tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21054364
23.11.2013
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (12)

CÁC BÀI THƠ VỀ TRĂNG CỦA XUÂN DIỆU


 


Ngày 07-11-1969


Sau khi nói xong về Đây mùa thu tới, một trong số ít những bài thơ hay nhất về thu của phong trào Thơ mới, Xuân Diệu nói đến những bài thơ viết về trăng. Trăng trong thơ Xuân Diệu có vẻ đẹp riêng độc đáo. Đó là vầng trăng của trần thế soi sáng cho không gian đẹp của nhiều khu vườn tình tự, của lứa đôi, trăng và những cuộc đời cô đơn trong giá lạnh. Xuân Diệu có nhiều bài thơ về trăng như Trăng, Nguyệt cầm, Buồn trăng, Ca tụng và đỉnh cao là Nguyệt cầm. Bài Trăng được mở đầu bằng những vần thơ đẹp:


Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá,


Ánh sáng tuôn đầy các lối đi.


Tôi và người yêu qua nhè nhẹ…


Im lìm, không dám nói năng chi.


Xuân Diệu nói: Không gian im lặng, không xao động, không vận động. Trong bài Trăng, tôi muốn không gian không có thời gian. Thơ cổ Trung Quốc muốn tĩnh hóa, lấy không gian là chính và như thế cũng dễ tạo được chiều sâu cho liên tưởng. Huy Cận cũng có những bài thơ chỉ có không gian đẹp mà dường như không chú ý đến thời gian như Đẹp xưa và Thu rừng. Huy Cận tước mouvement (vận động) để cảnh vật tĩnh lặng nổi lên. “Im lìm không dám nói năng chi”, nói là lạc điệu. Cách nói của individu của một thanh niên vừa như muốn làm cho to chuyện, vừa giàu tưởng tượng:


Bâng khuâng chân tiếc dậm lên vàng,


Tôi sợ đường trăng tiếng dậy vang.


Ngơ ngác hoa duyên còn núp lá,


Và làm sai lỡ nhịp trăng đang.


Không gian tĩnh lặng càng làm cho trăng thêm đẹp. Tất cả cho vẻ đẹp của đêm trăng. Những yếu tố làm cho náo động đều không thích hợp.


Dịu dàng đàn những ánh tơ xanh,


Cho gió du dương điệu múa cành;


Cho gió đượm buồn, thôi náo động,


Linh hồn yểu điệu của đêm thanh.


Trong khổ thơ trên, hai cặp từ du dương và náo động đều là những động từ. Tất cả phải loại trừ chỉ còn lại đêm trăng thanh tĩnh lặng. Yếu tố tình yêu không được nói đến nhiều. Dường như chỉ có những bước đi nhè nhẹ, lặng im. Chính vì thế nên không gian càng như mở rộng. Tình yêu và thiên nhiên thơ mộng, Xuân Diệu chăm sóc nhiều cho khung cảnh thiên nhiên tình yêu không khỏi trở nên cô đơn, xa vắng.


Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá!


Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ.


Cái kết thúc của những bài thơ trăng thường là nỗi buồn, là cảm xúc bâng khuâng. Ở bài thơ Buồn trăng, nỗi buồn là tình cảm chi phối toàn bài. Buồn trăng viết năm 1940. Trong cảm hứng chung của Gửi hương cho gió, Buồn trăng mang tâm trạng. Trong bài thơ này không gian vẫn rộng lớn:


Gió sáng bay về, thi sĩ nhớ;


Thương ai không biết, đứng buồn trăng.


Huy hoàng trăng rộng, nguy nga gió,


Xanh biếc trời cao, bạc đất bằng.


Mấy câu thơ như quá nhiều chiều không gian và không gian không tĩnh lặng. Cảm xúc về thiên nhiên rất sáng từ ngọn gió: gió sáng bay về… và mây trắng, những áng mây như không chuyển động và có tự ngàn xưa. Câu thơ “Mây trắng ngang trời tự thuở xưa” mang giọng điệu của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc lâu. Tác giả càng miêu tả không gian càng như ớn lạnh, một không gian như rợn ngợp, không bắt gặp những hình ảnh gần gũi ấm áp và cái ớn lạnh lên đến đỉnh cao với ý thơ:


Trăng ngà lặng lẽ buông như tuyết,


Trong suốt không gian, tịch mịch đời.


Và cuối cùng không gian càng ngày càng thêm lạnh lẽo. Gió lạnh lại thêm sương lạnh và sương lạnh càng về khuya càng thêm nặng hạt, “Gió nọ mà bay lên nguyệt kia - Thêm đem sương lạnh xuống đầm đìa”. Nỗi nhớ vẫn chưa nguôi. Xuân Diệu đã sử dụng không gian trong đêm trăng để tả nỗi buồn, nỗi nhớ.


Ngẩng đầu ngắm mãi chưa xong nhớ,


Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya.


Và cái kết thúc lại trở về với cuộc đời gần gũi ấm áp. Xuân Diệu khép lại câu chuyện về bài Buồn trăng.


Tôi lại hỏi tiếp ý kiến ông về bài Ca tụng. Xuân Diệu nói, Ca tụng lại theo hệ thống cảm hứng khác. Nhà thơ không bị lôi cuốn vào cuộc như Trăng và Buồn xưa để phải chịu đựng nỗi buồn, sự ám ảnh của khung cảnh đêm trăng. Ca tụng đứng tách ra để ca ngợi, tụng ca về vẻ đẹp, sự nguy nga, vị trí của vầng trăng giữa thiên nhiên và tạo vật. Cần chú ý mối quan hệ giữa nhà thơ và vầng trăng muôn đời. Vầng trăng là nguồn sáng tạo cho thi ca. Cổ kim đông tây, nhất là thơ phương Đông, trăng chiếm vị trí quan trọng. Xuân Diệu đọc giọng vang và say sưa:


Trăng, vú mộng đã muôn đời thi sĩ


Giơ hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy,


Trăng, hoa vàng lay lắt cạnh bờ mây;


Trăng, đĩa ngọc giữa mâm trời huyền bí;


Trăng, vú mộng đã muôn đời thi sĩ


Giơ hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy.


Tôi nói: Đọc Ca tụng bắt gặp vầng trăng đẹp, biến hóa nào là trăng vú mộng, trăng võng rượu, trăng bình yên, trăng náo nức, rồi trăng của tình duyên… Bài thơ của anh đã nâng trăng lên như một biểu tượng của cái đẹp lãng mạn, cái đẹp muôn đời. Nam Cao trong truyện ngắn Giăng sáng cũng mượn ý thơ “Trăng vú mộng đã muôn đời thi sĩ - Giơ hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy” để nói lên tâm hồn lãng mạn của nhân vật Điền bị cuốn theo cái đẹp mơ mộng.


Xuân Diệu nói: Có thể các nhà thơ, nhà văn cũng chịu ảnh hưởng của nhau. Xuân Diệu tiếp nhận nhiều ảnh hưởng và có thể cũng tạo được ảnh hưởng với đồng nghiệp và bạn đọc. Bài Ca tụng cũng chịu ảnh hưởng của thơ Pháp mà cụ thể là Bôđơle với bài Le Balcon. Bà Ca Tụng được viết trong cảm hứng ngây ngất. Các khổ thơ được láy đi láy lại nhưng rộng lớn như cảm hứng vũ trụ trong thơ Huy Cận:


Gió căng người trên những cánh buồm thuyền


Người định nhịp cho sóng triều xuôi ngược


Rừng xõa tóc để người thành chiếc lược


Biển nhân người thành ức triệu vòng khuyên.


Không dễ sáng tạo nên những hình ảnh bao la rộng lớn đó.


 


VỀ BÀI THƠ NGUYỆT CẦM


 


Ngày 07-11-1969


Sau khi nói về bài Đây mùa thu tới, Xuân Diệu tiếp tục câu chuyện qua việc phân tích các bài thơ Nguyệt cầm và Lời kỹ nữ.


“Xuân Diệu luôn bị ám ảnh bởi vấn đề không gian và thời gian kể cả trong 200 bài thơ tình. Nguyệt cầm trước Cách mạng được thích hơn Buồn trăng. Bây giờ Buồn trăng dễ hiểu hơn, dễ tiếp nhận hơn. Nguyệt cầm tinh vi quá, cao cường hơn. Những bài thơ trăng đều gắn với vẻ đẹp không giang. Nguyệt là vầng trăng cũng lại vừa là cây đàn nguyệt:


Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh


Đây là cách nói tượng trưng của Á đông. Thơ tượng trưng của Malácmê cũng thường gợi nhiều ý nghĩa. Câu thơ tạo nghĩa nhập là ánh trăng nhập vào cung đàn nguyệt, cũng có nghĩa là nhập vào cung trăng.


Tiếp ý:


Trăng thương/ trăng nhớ/ hỡi trăng ngần.


Câu thơ được ngắt theo nhịp 2/3. Vầng trăng không xa xôi mà gắn với tình cảm nhớ thương. Đàn nguyệt tiếng không liền mà ngắt từng âm thanh nhỏ như rơi từng giọt:


Đàn buồn, đàn lặng ôi, dàn chậm!


Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.


Lệ ngân là lệ bạc, rơi từng giọt trong đêm trăng: Giọt lệ bạc phản ánh ánh sáng mờ ảo trong đêm trăng. Lệ ngân cũng hàm nghĩa giọt lệ ngân nga. Trong đêm trăng vẫn có những tiếng ngân vang của chính ánh sáng. Bài thơ vẫn giữ trong khung cảnh của không gian tĩnh. Sự im lặng càng có ý nghĩa để làm nổi lên âm thanh của tiếng đàn:


Mây vắng trời trong đêm thủy tinh


Lung linh bóng sáng bỗng rung mình.


Bầu trời đêm trong suốt không gợn mây, trăng tỏa sáng tạo nên một bầu trời đêm sáng trong, đêm thủy tinh. Cái đẹp đã chạm vào một chút sự ghê rợn. Tâm hồn thi sĩ càng cảm thấy chơi vơi, cái bé nhỏ như đối lập với cái mênh mang rộng lớn tạo nên những tương phản, tương phản càng lớn càng vĩ đại. Và không khí đêm trăng như trở về với quá khứ và mang không khí linh thiêng; không còn ở trạng thái cảm thụ cái đẹp hiện tại mà chuyển vào sự tích của quá khứ linh thiêng. Ánh trăng làm cho ớn lạnh cho rùng mình:


Vì nghe nương tử trong câu hát


Đã chết đêm rằm theo nước xanh.


Lịch sử không tách rời với hiện tại và những yếu tố của khung cảnh thơ như câu hát của nương tử, đêm trăng rằm dòng nước xanh đều gần gũi với đêm trăng trong Nguyệt cầm. Chuyện buồn trong quá khứ vẫn vương vấn đến hiện tại. Đêm trăng không thể tách rời mà vẫn có dòng chảy và những nhân vật linh thiêng của quá khứ.


Bài thơ chuyển mạnh sang một cung độ mới da diết mạnh mẽ hơn. Trời lạnh, trăng càng về khuya càng sáng và trăng sáng lại làm cho khung cảnh thêm giá lạnh:


Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,


Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi…


Ý thơ: đêm lạnh, nước lạnh, thu lạnh được nhấn mạnh, đến mức phải thốt lên lời tán thán: trời ơi! Không khí tĩnh lặng trở nên nặng nề, da diết:


Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:


Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người.


Long lanh là sự vang vọng của ánh sáng. Âm thanh được vật chất hóa như tiếng sỏi. Tiếng sỏi vẫn thường lắng nghe khi dạo chơi trong vườn trăng trên lối đi. Tiếng sỏi cũng hợp với không khí của đêm trăng. Những câu thơ vẫn đi về giữa quá khứ và hiện tại. Càng về khuya, trăng mờ ảo, nhất là khi trời khuya đã có sương khói và cũng phù hợp với thời gian đổi thay của đêm trăng, có lúc ngời sáng có lúc mờ ảo. Và cuối cùng là nỗi buồn bao trùm khắp cả không gian:


Sương bạc làm thinh, khuya nín thở


Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê”.


Bài Nguyệt cầm được Xuân Diệu kể say sưa với tôi trong một buổi tối không có điện. Ông rủ tôi ra và kê ghế ngồi dưới trăng dọc lối đi vào nhà. Xuân Diệu ngồi trên chiếc ghế dài, thỉnh thoảng ông lại nằm xuống và vẫn say sưa nói. Ấn tượng mạnh nhất mà tôi thu nhận được là nhà thơ đã sống lại có lúc như say mê, như thăng hoa. Ông ca cho tôi nghe điệu Nam ai, Nam bằng. Ông nói: “Nguyệt cầm là thiên về tiếng đàn cổ, đàn nguyệt, đàn tranh và cũng gắn với những bài ca truyền thống, nhất là ca xứ Huế, Nguyệt cầm gây ấn tượng đẹp về âm nhạc nên ngôn từ phải chuyển tải ý nhạc. Ngôn ngữ thi ca phải tinh vi đến độ cao cường. Phải láy luyến từng chữ như từng nốt đàn”.


Tôi cáo biệt ông ra về, đêm không điện chắc là ông sẽ đi nghỉ sớm. Trăng lúc này vẫn sáng, soi bóng hai cây hoàng lan xuống lối đi trong vườn.


Trong dịp kỷ niệm sáu mươi năm phong trào Thơ mới (1932-1992), tôi đã tiến hành lấy ý kiến của các nhà thơ Huy Cận, Tế Hanh, Anh Thơ, Nguyễn Xuân Sanh, Hoài Chân và một số nhà thơ thời kỳ sau cách mạng, để chọn bài hay nhất của từng tác giả. Với Xuân Diệu, các nhà thơ đều nhất trí chọn Lời kỹ nữ và tiếp đó là Nguyệt cầm. Huy Cận cho rằng cả hai đều có giá trị. Lời kỹ nữ có tư tưởng rõ nét hơn. Với Nguyệt cầm, cái tôi thi sĩ chìm sâu trong hình ảnh và nhạc điệu.


 


VỀ BÀI THƠ LỜI KỸ NỮ


 


Ngày 16-11-1969


Lời kỹ nữ được xem là một trong số rất ít bài thơ hay nhất của Xuân Diệu. Các nhà thơ mới trong tuyển chọn bài hay đã nhắc đến Lời kỹ nữ. Xuân Diệu cũng rất ưu ái đứa con tinh thần này. Một lần tôi đến chơi, ông đã cho xem bản thảo Lời kỹ nữ. Một tập những tờ rời được ghim lại, mỗi tờ là một bản nháp. Xuân Diệu sửa sang cho bài thơ ngày càng hoàn thiện và cuối xùng là bản in. Về Lời kỹ nữ, Xuân Diệu nói: “Bài thơ được khơi nguồn từ hình ảnh Đỗ Thập Nương - người kỹ nữ tiêu biểu, tài hoa thuộc loại giai nhân - tài tử. Và những con người này trong cuộc đời cũ không tránh khỏi những bi kịch xót xa. Khi còn ít tuổi, tôi đọc Bên sông đưa khách của Thế Lữ và thấy rất hay:


Lòng em như nước Trường Giang ấy,


Sớm tối theo chàng đến Phúc Châu.


Xuân Diệu với Lời kỹ nữ đã dépasser (vượt qua) Bên sông đưa khách của Thế Lữ. Lời kỹ nữ nhẫn mạnh số phận của cá nhân, nỗi bơ vơ individu của người đang yêu mà không được yêu lại. Bài thơ nói lên khát khao chính đáng của con người là quyền được yêu. Người kỹ nữ ở vào tình trạng mất quyền bình đẳng và như bị tình phụ mà sâu xa là do cuộc đời phụ bạc. Trong tình yêu, đàn bà mê đàn ông kinh khủng hơn. Tác giả tạo khung cảnh của đêm trăng: “đên nay rằm” - đó là lúc tụ hội, gặp gỡ. Người kỹ nữ chỉ hình dung ra sự gặp gỡ hội hè trong trí tưởng tượng:


Đêm nay rằm, yến tiệc sáng trên trời;


Khách không ở, lòng em cô độc quá.


Bao nhiêu lời mời mọc chân tình: “Khách ngồi lại cùng em đây gối lả - Tay em đây mời khách ngả đầu say - Đây rượu nồng và hồn của em đây - Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử”. Nói đến đây, Xuân Diệu hỏi tôi: “Tại sao mình lại khai thác hình ảnh người kỹ nữ từ gốc Trung Hoa cổ mà không lấy mẫu từ cuộc đời hiện tại như trường hợp Tiếng hát sông Hương?”. Câu hỏi bất ngờ và tôi không khỏi lúng túng. Tôi trả lời: “Có lẽ anh muốn tạo một khoảng cách về thời gian cả về không gian để hình tượng người kỹ nữ bớt đi vẻ phong trần tục lụy và không lẫn lộn với người con gái giang hồ hôm nay nên cái bi kịch tìm đến cái đẹp và sự lương thiện gây xót xa hơn”. Xuân Diệu cười: “Nhà phê bình đã chạm đúng vấn đề rồi. Người kỹ nữ xưa tài sắc và cũng thành thạo đủ ngón cầm kỳ thi họa, nhưng vẫn bị xem là những cô gái mua vui cho kẻ quyền thế. Họ cũng khát khao một hạnh phúc, một mái ấm gia đình. Trong Lời kỹ nữ, tôi dùng nhiều vần cổ truyền trong hát nói và cổ ngôn như những câu:


Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử”.


Thực ra thì người kỹ nữ chính là tác giả. Xuân Diệu nghĩ rằng chàng thi sĩ cũng như người kỹ nữ đem lời thơ chia sẻ dâng hiến cho mọi người nhưng cuối cùng lại gặp sự thờ ơ. Nhưng bản chất người thi sĩ mang trong mình tình yêu vô tận, có thể bị tình phụ nhưng tình yêu lại tái sinh cũng giống như người họa sĩ trong Phấn thông vàng, tình yêu không thể cạn kiệt.


Bài thơ lại mở ra trong không gian rộng lớn của vùng biển Quy Nhơn. Vầng trăng từ chân trời như thong thả bước lên ngôi cao:


Trăng từ viễn xứ


Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn.


Xuân Diệu ở Quy Nhơn và thấy rõ trăng mọc như thế nào. Trăng ở Quy Nhơn mọc theo con đường thẳng. Hai câu thơ đi theo hai chiều trái ngược, trăng mọc đi thẳng lên đỉnh trời còn gió lại cuốn theo chiều ngang:


Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn.


Hai chữ lan xa, hai vần “a” như kéo dài chiều gió và thoảng rợn gợi một xúc động không bình thường, rợn ngợp.


Nỗi buồn chi phối lan tỏa, người kỹ nữ sợ nỗi cô đơn. Người đã từng đem tiếng hát xoa dịu nỗi cô đơn của người khác lại ở vào tình trạng cô đơn:


Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn,


Chớ để riêng em phải gặp lòng em.


Tình yêu đã biến thành lời cầu khẩn da diết:


Tay ái ân - du khách hãy làm rèm,


Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng.


Và đến lúc mọi sự níu kéo đã vô vọng, người kỹ nữ đành buông thả tâm hồn theo dòng trôi:


Đẩy hộ hồn em triền miên trên sóng,


Trôi phiêu lưu không vọng bến hay gành;


“Bản thân nhà thơ như hóa thân và xúc động qua hình ảnh này”.


Xuân Diệu nói tiếp. Phần kết của bài thơ, du khách đã ra đi theo tiếng gọi của lối sống giang hồ. Người con gái còn lại với nỗi buồn da diết. Thực ra một điều bi kịch nữa là người kỹ nữ trong trải nghiệm nghề nghiệp của mình cần phải hiểu rõ bản chất của những kẻ lãng du và cũng không nên đặt ở họ một niềm hy vọng gì. Xuân Diệu lại cho biết kết bài gồm ba câu sau précipité (vội vàng), nói ngắn:


Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt.


Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sôi trôi.


Du khách đi.


Du khách đã đi rồi.


Cuối cùng chỉ còn lại người kỹ nữ với những giọt nước mắt”.


Sau một vài giây phút tôi lại hỏi: “Trong thời kỳ này có nhiều bài thơ viết về người con gái giang hồ như Tiếng hát sông Hương của Tố Hữu, Cảnh đoạn trường của Thái Can… Các tác giả đều có dịp hoặc gặp gỡ hoặc quan sát đối tượng miêu tả còn anh thì nhân vật nặng nề chất liệu sách vở, nhưng có bạn đọc nào nghĩ rằng anh cần tiếp cận với nhân vật ngoài đời để tạo hình tượng thơ không?”. Xuân Diệu tỏ ý bực mình: “Người kỹ nữ trong thơ mình không phải là con người trần tục mà chỉ là một hình bóng xa xưa, Xuân Diệu mượn để nói về chàng thi sĩ hôm nay. Tuyệt nhiên Xuân Diệu không bao giờ đặt chân tới chốn bình khang ấy”.


 


 


VỀ BÀI THƠ DUYÊN CỦA XUÂN DIỆU


 


Ngày 08-01-1970


Nhà thơ Xuân Diệu đã nói về nhiều bài thơ hay của tác giả như Đây mùa thu tới, Nguyệt cầm, Lời kỹ nữ - những bài thơ về trăng, và tôi muốn được ông nói cho biết ít nhiều về Thơ duyên. Xuân Diệu nhận lời và nói: “Thơ duyên là một bài thơ độc đáo của Xuân Diệu. Mùa giao duyên của con người và thiên nhiên tạo vật với nhiều trạng thái vui buồn, xao xuyến, thầm lặng không gì bằng mùa thu. Xuân Diệu đã từng viết: “Thu không phải là mùa sầu. Ấy chính là mùa yêu, mùa yêu nhau bằng linh hồn, mùa những linh hồn yêu mến nhau. […] Xuân, người ta vì ấm mà cần tình. Thu, người ta vì lạnh sắp đến mà cũng rất cần đôi. Cho nên không gian đầy những lời nhớ nhung, những linh hồn cô đơn thả ra những tiếng thở dài để gọi nhau, và lòng tôi nghe tất cả du dương của thứ vô tuyến điện ấy” (Thu).


Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên


Đấy là một buổi chiều đặc biệt đẹp và đầy thương nhớ. Con người không bị lôi cuốn vào công việc bận rộn, không bị những âm thanh pha tạp của cuộc đời chi phối. Thơ, mộng và duyên, duyên đây là nhân duyên. Về âm thanh, có chăng là những tiếng chim nhỏ ríu rít trong niềm vui riêng hòa hợp với cảnh ngộ. Đổ trời là rốc trời, không chừng mực, cả bầu trời xanh ngọc như dồn tụ về đây:


Thu đến - nơi nơi động tiếng huyền


Tiếng huyền là tiếng huyền diệu. Huyền cũng là một thứ đàn, tiếng huyền là tiếng đàn vang vọng trong không gian của buổi chiều thu:


Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu


Cuối cùng thì cảm hứng cũng phải tập trung ở giữa cõi đời trong khung cảnh yêu đương. Những câu thơ ban đầu:


Cánh hồng lả lả gió xiêu xiêu,


Con én về đâu nắng trở chiều.


Những câu thơ không gợi được không khí yêu đương và Xuân Diệu đã chọn được những câu thơ thích hợp:


Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu,


Lả lả cành hoang, nắng trở chiều.


Con đường nhỏ nhỏ là con đường của tình yêu, tình bạn, ngọn gió xiêu xiêu là ngọn gió lả lơi, tình tứ. Gió nhẹ và nghiêng nghiêng. Và quả thế. Không khí lãng mạn ấy đã tạo nên những rung động ban đầu của tình yêu. Chữ bạn hàm ý là em. Toàn bộ những ý thơ của hai khổ toát ra một ý chung là tất cả mọi cái đã xui giục cho hai người yêu nhau.


Em bước điềm nhiên không vướng chân,


ý nói tự nhiên, hồn nhiên chưa có ý thức và ràng buộc gì.


Anh đi lững đững chẳng theo gần


Chữ lững đững nhẹ hơn lững thững mà hay hơn, không có ý làm chậm mà như vô tận. Thơ duyên nói tình yêu nhưng lại nói qua phong cảnh. Phong cảnh đẹp gợi tình, gợi cảm và không khí như ấm dần lên:


Vô tâm - nhưng giữa bài thơ dịu


Anh với em như một cặp vần.


Tuy không định trước nhưng tình anh với em đã dự báo trước những gì có thể xảy ra, sẽ xảy ra. Nhịp điệu thơ khẩn trương hơn, không thể cứ vô tâm vô tình.


Mây biếc về đâu bay gấp gấp,


Con cò trên ruộng cánh phân vân.


Hai câu thơ được viết như một sáng tạo có tính đột phá rất bất ngờ mà tài hoa. Hoài Thanh đã tỏ ra rất nhạy bén và cao tay khi so sánh với hai câu thơ Vương Bột:


Lạc hà dữ cô lộ tề phi


Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc


và thấy rõ hai thời đại trong thi ca. Xuân Diệu nhận xét: “Hoài Thanh nhanh và thông minh như con báo nhưng là một con báo già, chứ không phải là con cọp mà nếu có là con cọp thì cũng là con cọp già nhưng vẫn tinh khôn”.


Và thiên nhiên càng ngày càng lạnh, trời chiều xuống dần, không gian rộng, con người cô đơn hơn.


Chim nghe trời rộng dang thêm cánh,


Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần.


Ngoại cảnh càng lạnh giá thì lòng người như ấm lên, khoảng cách giữa hai người được xóa dần. Cái bước thu êm ấy không thể khác đã dẫn con người đến chỗ gần gũi yêu thương nhau:


Ai hay tuy lặng bước thu êm,


Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm,


Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy,


Lòng anh thôi đã cưới lòng em.


Nghe xong một số ý của Xuân Diệu, tôi hỏi: “Trong các bài thơ của anh thường thì tình yêu con người tác động đến khung cảnh nhưng ở đây thì dường như cảnh lại tác động đến người. Lúc đầu con người còn ở trạng thái như vô tâm, như vô tình nhưng sau là sự gắn bó, yêu thương”. Xuân Diệu nói: “Thơ tình phải đa dạng, cái đa dạng ấy nhà thơ thấu hiểu mà không nói hết được. Thơ duyên là một cách tiếp cận thôi và rất may đã thành công”. Tôi hỏi tiếp: “Thơ duyên không có trong hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Có lẽ anh viết sau cùng với những bài thơ thuộc ngũ đại thi. Thơ duyên được rất nhiều người yêu thích. Tế nhị, duyên dáng, thầm thì, mạch dẫn kín và kết quả tỏa sáng bất ngờ. Tôi nghĩ đây là một trong số những bài thơ hay nhất của anh, anh nghĩ thế nào?”. “Cảm ơn nhà phê bình, mình có nhiều đứa con tinh thần yêu thương quá, vẻ đẹp của chúng giữa con chị con em không thua kém. Thơ duyên thiệt thòi vì ra đời muộn nhưng bù lại lại rất được yêu mến”.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học, 2013.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »