngon lành gì cũng thấy ngon lành nhưng một mặt lại thương các cháu, thực quá, nghèo quá nên dễ tính:


- Thương yêu các cháu lắm, các cháu ơi!


Các cháu thấy ngọt ngào một cái quả nhạt thôi


Đó là phép thần thông trong tâm hồn các cháu.


Nhưng bổn phận của chú và các bậc làm cha mẹ


Là cho các cháu được ăn những hoa quả ngon hơn


Không phải khen trái si là có vị như đường.


Ơi! Tình yêu, người phải là tình yêu thật sự!


Ta bây giờ sống vất vả, nhiều lo toan nên thấy tình yêu không quan trọng, không muốn nói nhiều về nó, nhưng rồi chao ôi, cái gì là quan trọng nhất trong cuộc đời này nếu không phải là tình yêu của con người. Ta đấu tranh cũng để nhằm cái đó, không có nó thì cuộc sống co người chẳng hơn gì loài vật. Cuộc sống của chúng ta bây giờ bị cuốn đi vào dòng thác sự việc bên ngoài, công việc cơ quan, đường phố, gia đình. Ít có thời gian để đi vào thế giới nội tâm với biết bao nỗi niềm của nó. Nếu có thì cũng chỉ ở mặt lo toan trách nhiệm. Những mơ ước, tưởng tượng, phấn chấn, mừng vui còn ít được nói đến. Nhà thơ phải có ý thức, quan tâm đến nhiều mặt của đời sống, đặc biệt là tình yêu thương con người. Các nhà thơ làm được điều đó dễ đến với người đọc và được quý mến. Chị Blaga Đimitrôva rất khen Hồ Xuân Hương và cho rằng: “Cổ kim Đông Tây chưa có một nhà thơ nữ nào như thế. Khóc than mà đầy sức sống, tưởng là bản năng nhưng là sự sống của con người”. Nhà thơ cũng phải hiểu, phải sống cuộc đời và tình cảm của cảnh ngộ mình nói đến. Trước Cách mạng, thơ Lưu Trọng Lư là tiếng nói của chính một nạn nhân say mê, yêu đời rồi cũng nhập vào đời mà yêu thương ân ái nhưng rồi đau khổ, Lư là tiếng thơ của những đau khổ, không phải đau khổ của người lao động vất vả mà là của kẻ gieo mình vào ảo mộng, đắm say, vừa hư, vừa thực trong đời. Khi anh ấy trong mộng thì lại muốn về với cuộc sống đời thực vì dù sao mộng có tính chất mơn man ve vuốt. Còn về với cuộc đời thực thì anh lại thấy chán chường vì cuộc đời thực cũng la một giấc mộng có nhiều dư vị đắng cay của trần ai. Các nhà thơ mới đều yêu sự sống yêu đời nhưng thường họ phải chịu đựng nhiều giày vò trong tâm trạng và cảnh ngộ. Hàn Mặc Tử có tâm hồn dào dạt lắm. Những câu thơ không thể nào quên được:


Sao anh không về chơi thôn Vĩ?


Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,


Vườn ai mướt quá xan như ngọc,


Lá trúc che ngang mặt chữ điền.


(Đây thôn Vĩ Dạ)


Những câu thơ nhẹ nhàng mà đáng yêu quá:


Chị ấy năm nay còn gánh thóc,


Dọc bờ sông trắng nắng chang chang.


(Mùa xuân chín)


Có câu thơ viết rất lạ:


Áo em trắng quá nhìn không ra.


Có ý thơ sáng tạo khác thường:


Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm,


Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.


Tưởng là tục mà lại rất thanh. Tâm hồn tươi trẻ cộng với sự sống sẽ tạo thành những ý tưởng hay trong thơ”. Tôi cắt ngang lời ông: “So với Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính,… thì thơ tình Xuân Diệu trải dài qua nhiều chặng đường, từ thời trẻ đến ngày hôm nay. Vậy thưa anh, trước kia anh có Thơ thơ và Gửi hương cho gió, chắc chắn mạch thơ thời ấy nhiều cảm hứng trong tuổi trẻ yêu đương. Hôm nay anh viết thơ tình dựa trên nguồn cảm xúc nào?”. “Câu hỏi cũng hắc búa và buộc mình phải lộ bí mật đấy. Trước kia là cảm xúc, suy nghĩ, chuyện tình riêng của nhà thơ, ngày nay ở tuổi sáu mươi chắc chắn là những phẩm chất xưa không còn nhiều nữa. Phải nói hộ tuổi trẻ hôm nay trong yêu đương. Lắng nghe, đồng cảm và góp phần biểu hiện thơ lớp trẻ để thành văn thành thơ. Ở đầu kia của ngọn nguồn là những tơ non và ở đầu này đã xơ cứng với thời gian. Quy luật của thời gian và cuộc đời là vậy”. Tôi hỏi tiếp: “Thưa anh, nhà thơ tình thường tặng cho người thân yêu các bài thơ tình, chùm cho cô gái yêu thương này, chùm cho cô gái yêu thương khác như Apôlime, Anphrét đơ Muýtxuê,…Riêng anh rất ít thấy anh tặng cho đối tượng nữ. Chưa nghe hết câu nhà thơ Xuân Diệu đã bực mình: “Thế Hà Minh Đức cho rằng mình không có người tình, bạn gái yêu sao?


Tôi không dám nghĩ thế mà chỉ là câu hỏi băn khoăn vì dường như khác thường lệ với một nhà thơ tình lớn như Xuân Diệu.


Anh nói đúng, mỗi người có một cách biểu hiện. Mình không khoe nhưng trong tuổi trẻ cũng có nhiều cô gái quý mến, yêu thương mình nhưng mình không có thói quen gửi lời đề tặng trong thơ.


Tôi cám ơn anh đã cho biết nhiều suy nghĩ riêng của một nhà thơ tình lớn trong thời kỳ hiện đại.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học, 2013.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »