tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21054390
28.11.2013
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (14)

HÌNH THỨC CỦA THƠ


Ngày 06-7-1970


Xuân Diệu là nhà thơ lớn trong phong trào Thơ mới, có những sáng tạo đặc biệt về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật. Như đã hẹn từ lần trước với ông, tôi muốn được tìm hiểu về hình thức qua phần sửa chữa thơ của nhà thơ Xuân Diệu. Ông đã chuẩn bị sẵn bàn thảo Thơ thơ, Gửi hương cho gió đặt sẵn trên bàn và nói: “Mình phải chiều nhà phê bình”. Ông lần lượt giở cặp bìa dây trong đó các bản thảo thơ được xếp theo tập và theo từng bài. Xuân Diệu nói: “Nghệ thuật thơ là tổng hợp nội dung và hình thức. Ngôn từ trong thơ tinh vi. Có trường hợp câu thơ làm là được ngay không phải sửa chữa gì. Nhưng cũng có trường hợp phải đổi thay nhiều lần mới có câu thơ ưng ý”. Qua những bản thảo thơ được Huy Cận và Xuân Diệu cho xem thì Lời kỹ nữ của Xuân Diệu và Tràng giang của Huy Cận được sửa chữa nhiều, văn bản được hoàn thiện sau hàng chục lần bổ sung. Huy Cận cũng đã cho tôi xem bản thảo bài Tràng giang trong đó câu thơ cuối của khổ I được chữa nhiều lần:


- Một cánh bèo trôi đã lạc dòng


- Một cánh bèo đơn lạnh giữa dòng


- Một chút bèo đơn lạnh giữa dòng


- Một cánh bèo đơn lạc mấy dòng


- Một góc bèo xanh lạc mấy dòng


- Gỗ lạc rừng xa cuộn xiết dòng


và dừng lại ở câu:


Củi một cành khô lạc mấy dòng.


Xuân Diệu nói: “Những câu thơ hay đến tự nhiên như không định trước, nói như E. Harôcua “Les plus beaux vers sont ceux qu’ on ne croirera”. Trong bài Lời kỹ nữ một số câu được bổ sung, thay đổi. Thôi bây giờ thì tùy Hà Minh Đức ngồi so sánh và chọn lựa theo yêu cầu của mình”.


Tôi bắt đầu bằng bài Lời kỹ nữ. Phần đầu ít sửa chữa, phần giữa và cuối có những đổi thay đáng kể về câu chữ.


Các câu thơ:


Hồn giai nhân như đứa trẻ không nhà


Tình du khách lại là mây chẳng bến.


được chữa lại:


Người giai nhân: bến đợi dưới cây già;


Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt.


Trong bài thơ Tương tư chiều, mấy câu thơ lần đầu được viết:


Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối


Mộng hoàng hôn u uất lẩn trong cành


rồi:


Từng miếng đêm u uất lẩn trong cành


được chữa lại là:


Gió thướt thướt kéo mình qua cỏ rối;


Vài tiếng đêm, u uất, lẩn trong cành;


Bài thơ Thơ duyên lúc đầu được viết:


Cánh hồng lả lả gió xiêu xiêu


Con én về đâu nắng trở chiều


Con én về đâu bay gấp gáp


Chim nghe trời rộng cánh cô liêu.


Sau sửa lại là:


Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu


Lả lả cành hoang nắng trở chiều


Mây biếc về đâu bay gấp gấp


Con cò trên ruộng cánh phân vân.


Bài thơ Nguyệt cầm, câu thơ:


Trăng thương, trăng rợn, hỡi trăng ngần


được sửa lại là:


Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần.


Trong bài Nhị hồ, các câu thơ:


Gió nhịp theo đêm buồn nhẹ nhàng


Gió vẩn vơ đi buồn nhẹ nhàng


được sửa lại là:


Trăng vừa đủ sáng để gây mơ


Gió nhịp theo đêm, không vội vàng.


Bài Mùa thi, các câu thơ:


Thơ ta chan chứa trong lòng


Ta say muốn hát mà không thì giờ.


được sửa lại là:


Thơ ta hơ hớ chưa chồng,


Ta yêu muốn cưới mà không thì giờ.


Trong bài Vội vàng, các câu thơ:


- Cho no nê sắc đẹp của mùa tươi


- Cho đã đầy thanh sắc của mùa tươi


được sửa lại là:


- Cho no nê thanh sắc của thời tươi


Trong bài thơ Chiều:


- Lá hồng rơi dịu ngõ thuôn


- Lá hồng rơi rụng ngõ thuôn


được sửa lại là:


Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn,


Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương.


Tôi chọn ghi lại một số dẫn chứng về việc sửa chữa trong thơ Xuân Diệu và cám ơn ông. Xuân Diệu hỏi: “Qua những câu thơ viết lần đầu với câu sửa, Hà Minh Đức thấy thế nào?”. Tôi nói: “Rất cám ơn anh, phần sửa chữa bản thảo nâng các câu thơ, bài thơ lên hay hơn, thuyết phục và hấp dẫn hơn. Nhưng có nhà thơ sửa chữa theo hướng “hiện đại hóa” cực đoan lại làm cho bài thơ mất vẻ đẹp của nguyên tác”. Xuân Diệu bảo: “Hà Minh Đức có thể nêu một hai dẫn chứng?”. Tôi nói thật cũng khó trả lời anh. Với các nhà thơ trong phong trào Thơ mới thì không rõ lắm, nhưng ở chặng đường thơ sau Cách mạng thường sửa chữa nhiều hơn biểu hiện rõ rệt hơn. Tôi thích bài Bến My Lăng cũ của Yến Lan hơn là bài sửa chữa lại. Bài Vú em của Tố Hữu tôi thích câu thơ kết: “Biết chăng ai đó say chăng gối - Có kẻ đêm nay nước mắt đầy” hơn là câu sửa lại “Bạn ơi người thảm sầu kia bởi - Số phận hay do chế độ này”. Xuân Diệu mỉm cười và không nói gì. Ông sắp xếp lại bản thảo mà tôi vừa đọc và ghi chép rồi bảo: “Hôm nay là Hà Minh Đức gặp may. Của gia bảo này mình cất kỹ và cũng không muốn cho ai đọc”. Các bản thảo thơ văn Xuân Diệu và Huy Cận đều được bảo quản chu đáo. Khi Cục Lưu trữ của Phủ Thủ tướng mời các nhà văn, nhà thơ gửi bản thảo thì Xuân Diệu rất dè dặt tìm hiểu công việc của họ. Ông nói vui: “Phải tránh trường hợp gửi trứng cho ác. Chủ trương rất hay, cơ quan thì rất tốt, đáng tin cậy nhưng còn cái việc thực thi công việc của cán bộ trẻ thì mình chưa tin được”.


 


XUÂN DIỆU VỚI NGỌN QUỐC KỲ


Ngày 16-4-1971


Bạn tôi, Huy Cận tham gia cách mạng sớm và dự thành lập Đảng Dân chủ lúc này với một số cán bộ cốt cán như Nguyễn Thành Lê, Hoàng Minh Chính. Huy Cận có maturité (sự thành thực) sớm tuy trong thơ đi vào siêu hình. Có lần Huy Cận viết: “Nếu tôi tin mặt trời không mọc thì bữa sau mặt trời không mọc nữa”.


Xuân Diệu không thoát ly. Xuân Diệu yêu cuộc đời, tha thiết với đời, say mê tình yêu nhưng không phải là tình yêu évasion (tiêu khiển) mà phải đau khổ thật, có tình cảm, có máu thịt. Nhưng cuộc đời cũ không bù đắp mà hắt hủi, người nghệ sĩ cảm thấy tủi cực.


Sau Cách mạng tháng Tám, được giải thoát, niềm vui rất lớn với tôi cũng như văn nghệ sĩ. Tôi đã tham gia Việt Minh. Một hôm họp Hội Văn hóa cứu quốc, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Hữu Đang đề cử tôi vào Chấp hành. Đối với tôi, cách mạng là một sự tái sinh. Những ngày gần khởi nghĩa trong tôi có nhiều háo hức, phấn chấn và cũng còn nhiều tình cảm cũ còn đè nặng và phải cố vượt lên. Khi Cách mạng thành công, Xuân Diệu tham gia hoạt động với hết cả tấm lòng. Như Phong cho đến nay vẫn còn nhắc lại bài Thời vứt sách kêu gọi sinh viên tham gia cách mạng đăng ở Cứu quốc số 1. Như Phong còn nhắc câu: “Chính quyền cách mạng yêu cầu tôi làm gì, tôi làm tất cả”. Xuân Diệu tham gia báo La République, viết báo Tiên phong. Hội Văn hóa cứu quốc lúc ấy lấy trụ sở ở Hội Khai trí tiến đức, ngày nay là Câu lạc bộ Thống Nhất. Trước kia tôi nhìn bọn người ra vào ở Khai trí tiến đức với con mắt bực bội xa lạ. Khi tiếp quản tòa nhà này còn trang trí những con dơi ngậm đồng tiền. Tình hình những năm sau cách mạng rất phức tạp: bọn Tàu trắng kéo vào; cờ ba gạch của Quốc dân đảng treo ở Cửa Bắc do bọn Nguyễn Hải Thần cầm đầu; cờ sao trắng nền đỏ của bè lũ Đại Việt của Vũ Hồng Khanh. Một hôm đến trụ sở Hội Văn hóa cứu quốc, Nguyễn Huy Tưởng gợi ý Xuân Diệu làm bài thơ ca ngợi ngọn quốc kỳ. Gợi ý hay, tôi phấn khởi và làm nhanh. Ngọn quốc kỳ đối với tôi là một kỷ niệm, là mối duyên đầu với cách mạng:


Lòng tiết trinh vui trong tiệc sáng lòa,


Tình nguyên thủy vẫn hay còn run rẩy.


Dịp được vào thăm Bác trong Tết Độc lập đầu tiên, Xuân Diệu kính tặng Bác Ngọn quốc kỳ. Bác bảo đọc một đoạn. Xuân Diệu đọc một đoạn có tính chất polémique (bút chiến) về tính chất của màu cờ và đọc đoạn cờ về Hà Nội. Giữa hai tập Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông đều mang tính chất thời sự nhưng tập Ngọn quốc kỳ gây ấn tượng nhiều hơn. Viết Ngọn quốc kỳ, mình khai thác ý tưởng và vần điệu khỏe khoắn trong thơ cổ. Cụ thể trong cách gieo vần sử dụng nhiều vần trắc nên nhịp thơ mạnh, hơi thơ đanh, đọc cứ choang choang…


Đây quân du kích dao chen ánh


Giữ lá cờ sao vàng lấp lánh


 


[…] Ai từng nghe nói quân du kích?


Nhắc đến lòng son tràn cảm kích.


Ôi những chiến sĩ, những anh hùng,


Những kẻ hồn xanh như ngọc bích.


Một số hình ảnh mình mượn cả trong thơ Huygô, những người chiến sĩ chân không giày,… Huygô có lần viết thế. (Et les pieds sans souliers). Hà Minh Đức hỏi mình về những chiến sĩ du kích được miêu tả trong thơ là đoạn được nhiều người ưa thích và Xuân Diệu dựa trên cơ sở nào để viết, có tiếp xúc cụ thể hay chỉ do tưởng tượng thôi. Mình biết là Hà Minh Đức truy mình để phải bộc lộ cái bí mật này. Mình cũng như anh em trong phong trào Thơ mới đều mạnh về tưởng tượng. Trước kia tôi viết Phấn thông vàng hoàn toàn bằng tưởng tượng. Còn về hình ảnh những người du kích trong Ngọn quốc kỳ thì chủ yếu dựa vào sách báo đọc được hồi đó. Báo Cứu quốc hay kể lại những đội du kích ở biên giới, rồi đội ngũ du kích hồ Ba Bể và một phần nữa là do Huy Cận đi chiến khu về kể lại. Nhưng có lẽ một điều mà người đọc có thể chưa chú ý đúng mức là cái hơi thơ của Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông. Cái hơi thơ này vừa bộc lộ trong nội dung lại vừa bộc lộ trong nhạc điệu. Mình và Huy Cận rất chú ý đến âm nhạc. Bọn mình thường nghe và để tâm hồn đi vào thế giới của âm thanh. Nghe nhạc Môda, Bêthôven…, thấy tâm hồn thêm tươi tắn rạo rực, sinh sôi hơn. Tuy nhiên phải là nhạc của dân tộc phù hợp với nội dung cảm hứng dân tộc của bài thơ. Hội nghị non sông cũng có vẻ đẹp riêng, cả hai bản trường ca này đều viết với tấm lòng theo cách mạng. Hội nghị non sông mình viết cũng nhằm phục vụ cho một yêu cầu chính trị nhưng vẫn chứa chan cảm hứng trữ tình. Trong Hội nghị non sông, đoạn Nam tiến là đoạn hay hơn cả:


Hoa mới vẫn hoa quen thuộc cũ,


Nước non nay lại nước non nhà.


 


Chỗ vừa mới ấm, đã lên yên


Đường sá ly kỳ ngựa đảo điên.


Đèo lạ lắm thay! Sông khác nước,


Cỏ cây hoang độc gắng làm quen.


 


Mải đi lúc nghỉ chấm mồ hôi,


Ngoảnh lại Thăng Long đã khuất rồi!


Bỗng nhớ thiết tha sông Nhị cũ,


Sông Hương, sông Cửu để làm nguôi?


 


Ngoài kia phương Bắc cũng xôn xao;


Em bước gian nan, chị ở nhà


Suy nghĩ thức nghìn đêm bạc trắng,


Lo em thơ dại giữa đường xa.


 


Đường đi ngăn trở ở đôi bên;


Mạch máu quê hương vẫn chảy liền,


Hạt giống lìa cây ăn đất mới,


Lá xanh thương cội lúc nào quên.


Vẫn là tình quê hương, Nam Bắc, non sông một dải, được cảm nhận với tấm lòng yêu thương chân thành của nhà thơ.


 


Ở NƯỚC TA THỊ HIẾU NGHỆ THUẬT CÒN CHAO ĐẢO


Ngày 25-5-1971


Xuân Diệu bị gãy tay trong chuyến đi nói chuyện ở Phú Thọ - phải điều trị tại Bệnh viện Việt Đức - nay đã được về nhà. Tôi đến thăm, Xuân Diệu đã đỡ nhiều và đi lại bình thường, người gầy hơn tuy tay vẫn còn bó ở khúc trên bằng nẹp và gạc bông. Xuân Diệu bảo mình gây hơn nhưng cực khỏe. Nước bị rút bớt vì uống thuốc tán huyết của Đông y. Tôi hỏi ông về chuyện xảy ra tai nạn như thế nào? Xuân Diệu nói: “Tai họa đến thường ngẫu nhiên không báo trước, đi đêm nhiều thế nào cũng có lần gặp ma. Mình đi nói chuyện về thơ Bác 154 lần không việc gì, đến lần 155 thì bị gãy tay. Sau chuyến này mình cũng hơi chùn về chuyện đi lại quá nhiều của mình. Phục vụ công chúng bằng nói chuyện cũng phải tốn đến xương máu. Nếu chỉ phục vụ bằng văn thơ mình chỉ cần ngồi một chỗ vắt óc ra thôi. Qua chuyện này, mình nghiệm ra tạo hóa còn dành cho con người một điều đáng quý là khi đi vào cõi chết bất thường, con người không phải bị dằn vặt lo lắng vì mình chết mà như đi vào một giấc mộng. Mình chỉ trông thấy cái dáng của anh lái xe vặn nhanh vô lăng và sau đó không còn nhớ gì nữa. Khi tỉnh dậy thì đã thấy mình ở nơi khác rồi. Mở mắt ra mình ngơ ngác hỏi: “Đây là đâu? Tại sao tôi lại nằm đây?”. Chị y tá trả lời: “Bác bị tai nạn ô tô và đây là bệnh viện Bình Xuyên”. Nhìn xuống thì, ôi thôi tay đã gãy rồi. Thật giống như người từ cõi chết trở về nhẹ nhàng, ngơ ngác”…


Tôi nói rằng khi nghe tin anh bị thương ở tay vì xe đổ tôi lại thấy trong cái rủi có cái may. Dù sao thì người vẫn còn, còn nếu sự việc quá đi thì chẳng biết sao mà nói hết nỗi đau đớn. Xuân Diệu bảo đúng, cậu nghĩ như thế là đúng vì dù thế nào thì mình vẫn sống, vẫn sống để có thể lại trò chuyện với nhau.


Xuân Diệu nói đến bài thơ viết về Bác vừa đang trên báo Nhân Dân số ra ngày 19-5. Tôi nói là chưa kịp đọc. Xuân Diệu bảo bài này không bằng bài Đứng dưới chân Bác nhưng cũng có một cái gì tươi tắn, chân tình của cảm xúc. Xuân Diệu đọc lại lần thứ hai cho tôi nghe. Tôi gật đầu tán thưởng và khen một số đoạn của bài thơ. Xuân Diệu tâm sự mình kính Bác, thương Bác, xúc động mà viết. Thơ viết về Bác, lớp có tuổi thành công hơn như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Nông Quốc Chấn, Minh Huệ. Lớp trẻ ít có bài hay về Bác. Từ câu chuyện về thơ, Xuân Diệu có những suy nghĩ khái quát về nghề văn chương: “Đó là cái nghề nghèo khổ, sóng gió nên phải có trái tim thi sĩ, phải có tâm hồn nghề nghiệp mới đi vào nghề được. Xem thơ là con đường tiến thân như mọi nghề khác, ai cũng nghĩ là mình có thể làm được, viết được và đều là thi sĩ là không đúng. Một số cậu trẻ đưa thơ cho mình đọc. Mình bảo thơ cậu thì được nhưng không thành thi sĩ được. Muốn tồn tại thì phải có tâm hồn phong phú, chống được sự đào thải của thời gian”. Xuân Diệu rót nước mời tôi uống: “Cậu uống đi, chè Hà Giang đấy, nó không có cái chất chát quý của anh Thái Nguyên nhưng lại ngọt giọng. Nó cũng giống như mẹ đĩ có duyên thầm”. Trở lại câu chuyện về thơ, Xuân Diệu muốn nói đến vấn đề phê bình và thưởng thức thơ. Ông nói: “Thị hiếu về thơ của ta còn chao đảo, nay thích người này mai thích người khác và đôi khi hay bị lừa bởi cái mới. Ở Pháp, khi xuất hiện những tài năng mới người ta vẫn thích Huygô với cách viết riêng của ông với vẻ đẹp truyền thống. Cũng như ở trên sân khấu công chúng vẫn vỗ tay nhiệt liệt hoan nghênh cô đào hát ngoài sáu mươi tuổi bị què chân phải ngồi trên một chiếc xe đóng Simun và một chàng trai ngoài hai mươi tuổi đóng vai Rôđrigơ. Cũng anh anh, em em thân thiết và khi cần di chuyển thì khẽ lấy tay đẩy cho xe đi. Phải nói là công chúng rất sành. Ở ta thì ưa cái gì đẹp và trẻ hơn. Trước thì Năm Phỉ nổi tiếng, sau họ ưa Phùng Há hơn vì Phùng Há trẻ tuổi và đẹp hơn còn Năm Phỉ thì tuy già nhưng vẫn rất ưa duyên nghệ thuật. Phải công chúng sành mới chịu đến Năm Phỉ. Ta bây giờ cũng thế, cứ lẫn lộn đào hát với đào rượu mà đào rượu thì có thiều gì, chẳng cần phải công phu đào tạo. Thị hiếu của mình còn chao đảo, còn thiếu một cái gì nền nếp, truyền thống bền vững. Ngay các nhà phê bình của ta mỗi người có một thước đo riêng, gọi là một thước nhưng độ dài ngắn khác nhau, thước đo của Lê Đình Kỵ khác thước đo của Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ. Có người ngắn chỉ bảy mươi phân đã gọi là một thước, có người lại quá dài phải trên một trăm phân mới gọi là một thước. Thế thì làm sao cho công bằng được. Nhưng mà công chúng thì sành, sành lắm, công chúng sẽ trở thành người cầm chịch cho dư luận khen chê. Đừng tưởng dễ bảo ban, nó đã mê si thì đố dứt cho ra”.


Tôi nói thêm, công chúng và thời gian là những thử thách nghiêm ngặt với nghệ thuật. Trong thơ thế hệ các anh đã trải qua biết bao nhiêu đổi thay, nhiều thời cuộc chính trị, nhiều công chúng thưởng thức mà vẫn ở hàng đầu của trào lưu thơ ca hôm qua và cả hôm nay là điều đáng quý. Nhiều cây bút nổi lên nhanh và cũng nhanh chóng rơi vào lãng quên. Xuân Diệu cười thoải mái:


Rằng trong cái nghiệp văn thơ,


Cái nghề đào thải có chừa ai đâu,


Làm cho nhìn chẳng được nhau,


Làm cho đau đớn cất đầu chẳng lên


Làm cho trông thấy nhỡn tiễn.


Xuân Diệu lim dim mắt và như nói một mình: “Phải có tâm hồn thi sĩ”. Xuân Diệu là một nhà thơ có nhiều trải nghiệm. Trong phong trào Thơ mới, ông là nhà thơ lãng mạn số một. Đến với cách mạng và kháng chiến, Xuân Diệu là cây bút xông pha, gắn bó thơ ca với đời sống kháng chiến. Rồi hòa bình lập lại, Xuân Diệu ca ngợi cuộc đời mới đang đổi thay và phát triển, rồi những năm chống Mỹ cứu nước, Xuân Diệu là nhà thơ có tâm hồn chiến sĩ. Sắp bước vào tuổi năm mươi lăm, Xuân Diệu hiểu đời theo cách nhìn chân thực và biện chứng. Xuân Diệu nói: “Mình nghĩ trong cuộc sống có nhiều chuyện của hôm nay thì ngày mai đã khác rồi. Nay yêu nhau, âu yếm nhau, xa nhau một ngày đã không chịu nổi, mai đã xa nhau, chán nhau, thậm chí không muốn nhìn mặt nhau. Rồi trong nhiều chuyện khác, có những cái mơ hồ thực thực hư hư. Nay thực mai hư, nay hư mai thực”. Tôi nói - anh quan niệm kiểu Lão - Trang rồi. Xuân Diệu bảo không phải Lão - Trang mà chính là la vérité (sự thật). Cuộc đời phải đến một tuổi nào mới đúc kết được điều đó. Mình gần hết cuộc đời mới hiểu được cho nên mình nghĩ rằng trong cái thực thực hư hư đó thì có lẽ làm việc hết sức mình là một cái rất thực nên mình dành hết thời gian sức lực cho công việc. Còn lớp thanh niên còn trẻ thì chỉ biết từng việc thôi, việc nào lo việc ấy hăm hở lao vào mà không hiểu cái bên trong, cái còn lại là gì. Nói rồi Xuân Diệu đưa cho xem tập Nguyễn Khuyến vừa viết xong, đánh máy dày 69 trang. Tôi khen ông làm việc hăng hái quá, chỉ riêng trong nghiên cứu phê bình ông cũng đã chiếm hữu cả phần người khác rồi. Xuân Diệu xua tay: “Không, không, ai có phận nấy, tôi không lấn sang ai. Tôi phải làm để giới thiệu cái hay của thơ Việt Nam và góp phần nâng sáng tác lên một chút”. Tôi lại nói tiếp: “Có lẽ anh viết đã gần hết những tác giả cổ tiêu biểu rồi”. Xuân Diệu gật gật đầu “Những miếng to mình sực hết rồi. Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương, Tú Xương,… Mình thú nhất ba tác giả Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương và Cao Bác Quát, nhất là Nguyễn Du và Cáo Bá Quát. Về hồn thơ, Cao Bá Quát không chịu thua ai, chỉ chịu làm em Nguyễn Du thôi. Còn về tư tưởng lại lớn hơn Nguyễn Du. Đối với mình hiểu được Cao Bá Quát là một sự phát hiện, một niềm vui lớn”.


Nói về thơ hôm nay, Xuân Diệu bảo rất gay, nhiều anh cạn rồi. Sau tập Tôi giàu đôi mắt, Xuân Diệu cũng bí, không biết viết cái gì và cũng phải đổi lối viết. Có lẽ phải viết ngắn hơn cho khỏe, hợp với thị hiếu người đọc. Cũng đang phải tìm lối đi. Xuân Diệu cười: “Trí cùng lực tận rồi”. Ông bồi dưỡng toàn diện kể cả chuyện chất đốt cho cơ thể. Cái bếp phải hồng. Câu chuyện đã dài, tôi xin cáo ra về. Ông tiễn tôi và tôi ngăn lại: “Anh cứ ở trong này, anh còn mệt”. Không sao, cũng phải vận động một chút. Ra cổng thấy Huy Cận đang giúp anh lái chữa ô tô. Thấy tôi anh chạy lại, ông giơ hai bàn tay nhem nhuốc dầu mỡ lên và nói: “Mình cũng là một mécanicien (thợ máy) chứ không phải chỉ biết làm thơ. Ông phải hiểu tôi thế. Tôi vừa đi Thanh Hóa về, đất Thanh Hóa của anh có truyền thống quá khứ rất vẻ vang và hiện tại cũng phải xứng đáng với cha ông. Anh cũng phải đóng góp và có trách nhiệm”. Tôi cám ơn ông và cũng mong như thế, nhưng chưa có yêu cầu và điều kiện. Tôi chào hai ông, Xuân Diệu giơ cánh tay trái lên vẫy vẫy. Huy Cận bảo: “Chào nhà phê bình”. Đã nhiều lần chia tay hai ông ở cổng này, lần nào cũng có vẻ lưu luyến riêng.


Tháng 12-2005


 


BIẾT ĐƯỢC SỰ THỰC CŨNG LÀ MỘT CHUYỆN KHÓ


Ngày 03-6-1971


Tôi đến thăm Xuân Diệu sau đợt ông đi nói chuyện ở Quảng Ninh về. Anh đưa cho tôi xem tập morasse Tôi giàu đôi mắt và nói: “Tập thơ này cũng khá chững chạc, dày 160 trang với trên 50 bài”. Tôi hỏi Nhà xuất bản chọn của ông 50 bài trên tổng số bao nhiêu bài trong tập bản thảo gửi đến. Xuân Diệu bảo: “Họ bỏ của mình 30 bài. Tuy nhiên mình cũng có kinh nghiệm, đánh giá thưởng thức thơ là tùy thuộc mỗi người, mỗi biên tập viên. Những bài biên tập viên bỏ ra không có nghĩa là nó kém mà có thể là không hợp với biên tập viên. Mình để dành và lại đưa vào các tập sau. Với biên tập viên khác, họ có thể lại dễ chấp nhận. Năm nay số lượng bản in khá hơn, năm ngoái chỉ 3000 cuốn, năm nay được 5000 cuốn - như thế là tốt hơn. Quy luật của đời sống là mỗi ngày một tiến bộ, một khá hơn. Phải chịu khó tập thể dục mà sống, sống lâu, nếu không đến khi hoàn cảnh thuận lợi thì chết mất rồi. Mình năm nay già rồi, đã năm mươi tuổi, tuổi Thìn mà. Cơ thể cũng có vấn đề, hay đau đầu, bụng cũng thỉnh thoảng sinh chuyện. Sau tập Tôi giàu đôi mắt này không biết có viết tiếp được cái gì nữa không, khai thác các vấn đề lớn đã thấy khó lắm rồi, có lẽ mình sẽ làm một tập thơ tình thôi”. Tiếp lời ông tôi nói: “Anh làm việc nhiều trong sáng tác và trên cả các hoạt động phê bình, dịch thuật chiếm hết cả phần người khác rồi”. Xuân Diệu cười xòa và bảo: “Không phải là mình làm nhiều mà là họ không làm. Mình có một hình thức đấu tranh rất khéo với các cơ quan nghiên cứu văn học. Mình cố làm nhiều để cho các anh không làm được gì thì trơ ra. Mình phải đáp ứng yêu cầu của cuộc sống. Ngay việc mình đi nói chuyện, không sao xuể, càng đi càng muốn nói nhiều. Đến mỏ, anh em công nhân rất thích nghe. Đến mỏ Hà Lâm thấy thương anh em công nhân lắm. Giá mà có năm tay kép như mình thì cũng tàm tạm”. Xuân Diệu bảo: “Trong năm tới sẽ đưa tập bút ký Cây đời mãi mãi xanh tươi và một tập tiểu luận về thơ để in. Và mình sẽ viết tiếp nhiều bài bình luận về thơ nữa. Hà Minh Đức chú ý xem bài nhận xét của mình về giải thưởng thơ. Mình có nhiều nhận xét mà Hoài Thanh rất thú. Hoài Thanh bảo, có những nhận xét của mình mà ông không nghĩ ra. Chỉ cảm thấy thôi”. Mình nhận xét cậu Bế Kiến Quốc có nhiều cái phi lô gích trong thơ. Thế bảo sinh bên một dòng sông mới anh hùng vậy thì sinh trên núi không anh hùng hay sao? Nhưng bù vào chỗ không lô gích là những cái hay khác, gợi cảm. Còn cậu Bằng Việt thì khéo léo. Chế Lan Viên quá sắc sảo khi đánh giá. Khi cần chứng minh một điều gì thì Chế Lan Viên chứng minh được và chứng minh cho kỳ được. Chế Lan Viên tự đốt cháy tâm hồn mình, nhen những mảnh lửa từ ngay trong sự suy nghĩ của mình mà ít chất sống thật. Trong những anh em trẻ có năng lực nhưng ở mỗi người con đường đi tới chưa rõ. Mình thích Phạm Tiến Duật và Trần Đăng Khoa. Phan Thị Thanh Nhàn cũng có một cái gì chín chắn trong sáng, còn ở giải ba thì xoàng quá.


Xuân Diệu bảo anh em phê bình cần giúp phát hiện ra cái hay. Mình nói nhiều về cái hay của thơ người khác, mình cũng muốn anh em cùng làm với mình. Mình cũng quý Hà Minh Đức và thấy có finesse (tinh tế) trong phân tích thơ. Đấy là thiên tư rất quý vì không thể nào rèn luyện được, nó là con người có tính chất inné (bẩm sinh). Mình muốn trong quan hệ giữa chúng mình phải thực sự giúp đỡ được nhau và quan trọng nhất là sự trung thực trong tình bạn, vì không trung thực không thể cộng tác được với nhau”. Ông còn đánh giá về nhiều tác phẩm thơ, về chuyện đời, chuyện đào về thơ và nhân cách thơ và rộng ra là nhân cách của người cầm bút. Có thể có nhiều cách nhận định khác nhau về mỗi cá thể trong góc nhìn của mỗi người. Tôi lái ông sang chuyện làm thơ về nhân cách lớn nhất là Bác Hồ. Xuân Diệu tán thưởng và đọc cho tôi nghe bài thơ anh mới viết về Bác nhân xem phòng triển lãm “Nhân dân thế giới thương tiếc Bác Hồ”. Xuân Diệu đọc xong và bảo: “Ông phải làm quân sư cho mình”. Tôi không dám, may lắm là chỉ nói với anh ý nghĩ thực của một người đọc trung bình. Xuân Diệu tiếp ý: “Mình rất cần những ý nghĩ đó, nhất là với những sáng tác chưa đăng. Ông tưởng là mình vững vàng lắm sao. Nhiều chỗ chủ quan lắm, mà đây là cái chết của bọn mình. Mình muốn được biết sự thực. Chà! Biết được sự thực cũng thật là một chuyện khó. Như mình với anh Huy Cận thì cũng đã khó, với trường hợp như anh Tố Hữu lại càng khó hơn. Nói rồi Xuân Diệu đọc một lúc mấy bài: Rừng Cúc Phương, Ổi Hồ Tây. Ông bảo: “Ông nhận xét giúp mình và đừng khen chiếu lệ”. Tôi nói tôi cũng không quen khen chiếu lệ, thích thì tôi khen, chưa thích thì tôi ngồi im thôi. Xuân Diệu gật đầu và bảo như thế là phải. Tôi nhận xét là mỗi bài có vẻ riêng nhưng tôi thích nhất là bài Ổi Hồ Tây. Ông nói nhận xét như Hà Minh Đức như thế là tinh. Bài Ổi Hồ Tây là bài thơ của kỷ niệm tuổi thơ của thời gian trôi chảy và nỗi tiếc nuối. Còn thơ viết về Bác lại là một phạm trù khác, phạm trù cái cao đẹp hòa với cái bình dị. Thơ viết về Bác khó kể cả những bài thơ viết ra trong nỗi niềm xúc động, nhất là thơ khóc Bác, bây giờ cũng bị quên đi nhiều. Tập thơ chung Bác ơi! Chìm đi và chính thời gian mới càng làm nổi lên bài Bác ơi! Của Tố Hữu. Bài thơ quý lắm, ngay cả những câu tưởng như không có gì:


Con lại lần theo lối sỏi quen


Đến bên thang gác đứng nhìn lên


Chuông ơi, chuông nhỏ còn reo nữa,


Phòng lặng rèm buông tắt ánh đèn.


Càng suy nghĩ mới thấy tác giả thật giỏi, thiên tài. Nếu anh Tố Hữu đến nhà chị Nguyễn Chí Thanh chắc không đứng bên thang gác mà nhìn lên. Ở căn phòng của Bác còn ai nữa mà lên, đứng dưới nhìn ngước lên thấy cảnh buồn, căn phòng lạnh ngắt mà xúc động. Tố Hữu đã chú ý đến cả những chi tiết đó, ý rất kín, kín đáo lắm”. Xuân Diệu lại trở lại bài thơ viết về Bác Hồ và hỏi ý kiến tôi. Tôi nói tôi thích đoạn giữa, nhiều ý hay, còn các đoạn khác có tính chất kể nhiều. Xuân Diệu gật đầu và bảo: “Nó còn có tính chất tản văn quá. Mấy câu đồng chí Chủ tịch Đảng Cộng sản Nhật nói về đôi bàn chân của Bác, mình bỏ vì nó cụ thể quá, thực quá. Cái khó là tổng kết đúc kết bằng hình ảnh cuộc đời Bác. Mở đầu bài thơ các câu:


Cây đa tươi tốt Hồ Chí Minh


Cây ô liu xanh biếc Hồ Chí Minh


Cây nho um tùm trĩu quả Hồ Chí Minh


Cây tùng cây bách hiên ngang Hồ Chí Minh


Theo mình, khẳng định cuộc đời Bác bằng những hình ảnh lớn đó là được, gây ấn tượng. Còn cho hình ảnh của đồng chí Phiđen Catrô đứng bên ảnh Bác mặc niệm thì cũng được, Xuân Diệu bảo: “Mình thấy chỗ đó hay và ông có thấy Phiđen có sức cám dỗ đặc biệt không? Đó là một thứ Giêsu cộng sản. Nó có sức quyến rũ có ma lực của tôn giáo nhưng lại là chính trị cộng sản:


Cuba nói “Bác gieo mầm cho sự sống


Phiđen đứng nghiêng mình, mũ cầm tay, lưng đeo súng”


(Xem triển lãm “Nhân dân thế giới thương tiếc Bác Hồ”)


(còn tiếp)


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học, 2013.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »