tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20012015
Thơ
29.11.2013
Lê Mai
Bình thơ: Quan hệ Việt – Trung, nhìn từ đôi vần thơ

Chế Lan Viên: Bác Mao nào ở đâu xa. Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao


Tế Hanh: Quê hương lãnh tụ mây thêu nắng/ Thấy mặt trời lên nhớ bác Mao 


Tố Hữu: Bên ni biên giới là mình/ Bên kia biên giới cũng tình quê hương…


Thế kỷ 21 đang chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc. Mới đây, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Các nhà lãnh đạo thế hệ thứ tư của Trung Quốc thường nói đến khái niệm ‘đi cùng thời đại”, “trỗi dậy một cách hoà bình”, khái niệm “win-win”… Song, có một sự thực là Trung Quốc đang ngày càng tỏ ra cao ngạo trước thế giới và hình như cảm tình mà thế giới dành cho Trung Quốc đang dần dần nhường chỗ cho nỗi lo ngại và sự ác cảm sâu sắc!


Việt Nam – quốc gia láng giềng nhiều duyên nợ với Trung Quốc. Chưa cần nhìn vào chiều sâu lịch sử với hàng ngàn năm Bắc thuộc, chỉ cần hơn nửa thế kỷ gần đây thôi cũng đủ cho chúng ta suy nghĩ nhiều về “ông láng giềng phương Bắc” khổng lồ này.


Bỗng nhiên, trong tôi hiện lên những vần thơ về Trung Quốc. Ta hãy cùng suy ngẫm lịch sử, tìm hiểu mối quan hệ Việt – Trung từ một đôi vần thơ cũ, biết đâu nó có thể có ích cho hôm nay!


Hồ Chí Minh đã khái quát mối quan hệ hai nước Việt – Trung:


Mối tình đoàn kết Việt – Hoa/ Vừa là đồng chí, vừa là anh em


“Người anh em” đã cố vấn một cuộc cách mạng long trời lở: cải cách ruộng đất ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Rốt cuộc, vì sai lầm của cuộc cải cách ấy, Hồ Chí Minh phải đứng ra xin lỗi nhân dân. Trường Chinh phải rời chức Tổng Bí thư. Hồ Viết Thắng phải ra khỏi Ban chấp hành Trung ương. Lê Văn Lương phải bị kỷ luật. Và, không biết bao nhiêu là số phận bị oan khuất!


Chúng ta đều biết, Hồ Chí Minh đóng vai trò rất lớn trong việc giữ gìn và phát triển mối quan hệ Việt – Trung. Hồ Chí Minh quen biết hầu hết các nhà lãnh đạo cao cấp Trung Quốc, có lúc còn làm thơ xướng hoạ với họ. Chiến dịch Biên Giới, Hồ Chí Minh đã mới tướng Trần Canh tham gia và đã tặng thơ:


Hương tân mỹ tửu dạ quang bôi


Dục ẩm, tỳ bà  mã thượng thôi


Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu


Địch nhân hưu phóng nhất nhân hồi.


(Rượu ngọt sâm banh lấp lánh ly


Muốn uống, tì bà thúc ngựa phi


Đừng cười say nghỉ nơi trận mạc


Không tha quân địch một tên về).


Và với tướng Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc:


Bách lý tầm quân vi ngộ quân,


Mã đề đạp toái lĩnh đầu vân.


Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ,


Mỗi đoá hoàng hoa nhất điểm xuân.

(Trăm dặm tìm bạn nhưng không gặp,


vó ngựa dẫm nát mây đỉnh núi.


Quay về tình cờ gặp cây mai rừng,


mỗi đoá hoa vàng một điểm xuân)


Phảng phất một hồn thơ Đường, thơ Tống trong những vần thơ của Hồ Chí Minh.


Năm 1965, sang thăm Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã có một bài thơ trả lời Phó Chủ tịch CHND Trung Hoa Đổng Tất Vũ rất thú vị:


Cụ Đổng tặng tôi bài thơ dài


Tôi muốn làm thơ hoạ lại Người


Nhưng việc nước nhà đang đánh Mỹ


Hoàn toàn chiếm trọn trái tim tôi


Nghe như ngày xưa Mạc Đĩnh Chi đi sứ, qua ải Pha Luỹ, gặp phải câu đối khó, bèn biến hoá ra câu hỏi để trả lời :”Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối” vậy!


Nếu Chế Lan Viên “nổi tiếng” với hai câu: “Bác Mao nào ở đâu xa. Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao” thì Tố Hữu viết:


Bên ni biên giới là mình


Bên kia biên giới cũng tình quê hương…


Biên giới thực sự là một sản phẩm do con người làm ra. Nhưng, nó tượng trưng cho chủ quyền dân tộc. Chúng ta không đồng ý học thuyết “chủ quyền hạn chế”, thế còn học thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền” thì sao? Bên ni, bên kia…thật không đơn giản, lịch sử cho thấy đầy máu và nước mắt!


Vẫn là Tố Hữu, hình ảnh Trung Quốc thật đẹp, nhà thơ không thể không thốt lên:


Ôi, buổi bình minh dậy dọc đường


Mướt xanh bờ liễu, vút hàng dương


Trắng phau nội cỏ cừu phơi tuyết


Ngào ngạt đồng xuân mịn phấn hường


Vui nhỉ tiếng cười quanh giếng máy


Hoa đào đôi bím nở trong sương


Làng hay phố đó, tường vôi mới


Băng đã tan trên dòng Trường Giang…


Những câu thơ đầy màu sắc, hình ảnh và âm thanh, ca ngợi một nước Trung Quốc mới. Tôi thích “Hoa đào đôi bím nở trong sương” – một hình ảnh đẹp, rất Trung Quốc mà cũng có thể rất Việt Nam ! Thế thì, ai có thể xoá được hình ảnh ấy, quan hệ ấy, tình cảm ấy?


Và mùa thu ở Hàng Châu – Trung Quốc trong thơ Tế Hanh còn đẹp, còn buồn hơn nữa:


Trăng Tây Hồ vời vợi thâu đêm


Trời Hàng Châu bốn bề êm ái


Mùa thu đã đi qua còn gửi lại


Một ít vàng trong nắng trong cây


Một ít buồn trong gió trong mây


Một ít vui trên môi người thiếu nữ…


Từ khung cảnh mùa thu êm ái ở nước người mà nhà thơ nhớ về quê hương đất nước Việt Nam, nhớ về người thân yêu của mình. Không gian bỗng nhiên thu nhỏ lại. Trung Quốc và Việt Nam gần gũi thế!


Đi qua Hồ Nam, quê hương của Mao Trạch Đông, Tế Hanh đã có một sự liên tưởng làm chúng ta kinh ngạc:


Quê hương lãnh tụ mây thêu nắng


Thấy mặt trời lên nhớ bác Mao 


Rồi ngày 5.8.1964, Mỹ ném bom Bắc Việt Nam. Tố Hữu từ Cu Ba lên đường về nước. Qua Liên Xô:


Mạc-Tư-Khoa của ta ơi!


Dấu chân cách mạng tháng Mười còn đây


Ngôi sao đỏ giữa sương dày


Vẫn trông mỗi bước, mỗi ngày ta đi.


Lenin đang nghĩ suy gì?


Kremlin in bóng thành trì, lặng im…


Bởi vì, khi đó, Liên bang Xô- Viết đang còn cân nhắc, chưa tỏ thái độ ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam. “Lenin đang nghĩ suy gì? Kremlin in bóng thành trì, lặng im…”.


Nhưng về tới Bắc Kinh thì không khí khác hẳn:


Cờ bay Vạn lý trường thành


Bắc Kinh tay chị tay anh triệu vòng


Bạn mừng ta những chiến công


Vui như tiền tuyến giữa lòng hậu phương


Niềm vui lớn của nhà thơ không được lâu. Cuộc sống đầy bất trắc, đảo lộn. Mười hai năm sau (1968), tại sân bay Vũ Hán, Tố Hữu chứng kiến cuộc “cách mạng văn hóa” ở Trung Quốc mà rùng mình:


Trung Hoa ơi Trung Hoa!


Người đi đâu? chiều tà


Nghe Lỗ Tấn gào thét


Ăn thịt người, còn a?


Cách mạng văn hoá Trung Quốc mà Mao gọi là “Một trận gió mưa kinh thế giới” – thật khủng khiếp. Họ đối xử như thế với người dân nước họ, ngay trong hàng ngũ lãnh tụ của họ có thể hôm nay “lên voi” thế này, ngày mai đã “xuống chó”. Thế thì, họ đối xử với Việt Nam ta ra sao, có lạ gì?


Nói như Chế Lan Viên:


Tam phản rồi Ngũ phản


Cờ đỏ rồi sách hồng


Đem thù ra làm bạn


Giết bạn là chiến công


Tố Hữu thì tự hỏi mình và càng thấm thía:


Thù bạn ngày nay có khác xưa,


Nghĩa tình e sớm nắng chiều mưa?


Chợ trời thật giả đâu chân lý,


Hàng hoá lương tâm cũng thiếu thừa?


Và điều này lại càng rõ hơn:


Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu


Trái tim lầm chỗ để trên đầu


Nỏ thần vô ý trao tay giặc


Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu…


Bài học Mỵ Châu còn nóng hổi. Bây giờ, nhiều người không còn thích thơ Tố Hữu, nhưng phải công nhận, Tố Hữu là nhà thơ không phải không có tài. Đặc biệt, ông giữ cương vị cao trong lãnh đạo, là người hiểu rõ chính sách và đã thể hiện vào thơ của mình khá tài tình.


Thông thường, con người rút ra bài học rất nhanh sau mỗi sự kiện và con người cũng quên bài học đó nhanh không kém! Cuộc xung đột biên giới Việt – Trung 1979 đầy bất ngờ, gần như Việt Nam bị động hoàn toàn vào thời điểm nổ ra cuộc chiến.


Người Trung Quốc lắm mưu lược, họ nhằm nhiều mục đích khi phát động cuộc chiến này. Trận này không thể không đánh – Đặng Tiểu Bình từng nói. Lấy bên ngoài để giải quyết khó khăn bên trong là một sở trường của họ.


Lời thơ từ Việt Nam vút lên, sau một thoáng cau mày. Ta hãy xem Chế Lan Viên với Bịp lối Tàu:


Đạo đức giả và lang sói thực


Uổng công mày lý luận um sùm não bạt thanh la


Mãi võ côn quyền trăm đường triết học


Nhào lộn ngôn từ bắn pháo tung hoa


Ngôn từ của Trung Quốc thật vô cùng biến hóa, kể từ ngày xưa. Và bây giờ những “16 chữ vàng”, “bốn tốt”, “lý tưởng tương thông, văn hóa tương đồng, vận mệnh tương quan”…Nghe cũng hay!


Khi Trung Quốc tấn công Việt Nam thì không có gì để mà dấu nữa:


Chỉ một ngày thôi, chúng đã lộ nguyên hình


Cái mặt nạ long sơn, phai nước thuốc


Máu bành trướng và xương xâm lược


Bạch cốt tinh hoàn bạch cốt tinh!


Đến đây, suy nghĩ về mối quan hệ Việt – Trung từ một đôi vần thơ, tôi lại nhớ đến câu thơ Tố Hữu:


Chân lý mặt trời soi sáng mãi


Lỗi lầm âu cũng bóng mây qua


Lương tâm rồi sẽ trong như ngọc


Tình nghĩa anh em lại một nhà


Chúng ta có quyền hy vọng. Nhưng, Ải Nam Quan, Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông… đang nhắc nhở chúng ta, đang vẫy gọi chúng ta.


Tôi xin kết thúc với vài câu thơ trong bài Thần chiến thắng của Chế Lan Viên, viết năm 1979:


Biên giới. Hai tiếng ấy làm lòng ta quặn thắt


Vết thương ngàn năm. Chiến hào thứ nhất


Mây có biết biên thuỳ không, mây trắng tần ngần


Sông nao nao nước đỏ xoáy cuộn dòng


Tiếng còi tàu đến đây chừng thét gấp


Ngàn lau trắng chở che từng cột mốc


Nơi biên địa cái gì không ý thức?


Mùi hoa hồi biên giới quá bâng khuâng…


07-09-2010


LM


Nguồn: http://lemaiblog.wordpress.com


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những bài thơ của Joseph Brodsky - Joseph Brodsky 20.07.2017
Thơ giỗ trận Vị Xuyên - Nguyễn Việt Chiến 14.07.2017
Huyền Kiêu viết về Khái Hưng, Nhất Linh - Huyền Kiêu 11.07.2017
Lá thư thành phố - Giang Nam 07.07.2017
Trước tờ giấy trắng - Giang Nam 07.07.2017
Nghe em vào đại học - Giang Nam 07.07.2017
Quê hương - Giang Nam 06.07.2017
Bài học đầu cho con - Đỗ Trung Quân 06.07.2017
Mẹ - Đỗ Trung Quân 06.07.2017
Biển, núi, em và sóng - Đỗ Trung Quân 06.07.2017
xem thêm »