tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22987393
Tiểu thuyết
25.11.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

Chiều hôm sau, khách mời còn có hai vợ chồng anh Ngô Đức Phước, nhà giáo Nguyễn Đình Chung, con cụ Nguyễn Đình Ngân, hiện đang ở miền Bắc; anh Trung, nhà lý luận cách mạng cô đơn; Phạm Viết Tùng bạn của các anh Sáu, anh Bảy từ Quảng Ngãi ra chơi.


Cũng có bàn thờ dã chiến, hai cây sáp hồng nhỏ lệ, bình bông phượng vàng, mấy cây hương trầm. Đặc biệt, hai con cá trê nướng, món ăn cha vẫn ao ước mà không sao có những ngày cuối cùng trước khi vĩnh biệt thế gian ba năm trước. Và cả bia, nem Huế.


Lần đầu tiên trong đời, chàng tự thấy mình lớn hẳn lên khi đứng dậy cảm ơn các anh đã đến dự ngày mãn tang cha. Anh Bảy sống độc thân, không mấy tin ở sự cúng kiếng, lễ bái. Từ trưa chàng đã phụ vợ, nhưng thật sự là chỉ vẽ nàng xắt, ướp và chiên nấu các món ăn. Người vợ ngây thơ không giấu được sự sung sướng khi nghe những lời xã giao khen tặng. Chàng vừa gắp bỏ cho các thực khách vừa theo dõi những lời tranh luận trong bữa ăn.


Anh Tùng, năm đó đã gần năm mươi, đậu thành chung xong thì đi dạy học dù nhà rất giàu. Anh cực kỳ thông minh, cháu một ông Thủ khoa nổi tiếng văn chương bặt thiệp suốt một vùng trù phú hai bên bờ sông Trà: Thủ khoa Phạm Viết Trinh. Nhưng anh sống lập dị và luôn co cưỡng chống cãi mọi thứ. Anh tiêu biểu cho cái chất Quảng Ngãi hay co quê chàng. Anh và anh Bảy thâm giao với nhau và tự xếp hạng mình vào loại người không bình thường: các kỳ nhân, kỳ dị, kỳ quái, kỳ cục. Hồi năm 1950, anh dạy cấp hai ở Bình Sơn, một hôm thầy Lê Học đi thanh tra giờ giảng của anh ở lớp. Lúc họp phê bình, thầy nêu các ưu khuyết điểm. Anh cãi lại, không chịu tiếp thu. Thầy nói:


Tam ngu thành hiền, ở đây tụi tôi có cả một cái tập thể, tất nhiên là nhận xét phải đúng hơn chớ.


Anh đứng dậy, dõng dạc, làm ai cũng ngạc nhiên, trả lời sang sảng:


Tam ngu thì thành đại ngu, làm sao thành hiền được. Thôi, tôi về đây!


Và anh phủi đít đi ra, giã từ nghề gõ đầu trẻ. Kháng chiến bắt anh giam ít lâu thì tới hòa bình và anh ra làm chính trị. Anh Phước đỗ tú tài là anh ruột giáo sư Ngô Đức Thọ, đi bộ đội ít lâu thì giải ngũ về dạy trường Trung học Lê Khiết khu 5. Anh có vợ ở An Ba, một gia đình Công giáo địa chủ.


Đình chiến, anh về ngay Huế quê hương anh. Cha mẹ anh lâu đời theo đạo Phật. Bây giờ anh làm giáo sư Anh văn tại trường Quốc học, tối rằm và mồng một, anh cùng vợ đi lễ chùa đều đặn, dù vợ anh có người anh ruột đã sớm vào tu viện Công giáo và đang là sư huynh ở trường Pellerin.


Tất nhiên, bàn ăn đã hình thành một cuộc khẩu chiến nho nhỏ và ôn hòa vì Quốc gia, Cộng sản và Công giáo, Phật giáo có đủ với Trung, Chung, các lý luận gia mác xít.


Anh Tùng thì chống Cộng và chống cả Ngô Đình Diệm, anh Phước là phe các thầy Trí Quang, Thiện Minh, giáo sư Trần Như Cảnh và Nguyễn Văn Xung thì vô đạo, bài bác tất cả.


Bấy giờ ông Diệm mới từ Thủ tướng lên làm Quốc trưởng, đổi tên Quốc gia Việt Nam của đức Hoàng đế Bảo Đại thành Việt Nam Cộng hòa. Giáo sư, cựu cán bộ Nguyễn Hữu Trung khôn ngoan ít nói, trong bộ quần tây ống rộng, nhưng vẫn áo ka ki vàng, như một chính trị viên tiểu đoàn hồi xưa, anh khởi mào:


Ông Diệm là tôi bất trung. Ông là bầy tôi của Bảo Đại mà bắt dân bỏ phiếu truất phế vua. Rồi đây, lại một bộ máy quan lại kiểu Phan Văn Giáo thôi.


Nguyễn Đình Chung tuổi cũng đã gần ba mươi, da trắng như trứng gà bóc, đỗ tú tài xong, cùng ông Nguyễn Minh tổ chức tư thục Nguyễn Du và đứng lớp môn Toán. Quanh óc Chung là cái vầng hào quang của thân phụ, nguyên Tế tửu Quốc Tử Giám, đang ở bên kia giới tuyến. Anh cẩn thận trong lời lẽ cũng như luôn chải chuốt trong bộ cánh sơ mi trắng, quần gabardine hợp thời trang và trí thức, mặc dù nghe nói đến cuối đời vẫn độc thân.


Như vậy, Việt minh sẽ càng có chính nghĩa, so với những người cả đời theo Tây bây giờ khoác áo ái quốc.


Phạm Viết Tùng không còn giữ được sự ôn hòa của buổi sơ giao nữa. Anh đứng dậy vuốt mái tóc hoa râm luôn luôn bù xù của mình, nói mượn hơi bia:


Chánh nghĩa ư? Hồi ông Diệm mới về, ổng cho người cù rũ chúng tôi giúp ổng. Ổn định được mấy tháng, là ổng tìm cách loại bỏ tất, kẻ bí mật thủ tiêu, người thì nghe nói mới đưa ra Mang Cá cầm cố ngoài nầy.


Ngô Đức Phước người nhỏ thó, hai má phính như trẻ con dù đã có vợ và hai con, bằng cái giọng nửa Huế, nửa Quảng:


Tui thì tui không biết một chút chính trị nào cả. Tui có ông anh ruột là Ngô Đức Thọ, kháng chiến rồi tập kết ra Bắc. Chừ phải trở về với đạo đức, mà theo người Việt Nam mình là phải thờ cúng ông bà, tín mộ nơi Trời Phật…


Anh lắc lắc cái đầu và cười hí hí, y chang như hồi còn đi dạy học ở Quảng Ngãi.


Đến đây anh Cảnh không còn ngồi nghe được nữa. Anh hằng nung nấu một con đường thay vì lo sao sớm lấy vợ để thỏa lòng cha già con một, nên dù dạy ở trường Đồng Khánh, giữa hàng ngàn nữ sinh xinh đẹp, anh vẫn phòng không gối chiếc. Mặt anh trắng bệch như còn bị sâu sốt rét ăn thuở mới từ bộ đội ra. Anh phản bác ý kiến của anh Phước:


Moa mới về đây chừng một năm, nhưng đã đến thư viện Từ Đàm, Bảo Quốc tìm hiểu đạo Phật. Moa cũng thừa nhận Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên, Tam học, Lục hòa… của Phật là hay đấy. Nhưng, kể từ khi Thích Ca tịch diệt đến nay đã gần 2500 năm, moa chưa thấy có ai thành Phật cả. Vậy là không tưởng. Mà riêng ở miền Nam này, ông Diệm đã là Công giáo, thì khỏi phải nói ai cũng biết rằng sắp tới, đạo Phật sẽ chẳng có vai trò gì!


Từ mười chín tuổi phải tự mưu sinh, chàng đã dự nhiều cuộc họp, khi của nhà trường, của công đoàn, tới Chỉnh huấn Liên khu Năm, đã thấy bao học viên nghiến răng tố cáo tội ác đế quốc và địa chủ. Rồi tới khi chính quyền Ngô Đình Nhiệm về, lại những cuộc mít tinh bắt buộc, ồn ào[1]. Nhưng gặp gỡ bất ngờ chung quanh mâm cơm giỗ này chàng có cảm giác mình là người khách lạ.


Lâu nay, chỉ nghe một chiều, hoặc A là A, nay chàng thấy A có khi là B. nhưng trong vai chủ nhà, e sợ là sự tranh luận có khi sẽ đưa đến những lời hăng tiết sỉ vả Ngô Thủ tướng, chàng đưa mắt nhìn vợ rồi vờ ngáp dài một cái. Chung, vẫn cái con người mảnh mai, bí mật đó đã tế nhị đứng dậy nói lời cảm ơn.


Lần lượt khách khứa đội mưa lên xe đạp mà về.


Dọn dẹp xong, chàng vào phòng, cầm bàn tay vợ, đưa lên môi rồi bồi thêm lên má nàng một chiếc nồng thắm nữa, giọng cảm động: Cảm ơn em đã báo hiếu cho anh.


 


16. EM THÈM CHUA


 


Mưa như thác đổ bên ngoài. Đêm đó, nàng cảm thấy được chồng yêu hơn bao giờ hết, phủ phê thỏa mãn, như đôi rắn quấn lấy nhau tới sáng.


Sáng Chủ nhật ngủ dậy trễ, nhìn đống vỏ bia nằm lăn lóc từ đêm qua, chàng phát hiện ra rằng chân lý có thể nhìn từ nhiều phía. Nhưng việc trước mắt của chàng, một thanh niên vô danh tiểu tốt, một anh giáo hò lơ vừa mới biết đi xe đạp, là phải kiếm cơm cho hai cái dạ dày, và phải có thêm một mớ kiến thức để đảm bảo khỏi thất nghiệp.


Lâu lâu, qua những người bạn của anh Bảy, chàng được biết, tháng năm rồi, nhờ sự ủng hộ của Landsdale, ông Ngô Đình Diệm đã tiêu diệt quân của các giáo phái Bình Xuyên, Hòa hảo, Cao đài trong Nam.


Tại miền Trung, họ phá vỡ căn cứ Ba Lòng của Đại Việt ở Quảng Trị và chiến khu Quế Sơn của Việt Nam Quốc dân đảng Quảng Nam.


Ông Ngô Đình Nhu cũng đã đẻ ra đảng Cần lao nhân vị lấy lao động làm trọng, giá trị con người làm chuẩn đích. Đích thân ông Cố vấn Nhu làm lãnh tụ Thanh niên Cộng hòa và bà Cố vấn, trong bộ quân phục xanh, chỉ huy phong trào Phụ Nữ Liên Đái. Chàng dò hỏi tác giả thật của kế hoạch này và rất khâm phục biết Trần Chánh Thành, cái ông Tri huyện Cử nhân Luật đã từng theo kháng chiến ở Phú Yên, nay trở thành kiến trúc sư lương đống của triều đình mới.


Bào đệ út của tổng thống ở Huế, cũng là một chí sĩ không vợ như anh Bảy, suốt ngày ăn trầu tuếch toác được xem như một thứ Tổng trấn toàn quyền từ Quảng Trị đến Nha Trang. Không biết có bao người đã bị giết, thủ tiêu, bỏ tù nhưng kết quả là Việt Nam Cộng hòa lắc đầu nói không trước những điều khoản về Hiệp thương và Tổng tuyển cử theo Hiệp định Genève. Anh Lê Hồng Long biệt vô âm tín, chàng không chờ đợi gì nữa về lời anh hứa khi ra lệnh cho chàng ở lại miền Nam.


Dù sao, ngày mai vẫn bình an đến lớp và cuối tháng chắc chắn sẽ được lãnh lương trong khi cùng lúc tìm quên vào sự học.


Hơn một tháng sau ngày giỗ, một hôm chàng đi dạy về, vợ chàng thẹn thùng kéo chàng vào buồng để giấu vẻ mặt đỏ lên vì mắc cỡ, nàng chỉ vào bụng:


Anh! Anh!... em thèm chua!...


Chàng sung sướng ôm riết nàng, hôn tới tấp lên mặt nàng:


Cảm ơn đấng Thiêng liêng, cảm ơn cha! Chắc không? Sao em biết?


Em đã mất kinh hai tuần.


Hè năm đó, chàng đỗ hạng Bình kỳ thi tú tài, tiếng đồn về tới Quảng Ngãi, ai cũng coi chàng như một tấm gương sáng về sự tự học, để khuyên con cháu. Nhưng cái vỏ bằng cấp mà chàng đạt được chưa đủ thì giờ để thấm sâu vào người vẫn còn bày tỏ qua cách ăn bận. Có khi chàng đến lớp với một chiếc sơ mi hồng chỏi nhau với cái quần màu lá chuối xanh. Viên giám học lấy cớ sự lố bịch đó, không xếp giờ cho chàng vào niên khóa học mới.


Thất nghiệp, chàng cho vợ về quê chuẩn bị sinh nở. Với những đồng bạc ít ỏi còn lại, chàng nhờ người bạn cùng quê, cùng lớp đang tu ở chùa Bảo Quốc xin cho một chỗ trọ miễn phí gần đó.


Những trưa rằm và những ngày chùa có bổn đạo làm giỗ, chàng lên ăn mày cửa Phật một bữa cơm chay. Nhờ đó, chàng quen với một đại đức trẻ cùng tuổi, Đại đức Thích Thiện Châu.


Tái ông thất mã[2], trong cái thời gian khốn khổ không việc, cơm không có ăn này, chàng đọc và chiêm nghiệm được một phần triết lý Phật giáo, cái đạo mà đến thế kỷ hai mươi thật khác với những gì mà bà cố, bà nội chàng từng tin và lễ bái, như chàng được nghe kể lại.


Chàng vận dụng nó để xua bớt nỗi buồn cô đơn, chẳng nơi nương tựa, xa nhà, nhớ vợ, nhớ mẹ. Có đêm chàng nằm mơ thấy gặp một người con gái, hao hao giống vợ nhưng cầm tay thì bỗng dưng biến thành một hốc núi tối om. Rồi, một con hổ đen như từ tiền thân của chàng hộc tốc chạy xồ đến. Chàng kinh hãi tỉnh giấc, như cha chàng hồi xưa, mồ hôi đẫm trán, nghĩ đến đứa con sắp chào đời. Chỉ có hai bàn tay trắng khẳng khiu, chàng xót xa cho số phận, nhưng giấu kín mọi người. Thiện Châu như đoán biết tâm trạng đó, khi an ủi xa xôi, khi kể chuyện vui cho chàng khuây lãng.


Nhưng nỗi buồn nào rồi cũng qua đi, dịp may lại đến.


Một Phật tử của chùa Bảo Quốc từ Quảng Trị vào cho biết trường Trung học Tư thục Bồ Đề ngoài đó đang thiếu một chân Hiệu trưởng. Thiện Châu đã mau mắn giới thiệu chàng.


 


17. VÀO CHÙA QUẢNG TRỊ


 


Thế là lại khăn gói gió đưa, băng qua một vùng cát trắng bao la với nguyên vẹn vết tích hoang tàn của chiến tranh, chàng đến bên bờ sông Thạch Hãn. Cụ Lê Chí Khiêm, một tư sản trong ban sáng lập Hàng không Việt Nam bấy giờ và ông trợ giáo Nguyễn Văn Triển, cha của ca sĩ Duy Khánh, người vừa mất chức huyện trưởng Hải Lăng sau khi lính của ông lỡ làm đổ máu mấy người dân trong một cuộc biểu tình, cả hai đều làm Ban Trị sự Phật giáo Quảng Trị. Họ thay mặt Tỉnh Hội đón tiếp cái ông giáo Quảng Ngãi vừa lấc cấc kịp rút được chút khôn ngoan trong sự ăn mặc của mình. Hóa ra, họ mời chàng thay thế cho một trí thức nổi tiếng từng đỗ cử nhân văn chương Pháp, đã bảy mươi tuổi, muốn nghỉ ngơi.


Chàng cẩn thận:


Thưa hai bác, cụ Tạ Đình Cung là bậc thầy của anh cháu. Chắc là cháu quá trẻ và chưa đủ cái sức học để có thể kế thừa cụ.


Cụ Khiêm rót nước cho chàng:


Ông giáo cứ an tâm. Ông đã đi dạy trong kháng chiến, chúng tôi biết.


Rồi ông giới thiệu thêm hai đồng liêu khác: ông trợ Đãi và ông cửu Tăng. Ông Cửu có phố buôn lớn gần chợ Quảng Trị.


Hôm sau, chàng gặp thầy Cung để bàn giao. Tóc thầy đã bạc, người hơi ốm nhưng giọng luôn dí dỏm hài hước. Chàng xưng con với thầy, một mực tôn kính, muốn xin thầy tiếp tục giúp cho mấy giờ Pháp văn ở lớp đệ tứ nhưng thầy xoa tay từ chối:


Tôi đã có cái lương hưu mấy chục năm giáo sư ngạch Tây và cũng còn yêu nghề. Nhưng cái đám nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò ngày nay ghê lắm. Anh biết không, đi học, chúng nó giấu cả lựu đạn và súng lục trong hộc bàn đấy. Con em sĩ quan Liên hiệp Pháp còn lại mà.


Chàng nghe cũng hơi ớn. Nhưng đang thất nghiệp, như kẻ buồn ngủ gặp chiếu manh, phải theo lao vậy.


Chàng thưa:


Thầy có kinh nghiệm gì, xin chỉ giáo cho.


Thầy cười ha hả:


Trị được chúng thì tôi đã không xin thôi. Tụi phá đám tuyệt đại thiểu số, con cái của gái điếm và lính Tây. Có thằng ra đứng trước trường, xỏ cu đái xuống dòng sông. Tôi hỏi: Làm gì thế? Nó đáp: Đang câu con cá. Đấy, anh coi.


Thầy lẳng lặng rót từ bình nước ra đầy khắp tám cái chén con. Rồi cũng lẳng lặng, Thầy bưng từng chén một, uống tới hết. Chàng ngạc nhiên hỏi:


Hình như thầy… không được khỏe?


Thầy nói:


Trái lại, bây giờ rất khỏe. Sau khi trút cái gánh nặng Hiệu trưởng này cho anh. Lát nữa về chỗ trọ, không nước nôi gì, tôi đã trả phòng để về Huế. Thành thử, phải uống trừ hao cho cơn khát chiều nay.


Cả chàng lẫn thầy đều phá ra cười. Đúng là anh Bảy đã nói không sai, ông già này lúc nào cũng hóm hỉnh giễu cợt. Tối đó, cụ Khiêm đãi cơm, thầy Cung uống một bụng bia chướng lên. Chàng lại đùa:


Thưa thầy, lần này tích trữ sẵn cho cơ hội gì?


Thầy nói:


Đó. Triệu chứng là tôi sẽ vĩnh biệt tiệc tùng.


Tháng sau, chàng được tin thầy mất. Chàng rất tiếc đã không gặp lại ông tiên vui tính nầy.


Sáng thứ Hai, sau hồi trống học trò xếp hàng vào lớp, chàng đang lo âu thì gặp ông giám thị Hoàng. Ông tên Hoàng, đậu Diplôme, đi kháng chiến mới về, bị mẹ giữ lại cưới vợ.


Hoàng nói: Với đám nhóc du côn này, anh cứ an tâm, tôi đã có cú đấm thôi sơn này. Rồi anh xăn tay áo. Quả là anh chàng bộ đội mới giải ngũ này có những bắp thịt rắn chắc của một lực sĩ. Anh tiếp: - Đánh một đứa ngổ ngáo dĩ giới[3] là tụi chúng khiếp. Con cái lính Tây và gái điếm chỉ làm tới trộ (dọa) người, chớ nhát như cáy. Dân đã đi kháng chiến như tụi mình đếch sợ thằng nào.


Hoàng còn cho biết thêm: anh ruột Hoàng tên Mạnh, cũng đậu tú tài, có lúc làm thư ký cho ông Phạm Văn Đồng. Hoàng dặn:


Nhưng thôi, tụi mình về đây làm ăn, đừng nhắc chuyện quá khứ nữa.


Vừa làm Hiệu trưởng, chàng kiêm dạy Việt văn đệ tứ. Lại những bài trích của Nguyễn Công Trứ, Chu Mạnh Trinh… chàng đã làm đám học sinh say mê, và tính nào tật nấy, nhất là khi có ánh mắt lá răm của cô con gái trắng nõn phốp pháp bắt thèm của ông Diệp Đức Ký, một người Tàu lai buôn bán lớn nhất ở Quảng Trị bấy giờ.


Có một mình, chàng ăn ở luôn tại chùa Tỉnh Hội Phật giáo mà trường Bồ Đề nằm trong khuôn viên.


Chùa và trường đều trông về hướng bắc, sát bờ sông Thạch Hãn, nhỏ hơn sông Trà Khúc quê chàng một tí, nhưng tháng Tám mưa lũ, nước loáng lên trông sang bên kia bờ cũng đủ mênh mông, mờ ảo mỗi khi chiều về, càng nuôi nấng và tăng thêm cái tâm hồn sầu mộng mà cảnh đời đã ươm sẵn trong người chàng, lại luôn luôn được chăm bón bằng các biến cố chia ly trĩu nặng nhớ thương.


Chàng được phép hằng ngày thọ trai[4] với sư ông trụ trì Thích Lương Bật. Hòa Thượng đã có tuổi, suốt ngày chỉ lần chuỗi hạt, không rõ ông điều hành tu viện bằng gì mà ít khi thấy lên tiếng. Nhưng sinh hoạt của tăng chúng và bổn đạo thì cứ như một dòng chảy tuần tự im lìm, công phu sớm tối, giỗ chạp liền nhau, rằm tháng Bảy rồi Trung thu, trăng sáng miên man. Tiếng chuông mõ đều đều, hương trầm bay phảng phất, chàng nhớ lại lời cha: Trời nào nói gì đâu mà bốn mùa đổi thay (thiên hà ngôn tai nhi tứ thời hành yên).


Tất cả đều đặn trôi qua. Sư cụ đã để lại ấn tượng sâu đậm nơi chàng, dù ngài không phải là một vị danh tăng được sách vở báo chí nhắc tên một cách rầm rộ như bao vị sư khác sau này, khi Giáo hội Phật giáo ra đời, giữa bao chiêng trống cờ quạt, lọng vàng tán tía và được phát thanh truyền hình chiếu cố hết mình.


Bấy giờ, Hòa thượng có hai đệ tử trạc tuổi chàng. Nhân trường mở đến đệ tứ, hai vị này cũng ghi tên đi học: Đại đức Chánh Trực và Chánh Lạc.


Chính nhờ tình bạn với hai vị này, chàng hiểu biết hơn về Phật giáo. Cơm chay ở cửa chùa làm lòng chàng yên tĩnh phần nào. Buổi chiều, chàng ra ngồi bên bờ sông nhìn những cánh buồm trắng lênh đênh như lá cỏ nhỏ bé giữa trời nước bao la, rồi một tiếng chuông vọng lại. Chàng tự hỏi, không biết như con thuyền kia và đời chàng rồi sẽ về đâu hay chỉ là một mối thao thức như Trương Kế ngày xưa trên bến Phong Kiều. Có ở lâu tại Quảng Trị mới thấy hết cái khắc nghiệt mà ông trời dành cho dải đất miền Trung vốn được ví von một cách đẹp đẽ êm tai: Miền thùy dương bóng dừa ngàn thông… trong bản nhạc Phạm Duy. Mới hôm qua, gió Lào còn thổi nóng rát mặt, sờ bàn ghế, áo quần như muốn bỏng tay thế mà chỉ cần một đêm… Bán dạ phong xuy chỉ qua một trận gió đêm thổi, đủ thấy được hơi ấm và cái rét, nói như lời người xưa, là mưa dầm sùi sụt lạnh đến tê da tím thịt, phải dồn hết bao nhiêu đồ ấm mà mình có, nếu là người già, thì chỉ co ro trong nhà. Lụt bão liên miên, mùa màng thất bát, cái đói luôn luôn đe dọa như chó cắn áo rách. Ngày nghỉ, chàng cùng mấy anh học trò lớn đi thăm cổ thành, ra tận cầu Hiền Lương, nhìn sang bên kia để nhớ nguyên vẹn cái thuở hai mươi nhiệt huyết của mình.


Cũng có lúc chàng nhàn nhã đạp xe xuống Sãi vừa ăn những trái dâu đặc sản, vừa trò chuyện với bà con ở đây, nhờ đó chàng biết nơi nầy là quê hương của ông Lê Duẩn.


Là một gã con trai phải bỏ làng ra đi vì bị tình nghi Việt cộng nằm vùng, phải tha phương cầu thực, kiếm miếng cơm manh áo cho ba mạng người, cho mình và cho vợ, cả cái bầu của nàng, nay về danh thì được phong Hiệu trưởng Trung học, về lợi thì cái lương nhỉnh hơn hồi dạy trường Nguyễn Du một chút, lại được cửa chùa mở rộng cho ở không, cơm chay được ăn chùa, chàng an lòng tự thấy đã đến hồi số phận không bạc ác với mình. Nhưng thấy thì thấy, thương vay khóc mướn vẫn cứ thương, có dịp một mình đối bóng là chàng lại làm thơ nói lên nỗi sầu buồn cô đơn, than cho sự ngắn ngủi của kiếp người, tấm thân lữ thứ tha phương, nên mây trời nào cũng u hoài, nắng mưa nào cũng ảm đạm. Lãng mạn chơi vui thôi, để làm dáng rằng ta đây nghệ sĩ, còn việc làm ăn thì tính rất chắc. Này nhé: cái lương tư thục nào có bảo đảm gì, cứ coi cách đối xử của trường Nguyễn Du thì rõ, khi cần, người ta mướn, lúc không, thì a lê húp, người ta đá đít ngay, không thương tiếc!


Các cựu giáo sư Lê Khiết: các anh Cảnh, Phước, Quới, Hoàng Ngọc Thành… đều chẳng đã vào dạy trường công đó, không thấy sao? Chàng kín đáo gửi đơn cho Nha Học chánh xin được bổ nhiệm.


Trong khi chờ đợi, giữa tháng Mười trong lúc tình bạn giữa chàng và Hoàng tha thiết nhất thì được thư anh Sáu tin cho biết là vợ chàng vừa đẻ con trai! Mừng rỡ vô hạn, nhưng cũng băn khoăn trước việc số mệnh đã đặt lên đôi vai gầy của mình, thêm một thiên chức nữa: làm cha, nghĩa là phải có thêm tiền để mua sữa cho con, mài nghệ cho vợ uống và sắm khăn, tã cho thằng cu. Họ đang ngồi bên ly cà phê đặc sánh một chiều Chủ nhật nhìn làn mưa dầy phủ trắng mặt sông. Chàng bảo bạn:


Có khi tôi phải về thăm nhà một chuyến.


Hoàng trấn an:


 Mừng cho anh. Được thôi, tôi sẽ xử lý thường vụ công việc trường, giúp anh một tuần.


Rồi họ kể chuyện hồi còn ở bộ đội, Hoàng cho biết có lần đóng quân tại Thi Phổ từng trồng cây si cô cháu gái ông địa chủ giàu nhất vùng ở đấy.


Chàng nói:


Đúng chóc quê tôi.


Hoàng hỏi:


 Vậy là nhà anh đối diện ông Bác Tiên? Có lúc tôi gắm ghé cô Liên đấy.


Chàng đùa:


Vậy ông là tình địch không đội trời chung của tôi đó. Cuộc đời nổi trôi, hôm nay chúng ta ngồi đây, điếu thuốc ngắt làm đôi, kỳ bí làm sao!


Họ cùng phà khói, cười ha hả. Chốc lát họ cùng xua tan trong lòng mỗi người bao nỗi lo lắng riêng tư. Chàng đoán công an Diệm ở Quảng Trị đang theo dõi Hoàng. Ngày sau, chàng lại nhận được sự vụ lệnh làm Giáo sư dạy giờ tại trường Trần Quốc Tuấn ở Quảng Ngãi. Nhớ lời cha trăng trối trước khi nhắm mắt: Đừng bao giờ để ta phụ người, chàng rất xót xa thấy mình không phải đạo trước tấm lòng thương mến của các cụ Khiêm, cụ Triển, cụ Đải, nếu nửa đường dứt gánh ra đi. Nhưng việc phải đến, đã đến.


Chỉ có mấy ngày để bàn giao, cơm chay tiễn hành ở nhà chùa. Đêm trước ngày rời Quảng Trị, chàng đến ngủ với Hoàng, hai người trai trẻ nối thuốc nói chuyện thâu đêm, tưởng không bao giờ xa nhau được. Hoàng cũng tỏ vẻ biết chữ Hán, chàng ngâm bài Dương liễu từ của Lê Bích Ngô gửi Phan Thanh Giản (thác lời cây Dương liễu nói với người ra đi) để tặng bạn:


Tà ỷ thanh thanh bạn tịch dương


Thanh thanh thanh ảnh nhập trì đường


Đa tình bất dữ hành nhân thuyết


Bạn trước lưu oanh, thuyết đoản trường…


Hoàng cũng đáp lại bằng cái lối ngâm thơ Nam Ngãi hào phóng một thời kháng chiến oai hùng:


Tơ liễu dài, dài có ích chi


Buộc sao được vó ngựa phi dặm trường.


(Tây Sương ký)


Vậy mà trải năm mươi năm chia tay họ không hề viết cho nhau một dòng dù chỉ cách nhau chưa đầy ba trăm cây số. Nghĩ lại chàng tự thấy không thể hiểu mình, không thể hiểu người khác, man, that stranger! con người, kẻ xa lạ đó.


 


18. TRỞ LẠI QUÊ NGHÈO


 


Quảng Ngãi hai năm sau đình chiến (1956) đã có nhiều thay đổi.


Người tản cư trở về đông hơn, cửa hàng và người đi bộ, xe Jeep nhộn nhịp hơn, bụi mù trời. Trường Trung học Công lập Trần Quốc Tuấn của tỉnh ở gần Cống Kiểu. Thầy Nguyễn Vỹ, nhà giáo nổi tiếng trước làm Hiệu trưởng nay đã ra Huế nhận chức thanh tra.


Hiệu trưởng mới, ông Như, dùng hai phòng học, một làm văn phòng và một làm nhà ở với vợ con. Ông là người duy nhất trong trường bấy giờ có cái mobilette xanh của Pháp và biết đánh quần vợt.


Anh Sáu đã bị đổi đi Phan Rang trong cơn lốc thổi bay tất cả những người trí thức làm chính trị ở địa phương, khúc dạo đầu khủng bố đối lập của nhà Ngô.


Đón tiếp chàng đến nhận việc, ông Như tươi cười niềm nở để lộ hai cái răng vàng:


Moa cũng vừa nằm rừng ở miền Tây Quảng Bình, dinh tê mới hai năm. Thi lại tú tài, đi dạy Đồng Khánh với moa phăm. Thời cuộc này… - Ông dừng lại một chút như đắn đo lựa lời: Anh Nguyễn Văn Hai[5] kêu mình vô đây, mới được hai tháng, chân ướt chân ráo. Có ông về với quê nhà, tôi rất mừng. Ông kín đáo khoe mối quan hệ lớn giữa mình và thượng cấp. Chàng không hiểu sao đột nhiên từ moa toa ông đổi ra ông, tôi và nghiêm giọng:


- Học trò trường ta cũng từ thời Việt minh cũ, lớn ngồng mà còn đi học đệ ngũ, tứ… Phải kỷ luật sắt như bên kia mới được.


Chàng gật đầu vâng dạ lia lịa khiến ông hiệu trưởng càng khoái chí cười ha hả cho cái uy và tài nói chuyện của mình. Nhờ đó, ông dễ dãi cho chàng nghỉ mấy ngày liền để thu xếp việc nhà. Tậu ngay một chiếc xe đạp, sau khi gửi gắm áo quần cho anh Bùi Đức Chu, một nhà giáo bậc thầy, tại nhà chàng tính sẽ cùng ở trọ, cách trường non cây số, chàng chụp mảnh vải ni lông vào người, còng lưng cho đỡ bị mưa táp vào mặt, lếch nhếch trên con đường đá có nơi hầm hố chưa lấp xong, nơi hủng hiu lỗ chân trâu đầy bùn, băng qua chợ Chùa, trèo đèo Eo Gió, mất cả gần một ngày trời trên con đường chỉ mười sáu cây số chàng mới đến được bến đò huyện, nhằm lúc cơn lũ đang về chảy cuồn cuộn cuốn phăng đi bao rêu rác phiêu bồng. Nhìn con đò nhỏ mỏng manh, chàng những e ngại nhưng người thanh niên lực lưỡng chèo ghe giơ mái dầm lên, trấn an:


Con nước này đối với tôi nhằm nhò gì.


Chàng thìa cho anh ta một điếu thuốc lá Ruby:


Tôi không biết bơi đấy nhé. Cho chắc ăn, để tôi cởi bộ quần áo nhét vào túi đã.


Chính cái mong ước được nhìn mặt đứa con trai đầu lòng mới chào đời đã cho chàng cái can đảm leo lên chiếc thuyền nan chòng chành đó. Rủi quá, gần đến bờ, để tránh một khúc gỗ đang trôi ngang chỗ nước xoáy, cả hai rơi tòm xuống sông. Những buổi trưa dầm mình hồi còn bé trên bến Đình đã giúp chàng dễ dàng bơi tới bám vào rễ cây và leo lên bờ trước. Họ cười hề hề sảng khoái.


Lại chỉ bận chiếc quần đùi và đi đôi dép râu, treo túi xách trên vai, thỉnh thoảng phải vác chiếc xe đạp qua các vũng lầy, gần tối chàng mới đến nhà. Mọi người la lên mừng đón, hàng xóm bu lại đông đen. Vợ chàng lẹp quẹp trên đôi guốc mộc ôm thằng bé còn đỏ hỏn ra trình diện. Thoạt tiên, chàng bỗng dưng thấy vô cùng xa lạ và không dám đưa tay ẵm. Vợ kể:


Ngày sinh nó, cả vùng bị lụt lớn, xóm bên kia có mấy người bị cuốn đi mất tích.


Hơ tay trên trã than hồng và nhìn chiếc dĩa sành củ nghệ đang mài vàng khè, chàng đọc đùa câu thơ mà cha chàng thường ngâm, tả cảnh một ông đồ kiết hồi xưa nuôi vợ đẻ:


Nghèo! nghèo! Nghèo! Mẹ kiếp! Nghèo


Tránh đi mà nó vẫn đi theo


Nấu cơn thổi lửa phồng mang ếch


Mài nghệ vung văng vẽ mặt mèo.


Đúng, hiện giờ chàng là một ông đồ, một ông đồ Tây nghèo kiết. Ngoài mấy bộ quần áo, cái xe đạp và cây viết, gia sản của chàng chỉ còn người vợ nửa quê nửa tỉnh và đứa hài nhi hồn nhiên nhất khối. Mẹ vợ chỉ đứa bé nói với chàng:


 Coi thử nó có giống ông xích lô nào ngoài Huế không?


Chàng vâng lời nhìn kỹ: má phính, mũi cao và đôi mắt sáng đen lánh như hai viên ngọc huyền. Nó như bất cứ trẻ sơ sinh nào trên thế gian, chàng nghĩ, giống Chúa Hài Đồng trong tay Đức Mẹ Maria và giống cả Phật Đản Sanh mà chàng thấy trong bức tranh trên vách chùa Từ Đàm.


Cái tính vô tâm như nhân vật Mao Ất trong tuồng San Hậu của chàng chỉ giúp chàng thấy được mối tương đồng duy nhất giữa mình và con trai: nước da màu bánh mật mà nhân loại đã xếp chàng với hàng tỷ người khác trên cái lục địa mênh mông, phần lớn còn hoang vu, nghèo khổ, tối tăm của châu Á: da vàng. Chỉ nghỉ vài ngày, cô nàng chưa bỏ guốc, thế là chàng phải về Thi Phổ để thăm mẹ.


Bấy giờ, mẹ mới biết là chàng đã đổi về dạy học ở tỉnh nhà. Chàng trọ với hai giáo sư cùng trường, anh Chu và Nguyễn Duy Khác, hình thành một bộ Đào viên kết nghĩa cho tới già. Cả ba ăn cơm tháng nhà ông Sự.


Mùa đông, họ ngồi chồm hổm trên phản gỗ, mỗi người trùm trên đầu một chiếc khăn lông quấn xuống mấy vòng quanh cổ, quê mùa như ba ông thợ xe. Cơm ăn mỗi người năm đồng một bữa, thường có một tô canh cải nấu thịt, ba lát cá hố kho mặn và thường trực, rau muống luộc.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info


 


 







[1] Chứng kiến tay chân Diệm tố Cộng, bịa thêm bao tội ác đổ lên đầu những người kháng chiến.




[2] Cách ngôn về việc ông họ Tái mất ngựa: lúc đầu mất ngựa, ai cũng cho là rủi. Chẳng dè, ngựa tự dưng trở về, ai cũng cho là may vì ngựa còn dắt thêm bạn về. Nhưng rồi con ông cưỡi ngựa mới, bị té gãy chân: rủi. Cho nên: may đó rủi đó.


 




[3] Dĩ: để, giới: răn đe. Dĩ giới: để răn đe.




[4] Thọ trai: ăn chay.


 




[5] Tức Giáo sư Nguyễn Văn Hai, cử nhân Toán, Giám đốc học chánh Trung phần 1956, thời ông Diệm, sau này đỗ Tiến sĩ Toán.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 18.06.2018
Trại súc vật - George Orwell 13.06.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.06.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 11.05.2018
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 07.05.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 07.05.2018
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 07.05.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 20.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
xem thêm »