tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20004395
Lý luận phê bình văn học
22.11.2013
Phan Quang
Tiểu thuyết tư liệu - Miền đất hứa của văn học đương đại

1. Ở Pháp có thời loại truyện dài thịnh hành hơn cả là tiểu thuyết tâm lý. Có người


hỏi nhà văn Alphonse Daudet về hiện tượng ấy. Ông đáp: “Tiểu thuyết tâm lý ư? Tôi


không biết. Nó không tồn tại. Ở đâu có nhiều tâm lý hơn trong Manon Lescaut của Abbé


Prévost? Đó có phải là tâm lý tiểu thuyết? Có đúng là rất nhiều tâm lý nơi Tolstoi, mà tác


phẩm của ông ngồn ngọn chi tiết đời thường? Ở đâu có nhiều tâm lý hơn Macbeth hay


Hamlet của Shakespeare, mà đấy lại là những kịch bản. Nếu tiểu thuyết tâm lý tồn tại thì


mọi tiểu thuyết trên đời đều là tiểu thuyết tâm lý tất”.


Cho dù nhà văn chấp nhận hay không, mỗi nhà khoa học hiểu một cách, thể loại tiểu


thuyết mới vẫn ra đời, được nhiều nhà sáng tác thực hiện và đông đảo công chúng đón


chào. Tiểu thuyết tư liệu là trào lưu thời thượng trên thế giới ngày nay.


Trong văn chương, việc xếp một tác phẩm vào loại này loại kia chẳng có ý nghĩa gì


đối với giá trị đích thực của nó, nhưng tại thương trường, bất cứ cái gì góp phần làm nên


thương hiệu, giúp cho việc quảng bá cuốn sách làm ra được các thượng đế độc giả quan


tâm hơn thì các nhà xuất bản, phát hành không bỏ lỡ cơ hội.


Hãy mở mạng điện tử ra, bấm nhẹ một cái vào một địa chỉ thương mại văn hóa


phẩm, chưa kịp chớp mắt đã thấy hiện ra 24 cuốn sách chào mời, có ảnh bìa, có số trang,


có thể thức: khổ sách bao nhiêu, bìa cứng hay bìa mềm, sách mới tranh hoặc sách người


khác đã dùng qua, và dĩ nhiên giá cả từng loại, vv. Di con chuột sang một địa chỉ phân


phối khác, lập tức hiện lên 25 cuốn, cùng một điểm nhấp nháy phía dưới: cần xem nhiều


hơn nữa, xin nhấp vào đây!


Liếc qua các tên sách, có thể hiểu tiểu thuyết tư liệu ngày nay đề cập những chủ đề


gì, các câu chuyện xảy vào thời điểm nào: Ba tháng trong nhà tù, Ngà voi và thuốc phiện,


Thượng Hải ngày nay, Ấn Độ hôm nay, Người con của Ramses (Hoàng đế Ai Cập thời cổ


đại)... Đến một nhà xuất bản sách văn học lâu năm như Gallimard (Pháp) cũng nhạy bén


với thương vụ. Hiện đang quảng cáo rầm rộ một cuốn sách ra mới mấy tháng nay, dịch từ


nguyên tác tiếng Croatia, đề sách là một địa danh: Sonnenschein, còn danh tính nữ tác gia


không biết đọc cách nào cho đúng theo âm tiếng Việt: Dasa Drndic.


Chuyện kể về một cô gái người Do Thái yêu một sĩ quan Đức quốc xã, có với y một


đứa con. Sau chiến tranh, trở thành giáo sư toán học, chị muốn tìm lại giọt máu của mình


và cũng muốn hiểu thực tế những gì đã xảy ra trong thế chiến tại một vùng bị các nhà sử


học hoàn toàn quên lãng. Nhà xuất bản Gallimard giới thiệu: “Tác phẩm không mang đến


cho chúng ta các đấng anh hùng hay sự cứu rỗi, nó là con số cộng nhiều đến kinh hoàng


những câu chuyện nhỏ liên quan đến số phận biết bao người bị chà nát bởi sự đớn hèn


của số đông im lặng cũng như sự tàn bạo của những kẻ sát nhân. Tác giả Dasa Drndic[1]


 đã thực hiện thành công một tiểu thuyết lớn về những hệ quả của cái ác”.


Cuốn sách hiện đang được bày bán tại nhiều nước Châu Âu và Canada. Nó lớn hay


nhỏ, thành công đến mức độ nào, hẳn còn phải chờ sự thẩm định của công chúng và tác


động thời gian, nhưng bán chạy với giá đắt thì quá hiển nhiên.


2. Tiểu thuyết tư liệu, còn gọi là tiểu thuyết không hư cấu, hình thành sau chiến


tranh thế giới thứ hai. Những bí mật về chiến tranh, diễn biến các chiến dịch lớn quyết


định thắng bại, số phận các điệp viên huyền thoại, các đài phát thanh bí mật... Tư liệu


kín, hồ sơ mật sớm muộn rồi cũng được giải mã, tuy nhiên nhà văn nhà báo cứ bê nguyên


như thế mà bày ra trang giấy thì quá khô khan, hơn nữa hàng ngàn hàng vạn nhân chứng


còn kia, sao không đoái hoài đến họ. Chiến dịch, hành quân, điệp báo, thành công, tan


nát... rốt cuộc đều gắn với số phận con người. Vậy là rộ lên một loạt tác phẩm có thể gọi


“xuyên quốc gia” bởi ăn khách và sớm được dịch sang nhiều thứ tiếng khác. Tại Pháp,


Nhà xuất bản Flammarion phát hành một Tủ sách sáng tác có dịch thuật có mang tiêu đề


chung chung nhưng thời thượng hồi bấy giờ: Leur aventure (Cuộc phiêu lưu của họ)[2]


Đại chiến thế giới qua đi, chiến tranh lạnh xuất hiện. Bức tường Berlin sụp đổ, Liên


bang Nam Tư tan nát thì có vụ đánh sập Tòa tháp đôi New York biểu tượng sức mạnh


Hoa Kỳ. Tiếp đến, chiến tranh Afganistan và Irac, thế cuộc Iran và Xiri, giao tranh tại


dải Gaza, nội tình Tunisie, Lybie, Ai Cập... Xung đột, đối đầu không lúc nào ngơi. Thêm


vào đó, sự hoành hành của các mafia xuyên đại dương. Những số phận khổ đau, những


chứng nhân thấp cổ bé miệng. Lệ thường, vấn đề thời sự đã có các phương tiện truyền


thông. Nhưng những việc đã qua mà lịch sử chưa kịp vào cuộc? Nói theo cách của tạp chí


Le Magazine Littéraire: “Bằng cách nào tường thuật cái quá khứ không chịu đi vào quá


khứ? Văn học phải vào cuộc thôi”.


Thoạt đầu tiểu thuyết tư liệu được coi như tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết trinh


thám. Năm 1950, một cuốn sách mới phát hành ở Anh làm xôn xao dư luận nước ấy. Tại


một phiên họp Hạ viện, trả lời chất vấn của nghị sĩ, ngoại trưởng Anh Aneurin Bevin


thừa nhận: “Nói những gì viết ra trong sách đều là tư liệu nguyên xi đánh cắp từ Đại sứ


quán Anh tại Ankara (thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ) trong thời kỳ chiến tranh là không chuẩn xác.


Tuy nhiên, một cuộc điều tra đã phát hiện, thực tế có một người hầu phòng của đại sứ ta


ở Ankara từng dùng máy ảnh chụp được nhiều tài liệu tuyệt mật rồi mang bán cuộn phim


cho bọn Đức. Tên gián điệp chắc chắn không thể làm được chuyện đó nếu đại sứ ta tuân


thủ nghiêm ngặt chế độ bảo quản tư liệu mật đã ban hành”.


Lời tuyên bố của ngoại trưởng làm cho cuốn sách dịch từ nguyên bản tiếng Đức,


tác giả là một cựu tuỳ viên Đại sứ quán Anh tại Thổ Nhĩ Kỳ tên L.C.Moyzish ngay lập


tức “cháy hàng” trên thị trường sách. Nó được dịch tiếp sang nhiều thứ tiếng khác, trong


đó có tiếng Pháp. Tuy nhiên, nhiều nhà xuất bản cứ ngần ngại không muốn ấn hành, bởi


tác giả không rõ do sơ xuất hay cố tình đã không cho biết thủ phạm vụ gián điệp ấy (xảy


ra từ tháng 10/1943 đến tháng 4/1944) cuối cùng có bị trừng phạt hay vẫn đang nhởn


nhơ ngoài vòng pháp luật; người liên quan là ngài đại sứ có phải chịu kỷ luật gì không;


và phát xít Đức sử dụng các tư liệu mật ấy đã thu được hiệu quả như thế nào… Nói cách


khác, tác phẩm đắt hàng ấy chưa hoàn chính, bởi chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu bắt


buộc phải có ở một tiểu thuyết trinh thám là: tội ác (có thực hay hư cấu), động cơ, thủ


phạm, nạn nhân, tác nghiệp (của thám tử), và cuối cùng kết luận (giải mã vấn đề nêu từ


đầu truyện).


Ngần ngại một chút nhưng rồi các nhà làm sách vẫn tới tấp cho ra mắt bạn đọc, bởi


theo lời Nhà xuất bản Julliard, “câu chuyện này, không có gì còn phải nghi ngờ, là vụ


gián điệp giật gân nhất trong chiến tranh chống phát xít, nó hé ra cho chúng ta thấy lắm


điều kỳ lạ về hoạt động của các điệp viên trong cuộc chiến đấu ngầm của họ”.


3. Tường thuật là nghề nghiệp báo chí. Nói văn học là nói tưởng tượng. Làm sao


kết nối cái thực trên đời và cái thực trong đầu tác giả, bằng cách nào trần thuật cái hiện


hữu, những sự kiện làm rúng động hoàn cầu qua nỗi đau thường nhật của những người


không tên tuổi với những nỗi đau tang tóc, lưu đày chẳng ai biết được ngoài người trong


cuộc? Vậy là mở ra thêm một lãnh địa nữa cho báo chí, văn học giao thoa. Tiểu thuyết tư


liệu đàng hoàng tự khẳng định chỉ sau một thời gian ngắn. Nhiều cuốn truyện hút khách,


mang lại lợi nhuận cao cho nhà làm sách và tên tuổi, tiền bạc cho tác gia. Nửa thế kỷ qua,


không ít tác phẩm thuộc thể loại này nếu chưa hẳn là tuyệt tác, là phi thời gian thì ít nhất


cũng đã để lại dấu ấn trong văn học - báo chí đương đại.


Ở tiểu thuyết trinh thám thông thường diễn biến sự kiện (từng có thật hoặc được hư


cấu) là chính, con người làm vai trò dẫn dắt câu chuyện, trong khi tiểu thuyết tư liệu chú


trọng nhiều hơn đến cuộc sống nội tâm của nhân vật, và tư liệu dùng thì nhất thiết phải


xác thực, đã từng có thực trên đời. Truyện trinh thám người ta đọc lúc đợi tàu xe hay thời


gian chuyển dịch trên đường, lưu trú nơi đất khách; chúng góp vui trong chốc lát, đọc


xong có thể quên luôn, trong khi những cuộc sống nội tâm và diễn biến sự kiện tại một


tiểu thuyết tư liệu hay sẽ còn đeo bám độc giả dài lâu.


Cuốn tiểu thuyết tư liệu nổi tiếng nhất thế giới trong nửa thế kỷ lại đây là In Cold


Blood (tạm dịch Máu lạnh) của nhà văn Mỹ Truman Capote (1924 - 1984) do Nhà xuất


bản Randon House ấn hành lần đầu năm 1966. Nó đã mang lại cho tác giả vầng hào


quang chói lọi, tiếng tăm lừng lẫy toàn cầu với tám bản in lần đầu cùng sáu triệu đô la


tiền nhuận bút (giá trị đô la 50 năm về trước). Khởi nguồn là một tin vặt 300 từ đăng trên


nhật báo The New York Times ngày 16/11/1959 về vụ một gia đình nông dân gồm hai vợ


chồng và hai con nhỏ bị hai người lạ mặt sát hại vô cớ xảy ra tại một làng quê hẻo lánh


bang Kansas, Hoa Kỳ. Tác giả Truman Capote lúc này đã nổi tiếng với hơn hai chục tác


phẩm ăn khách, đã cùng một người bạn về tận nơi quan sát hiện trường, tìm hiểu bối


cảnh, phỏng vấn dân địa phương, cảnh sát hình sự... , và sau khi hai tên sát nhân bị bắt


giam chờ xét xử, nhà văn được phép vào trại giam hỏi chuyện nhiều lần đến nỗi người


làm văn và hai hung thủ gần như trở thành bạn. Hóa ra những con người có lý trí, thường


nhật không phải không biết điều lại có thể làm những chuyện tồi tệ nhất. Phải đợi sau


khi hai thủ phạm bị tòa án địa phương bắt đền tội, những gì Truman Capote thu thập và


viết ra mới công bố được. Trước sau mất bốn năm thu thập tư liệu để làm nên cuốn tiểu


thuyết và tiếp đó dựng thành bộ phim cũng hốt bạc tỉ[3]. In Cold Blood thoạt tiên in nhiều


kỳ trên báo The New Yorker, cơ quan tài trợ tác giả, sau mới xuất bản thành sách. Tựa


đề, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu. “Máu lạnh” ở hai tên giết người hay là “máu lạnh” của


cả cái xã hội dửng dưng với tội ác? Gần 40 năm sau khi In Cold Blood trình làng, báo


London Sunday Times (Anh) vẫn khẳng định, cho đến lúc bấy giờ thế giới chưa có ai tạo


 nên được một tác phẩm không hư cấu nào qua mặt Truman Capote về chất lượng và mức


độ thành công. Nhà văn Mỹ Norman Mailer (1923-2007) nhận xét: “Ông là nhà văn hoàn


hảo nhất thế hệ chúng tôi. Ông viết những câu văn hay nhất, mỗi từ ngữ mỗi tiết tấu đều


được ông cân nhắc thật kỹ càng”.


Truman Capote ghi tại bìa sách: “Tiểu thuyết không hư cấu” (nonfiction novel)[4], vì vậy ông tự cho mình là nhà văn đầu tiên khởi xướng và thành công với thể loại tiểu thuyết sử dụng tư liệu và thủ pháp báo chí trong lịch sử văn chương thế giới. Trong khi đó, Bách khoa toàn thư danh tiếng của Anh Encyclopedia Britanica lại lặng lẽ xếp tác


phẩm nhiều nhà văn lớn tuổi hơn Truman Capote và mắt bạn đọc sớm hơn In Cold Blood


nhiều, như Chúa Cứu thế dừng chân tại Eboli của Carlo Lévi người Ý (1902 - 1975),


từng được dịch sang 37 ngôn ngữ, hay Một ngày của Ivan Denissovich (1952), Quần đảo


Gulag (viết 1958 - 1957)… của nhà văn Nga Alexandre Soljenitsyne (1918 - 2008) v.v...


Học giả Pháp Philippe Dulac còn đi xa hơn. Qua Bách khoa toàn thư Encyclopedia


Universalis ông ngược lên tới Bí mật thành Paris của Eugène Sue (1804-1857), cuốn


truyện đăng nhiều kỳ trên báo Le Journal des Débats từ 19-7-1842 đến 15-10-1843 và


đã gây nên một cơn sốt chưa từng có trong văn chương Pháp lúc bấy giờ. Philippe Dulac


quả quyết Eugène Sue mới đích thực là thủy tổ của thể loại tiểu thuyết tư liệu, bởi tác


phẩm của ông “dành ưu tiên cho thông tin trước cách viết” - cách nhìn này khác quan


niệm của Truman Capote, Gabriel Marquez và nhiều tác giả khác. Philippe Dulac thậm


chí còn cho Bí mật thành Paris là tác phẩm đầu tiên trong lịch sử tạo nên hiện tượng nay


gọi là “tương tác”, tức giao lưu trực tuyến giữa tác giả và người đọc. Ông dẫn chứng,


nhiều độc giả hồi bấy giờ bị tác phẩm hút hồn, nôn nao chờ đợi kết cục câu chuyện, đã


kiến nghị với tác giả Bí mật thành Paris nên kết thúc cuốn tiểu thuyết theo “kịch bản” do


chính họ nghĩ ra.


Xem ra người ta đang tranh nhau làm căn cước cho tiểu thuyết tư liệu. Cứ đà này,


chắc chắn Trung Quốc sẽ vào cuộc, giành ngôi đầu bảng cho bộ Đông Chu liệt quốc 108


chương hồi của họ kể chuyện thời Xuân Thu, Chiến Quốc, cách chúng ta hai ngàn mấy


trăm năm.


4. Một cuốn tiểu thuyết tư liệu thành công vài chục năm lại đây là của văn hào


người Colombia Gabriel Marquez, Giải thưởng Nobel văn học 1982. Tác phẩm Nhật ký


một cuộc bắt cóc nguyên tác tiếng Tây Ban Nha in lần đầu năm 1996, dịch sang tiếng


Pháp cùng năm, tiếng Anh năm 1997, v.v...


Báo chí Pháp dành cho sự kiện này nhiều giấy mực và cảm tình. Kênh truyền hình


văn hóa Pháp - Đức Arte dành trọn một buổi tối giới thiệu tác phẩm với sự có mặt của


tác giả được mời bay từ Mexico sang Paris chỉ để giao lưu một tối cùng khán giả truyền


hình. Chương trình mang tên: Gabriel Garcia Marquez, nhà thuật sĩ vùng Caraibes. Tôi


tình cờ có mặt tại Paris có xem buổi truyền hình ấy.


Báo Le Monde đưa lên tít: “Gabriel Marquez pha lẫn ngòi bút tiểu thuyết gia với


ngòi bút ký giả để viết nên câu chuyện bắt cóc”. Báo Libération: “Nhật ký một cuộc bắt


cóc là tác phẩm thách thức sự phân loại. Nó là một thiên phóng sự, với nhiều tư liệu dày


dặn, mạnh mẽ và trang nhã làm ta ngây ngất, nhưng là một thiên phóng sự giống tiểu


thuyết hơn nhiều tiểu thuyết đích thực”. Người dẫn chương trình truyền hình kết thúc


buổi giao lưu: “Gabriel Marquez không viết sử ký. Cuốn sách của ông là thiên phóng sự


của một tiểu thuyết gia. Vậy mà nó vẫn là món quà đẹp cống hiến cho lịch sử ».


Trong Lời cảm ơn in ở đầu cuốn sách, Gabriel Marquez cho biết: Ông làm tác phẩm


này do yêu cầu của một số người trong cuộc. Nhiều người muốn nhà văn dùng uy tín và


ảnh hưởng của mình góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh loại trừ các mafia buôn ma tuý.


Ông đã viết được khá nhiều trang, chợt nhận ra cách làm này không ổn : « Tôi đã hủy bản


thảo đi và làm lại từ đầu. Tôi đã tiến hành phỏng vấn trong mức độ có thể tất cả những ai


có dính vào các sự kiện, và mọi người đều độ lượng vì tôi mà khuấy động những nỗi đau


ai cũng muốn cho chìm sâu vào quá khứ và kể lại cho nghe toàn bộ những gì họ đã sống.


Nỗi đau, sự kiên nhẫn và lòng phẫn nộ của họ truyền cho tôi nghị lực để, vào mùa thu của


cuộc đời, hoàn thành được nhiệm vụ buồn bã nhất, khó khăn nhất chưa từng được giao


phó”.


Cuốn sách nói về các vụ bắt cóc một số nhà báo và chính khách tên tuổi nước


Colombia do mafia ma tuý quốc tế Medellin tổ chức. Với 330 trang in (bản tiếng Pháp)


sách chia làm 11 chương và một vĩ thanh. Độc giả thưởng thức vừa tiểu thuyết vừa phóng


sự. Những chương mang số lẻ mô tả cuộc sống và tâm trạng các con tin trong nhà giam.


Các chương mang số chẵn đề cập khung cảnh chính trị, các cuộc vận động ở hậu trường,


cuộc thương thuyết tối mật giữa nhà đương cục với bọn mafia...


Cuốn sách vào chuyện như một tiểu thuyết trinh thám bậc thầy. Căng thẳng hiện ra


ngay từ trang đầu, dòng đầu: “Trước khi bước lên xe, nàng (bà chủ bút một tờ báo lớn ở


Bogota) hơi nghiêng đầu nhìn lại xem có ai bám theo mình hay không. Lúc này là mười


chín giờ năm phút, đêm đã sụp xuống trùm phủ thành phố Bogota chừng một tiếng đồng


hồ rồi...”.


Chiếc xe hơi chở bà chủ bút và cô trợ lý chạy qua những con đường hẹp trong khu


phố cổ, khi chỉ còn cách nhà riêng của bà chừng vài trăm mét, xe lên dốc thì một chiếc


taxi từ đâu vọt tới ép nó vào sát vỉa hè và chặn luôn trước mũi. Chiếc Mercedes nãy giờ


vẫn bám sát xe bà chồm lên khóa đuôi. Ba tên cao lớn nhảy ra khỏi chiếc taxi. Một tên


bắn một phát súng vào đầu tài xế, đẩy xác xuống đường, còn bồi thêm một phát nữa


vào đầu. Một tên khác từ chiếc Mercedes xộc tới mở cửa xe bà chủ bút: “Bà là người


chúng tôi tìm hôm nay. Mời bà xuống xe cho”. Bà chưa kịp phản ứng, hai bàn tay thép


của nó đã thít chặt luôn đôi cánh tay liễu, kéo lê bà mấy bước trên hè phố, ẩy vào chiếc


Mercedes phóng đi luôn...


Mở đầu dữ dội vậy song kết khúc lại yên bình như tiểu thuyết đồng quê. “Trưa chủ


nhật, Maruja (tên nhà báo vừa được trả lại tự do sau sáu tháng biệt giam) cùng chồng


chuẩn bị dùng bữa thì có tiếng chuông bấm gọi cửa. Tưởng cậu con trai vừa đi ra bỏ quên


chìa khóa xe hơi quay trở lại tìm, nhà lúc này không có ai, ông chủ thân hành ra mở cửa.


Xuất hiện một chàng trai ăn mặc lịch sự, cúi đầu chào và lễ phép trao ông gói tặng phẩm


có thắt dải nơ lụa vàng. Mở gói, hiện ra một cái túi nhỏ bằng da mềm đựng chiếc nhẫn


vàng đặt trên nền lụa. Đấy chính là chiếc nhẫn vàng gắn kim cương bọn hung thủ đã tước


đoạt của Maruja hôm chúng bắt cóc nàng. “Maruja không thể nào tin nổi. Nàng luồn


chiếc nhẫn vào ngón tay và nhận ra (sau mấy ngày được trả tự do) mình đã mau chóng


lấy lại cân, chiếc nhẫn khít ngón tay nàng vừa vặn như nàng vẫn đeo ngày trước”.


Tác phẩm kết thúc ở đây.


Gabriel Marquez không ghi chú cuốn sách của ông thuộc thể loại nào. Lời cảm


ơn ba lần nhắc tới tác phẩm, ba lần ông đều gọi trống không “cuốn sách này”.


5. Một bộ tác phẩm ba tập nổi đình đám nữa là viết về cuộc tàn sát diễn ra tại nước


Rwanda, miền Đông châu Phi năm 1994 của nhà văn, nhà báo Pháp Jean Hatzfeld[5]


vốn làm phóng viên chiến tranh cho nhật báo Libération từ năm 1976. Trong gần một


phần tư thế kỷ, nhiều lần có mặt tại các cuộc xung đột đẫm máu ở Trung Đông, Châu Phi,


Nam Tư, Sarajevo...


Năm 1994 xảy ra cuộc tàn sát diệt chủng kéo dài ba tháng, từ đầu tháng tư đến


tháng bảy năm ấy giữa người sắc tộc Hutu giết người sắc tộc Tutsi, do sự xúi giục của


những phần tử chính trị kỳ thị sắc tộc và thực dân nước ngoài, làm chấn động dư luận


toàn cầu. Ước lượng trong ba tháng có đến 800.000 người thuộc sắc tộc Tutsi (cũng có


cả một số người Hutu ôn hòa phản đối diệt chủng) bị giết hại hết sức dã man bằng vũ khí


thô sơ.


Nghị quyết Hội đồng Bảo an lên án nhưng không dùng từ “diệt chủng”, Liên Hợp


Quốc không can thiệp, nước Pháp phải đưa quân vào châu Phi. Jean Hatzfeld đi theo


quân đội với tư cách phái viên báo chí. Ngày 4/7/1994, quân Pháp kiểm soát được thủ đô


Rwanda, song lại để cho phần lớn những kẻ sát nhân Hutu chạy sang bên kia biên giới


giữa Ruwanda với Zaire (Congo).


Tình hình rối tung rối mù, phóng viên cảm thấy bất lực không thể làm tròn nhiệm


vụ được giao. Nhưng ông không trở về Pháp mà xin nghỉ việc tòa soạn, ở lại Rwanda


sống cùng những người vừa thoát chết khỏi cuộc thảm sát đang chui lủi giữa các đầm


lầy ven con sông lớn, lặng lẽ nghe, lặng lẽ ghi tiếng ghi lời những gì họ kể lại. Ông dành


bốn năm, tập trung thời gian và sức lực thu thập tư liệu. “Tác giả có biệt tài hết sức hiếm


hoi là giúp cho những con người đã sụp đổ hoàn toàn khôi phục lại lời nói” - tuần báo


L’Express viết.


Cuốn sách đầu tiên về vụ thảm sát, Trong sự trần trụi của cuộc sống xuất bản năm


2001, được Giải thưởng France - Culture trong năm.


Tác giả vẫn ở Rwanda, tiếp tục lắng nghe và ghi chép. Lần này là tiếng nói của một


toán đao phủ người sắc tộc Hutu vừa ra khỏi tù nhờ ăn năn thú tội. Cuốn thứ hai, Một


mùa gặt bằng dao rựa[6], 2003, giành một lúc hai Giải thưởng văn học Pháp: Giải Femina


và Giải Joseph - Kessel.


Mở đầu tác phẩm, nhà văn chép lại máy câu đã in ở tập I: Năm 1994, từ sáng sớm


thứ hai 11-4 đến cuối chiều thứ bảy 14-5, trừ chủ nhật nghỉ, trong hơn một tháng người


sắc tộc Hutu ở xã Nyamoto đã cầm dao rựa lùng xục, rượt đuổi và chém chết những


người hàng xóm láng giềng của mình thuộc sắc tộc Tutsi. Có tới 50 000 người trong tổng


số 59 000 dân Tutsi xã ấy bị tàn sát. Đó là xuất phát điểm của cuốn sách này. Cái khác là


tập I gom lời kể của những người Tutsi thoát chết, còn tập II là lời những hung thủ người


Hutu.


Một cuốn sách đọc lạnh xương sống. Các chương dẫn, là lời tác giả trình bày bối


cảnh, diễn biến… xen kẽ các chương ghi những câu nói lạnh lùng của những người trong


cuộc. Tác giả cho biết, xong việc ghi chép, ông đề nghị mọi người chụp chung tấm ảnh


nói trước sẽ dùng in vào sách. Những tưởng bị phản đối, không ngờ mọi người chấp


thuận dễ dàng - trừ một, anh không cãi, chỉ lãng tránh và biến mất luôn. Chín người to


lớn khỏe mạnh ngồi sát vào nhau trên tấm phản kê bên gốc cây, tán lá cây xõa xuống sát


đầu, người nào cũng thanh thản trong bộ áo sơ mi cộc tay trắng quần soọc trắng, thoạt


nhìn tưởng một đội tuyển thể thao. Có một người đeo kính trắng, mặc quần dài trắng, đi


xăng đan trắng - nghe nói anh từng làm giáo sĩ trong nhà thờ!


Tình hình chẳng bao lâu có sự thay đổi. Chính phủ Rwanda với sự ủng hộ của nhiều


tổ chức quốc tế, chủ trương tái hòa hợp dân tộc, đã ra lệnh ân xá cho tất cả những kẻ sát


nhân người Hutu còn bị giam giữ trong các nhà tù hoặc đang trốn tránh ở nước ngoài, cho


trở về làng cũ sống cuộc sống bình thường. Jean Hatzfeld trình tiếp bạn đọc tác phẩm thứ


ba: Sách lược những con linh dương[7], 2007. Cuốn này được độc giả đón nhận còn nồng


nhiệt hơn hai cuốn trước, giành Giải thưởng Pháp Médicis năm 2007 và Giải thưởng Ba


Lan Ryszard Kapuscinski năm 2010 khi được dịch sang tiếng nước ấy.


Năm giải thưởng danh giá cho một bộ tiểu thuyết! Tiếp tục rộ lên những lời phẩm


bình, từ các nhà phê bình tên tuổi viết trên các báo lớn đến cư dân mạng qua các trang


báo điện tử, mạng xã hội và blog cá nhân.


Tiểu thuyết Sách lược những con linh dương mô tả cuộc sống hôm nay của những


nhân vật đa số có mặt ở hai tập trước. Qua lời kể của họ, hiện lên cuộc đối thoại bất khả


giữa những người thoát chết và những kẻ giết người, nỗi ám ảnh cùng những bóng ma


lãng vãng đeo bám, sự ngờ vực lẫn nhau, cái bế tắc chẳng có cách nào hiểu nhau, tin


nhau nổi giữa những người hàng xóm lâu đời nay bên này là nạn nhân bên kia là hung


thủ…


Claudine: “Ông muốn biết nhiều hơn nữa? Ông chưa chán sao! Rốt cuộc rồi tôi


cũng bắt buộc phải tin rằng cuối cùng cái Thiện đã thắng, nhờ vậy tôi mới có cơ hội


chạy thoát thân, tôi mới còn lại đây để kể cho ông nghe. Nhưng bố mẹ tôi, các em gái tôi,


những người hàng xóm của tôi, họ còn đâu nữa mà kể chuyện cho ông nghe?


Dạo ấy còn là thiếu nữ, tôi đã hiến dâng trọn vẹn niềm tin cho cuộc đời. Cuộc đời


đã phản bội tôi. Những người hàng xóm, các nhà chức trách, những người da trắng đã


phản bội tôi. Bị tất cả mọi người phản bội, ai mà chịu đựng nổi? Giờ tôi đã lấy chồng,


anh ấy là người biết điều, vợ chồng tôi đã có với nhau hai con, chúng tôi sống cũng tàm


tạm cái hiện tại, còn tương lai thì đã mất hẳn từ lâu rồi”.


Những kẻ sát nhân nghĩ gì? Pancacre: “Mình đã phạm bấy nhiêu tội ác, mà vẫn có


người thương hại sao? Đó là ý nghĩ đầu tiên đến với tôi khi nghe qua đài phát thanh tin


mọi tù nhân đều được chính phủ đại xá. Tôi bị cáo buộc, tôi bị kết án, tôi được ân xá. Tôi


chưa bao giờ xin ân xá cả. Xin làm gì cho tốn công, khi đã cầm chắc chẳng bao giờ có ai


tha thứ cho mình!”


Claudine: “Tuyệt nhiên chẳng có chi là nhân đạo trong việc ân xá cho chúng nó. Đó


có thể là ý muốn Thượng đế, không phải ý muốn của tôi”.


Trên báo La Cour Dieu (Tòa án Thượng đế), bà Viviane Montalembert, người tự


giới thiệu là “một phụ nữ ngày nào cũng đọc Kinh Thánh suốt ba mươi năm nay”, viết


sau khi xem Sách lược những con linh dương: “Chính phủ Rwanda đã ra lệnh ân xá hoàn


toàn. Biết làm sao! Đất nước đang cần những người Hutu chuyên nghề canh tác để cung


cấp lương thực cho toàn dân, lại cũng cần những người Tutsi quen công việc quản lý,


thành thạo tại các văn phòng, trường đại học. Cuộc sống vẫn phải sống... Vậy Thượng đế


đã làm gì tại đất nước mà tuyệt đại đa số dân chúng là tín đồ đạo Thiên chúa này? Ồ, thì


Thượng đế cũng phải xử sự giống như Boniface thôi, một người sống sót nay đang làm


linh mục chánh xứ Kibungo xã Nyamata, Boniface nói: “Tôi giảng đạo tại nhà thờ. Lẽ


đương nhiên tôi phải tự kiềm chế. Tôi phải chịu đựng mỗi khi nhìn thẳng vào mặt những


người từng săn đuổi mình, con dao bổ củi lăm lăm trong tay. Đức tin dù đã mờ nhạt thì


tôi vẫn cứ còn đây. Nếu tôi đã không tin rằng, trong cảnh huống lúc bấy giờ, đến Đức


Chúa Trời rồi cuối cùng cũng phải tìm mọi cách để tháo thân, thì tôi đã chẳng phải chạy


trốn làm chi”.


6. Ở nước ta, Ông cố vấn của Hữu Mai là bộ tiểu thuyết không hư cấu sáng giá đầu


tiên trong văn học Việt Nam. Nó hội đủ mọi yêu cầu, đặc điểm của thể loại tiểu thuyết


này. Tại lời “Trước khi vào chuyện”, tác giả cho biết: “Cuối năm 1969, cả Sài Gòn xôn


xao vì mới tìm ra một bước tình báo quân sự của Việt Cộng ngay trong những cơ quan


đầu não của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (...) Ngày 28/11/1969, chính quyền Sài


Gòn đã cho mở phiên toà xét xử những bị can (...) Bản cáo trạng dài 23 trang đọc hết một


tiếng rưỡi đồng hồ (...) Không một bị cáo nào chống án (…) Vụ án trở thành một vấn đề


thời sự sôi nổi (...) Sau ngày giải phóng Sài Gòn, chúng ta đã tìm được toàn bộ những hồ


sơ đó tại Tổng nha cảnh sát của chính quyền Sài Gòn...


Tác giả quả quyết: “Bạn đọc có thể gặp nhiều nhân vật của cuốn sách này đang tiếp


tục cuộc sống bình dị của họ sau những biến cố lịch sử tại nước ta cũng như ở đâu đó một


số nước ngoài. Nếu có những sai sót về họ, tác giả rất mong sẽ được chính họ góp ý kiến


để bổ cứu cho lần in sau nếu cuốn sách có được may mắn đó”.


Tuy nhiên, nhà văn Hữu Mai gọi bộ sách của mình là tiểu thuyết, tiểu thuyết không


thôi. Tại sao? “Tập hồ sơ này... được trình bày dưới dạng tiểu thuyết để cho về hình thức


đỡ khô khan” - ông lý giải. Và tác giả đã thành công. Chỉ cần đọc chừng mấy chục trang,


ta đã gặp luôn những con người sống động như Ngô Đình Cẩn tên lãnh chúa miền Trung


thời Ngô Đình Diệm trò chuyện với ông cố vấn Hai Long, và nhiều người khác nữa.


Ông cố vấn từng được đông đảo độc giả đón xem và đã tái bản nhiều lần, nay vẫn


có không ít người muốn đọc. Tuy nhiên, ai muốn xem qua các mạng điện tử, phải bấm


vào mục “Tiểu thuyết trinh thám”! Vậy ra Ông cố vấn là tiểu thuyết trinh thám?


Lịch sử nước Việt Nam ta riêng một thế kỷ gần đây có biết bao kỳ tích, đó là nguồn


chủ đề vô tận mở ra miền đất hứa cho tiểu thuyết tư liệu. Tại sao chưa có nhiều nhà văn,


nhà báo làm như Hữu Mai? Phải chăng tiểu thuyết không hư cấu chưa định hình? Hay là


tại những khó khăn ít tác giả dám đương đầu?


Có một thực tế là viết tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết


hình sự... tác giả tha hồ tưởng tượng. Muốn làm tiểu thuyết tư liệu, trước hết phải có tư


liệu. Tạp chí Pháp Le Magazine Littéraire nói về cuốn tiểu thuyết của nữ tác gia người


Croatia: “Đó là một bản họa đồ về cái ác. Để dựng nên bức họa đồ ấy, tác giả dựa vào hư


cấu nhưng cũng căn cứ vào các chứng cứ lịch sử qua nhiều tấm ảnh, nhiều tư liệu chân


xác cài xen vào các trang sách. Và, tựa một tấm bia đá sừng sững dựng lên tại chính trung


tâm cuốn tiểu thuyết, bản danh sách chín nghìn người Do Thái bị thảm sát tại thành phố


này trong chiến tranh”. Nhà văn, đạo diễn điện ảnh Canada Jean Daniel Lafond: “Tiểu


thuyết tư liệu - hai từ ấy thoạt nghe đối nghịch nhau nhưng lại hòa hợp với nhau nhờ


nội lực của tác giả muốn đưa lên sân khấu những con người, những câu chuyện, những


địa danh có thực trên đời…”.


Khi tác nghiệp, nếu Jean Hatzfeld dùng máy ghi âm nguyên văn lời kể của các nhân


vật thì Truman Capote cố nhớ vào đầu rồi chép lại sau (ông tự hào, nhiều lần trắc nghiệm


đều cho kết quả ông nhớ đúng 90% những điều nghe kể). Nhiều nhà nghiên cứu xăm xoi


đã phát hiện có không ít chi tiết trong truyện tác giả hư cấu nên - “có hề hấn chi, bởi rốt


cuộc đây là tiểu thuyết!”


Sưu tầm tư liệu, một công đoạn tốn vô vàn công sức, trí tuệ mà không chắc nhà văn,


nhà báo nào cũng có điều kiện và đủ tài năng, nghị lực để tiếp cận, hoàn thành.


Hay là cũng có nhiều người e ngại, nếu gọi tác phẩm của mình là tư liệu tức là vô


hình trung coi nhẹ giá trị của nó, là mời độc giả đẩy nó xuống văn chương loại ba, loại tư,


thậm chí như tiểu thuyết ba xu? Chợt nghĩ đến câu của tác giả Nhật ký của một cuộc bắt


cóc trả lời khán giả truyền hình: “Trong văn chương, không có thể loại lớn thể loại nhỏ,


chỉ có tác giả tài cao hay sức mọn mà thôi”.


10-2013


PQ.


Tác giả gửi wwww.trieuxuan.info







[1] Bà Dasa Drndic sinh ở Zagreb, thủ đô nước Croatia, tốt nghiệp Trường Đại học Belgrade, Nam Tư (cũ)


 


bảo vệ luận án tiến sĩ tại Hoa Kỳ, hiện giảng dạy tại Đại học Rijeka, Croatia. Tác giả nhiều tác phẩm văn


 


học đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Bà cũng là dịch giả văn học từ tiếng Anh sang tiếng Croatia quê


 


hương bà.




[2] Xin liệt kê một số sách có sẵn trước mắt chúng tôi khi viết bài này: Tuần tra trong sa mạc của W.B.


 


Kennedy Shaw, dịch từ tiếng Anh, Nhà xuất bản Berger - Levrault, 1948; Mật vụ Ciceron của L.C.


 


Moyzisch, tiếng Đức, NXB Juliard, 1950; Con mèo cái, nữ gián điệp số 1 của Gordon Young, tiếng Anh,


 


NXB Fayard, 1957; Trận hải chiến Midway, bước ngoặt chiến tranh Thái Bình Dương của Thaddeus


 


V.Tuella, tiếng Anh, NXB Arthaud, 1962; Thống chế Rommel của Desmond Young, tiếng Anh, NXB


 


Fayard, 1952; Điệp viên mật chống vũ khí mật của Jaques Bergier, tiếng Pháp, NXB Arthaud, 1956;


 


Radio Đen của Sefton Delmer, tiếng Pháp, NXB Stock, 1965; Bí mật “ngày N” của Gilles Perrault, tiếng


 


Pháp, NXB Fayard, 1964; Cuộc xâm lăng 44 (tức cuộc đổ bộ lên bờ biển Normandie của Quân Đồng


 


Minh trong chiến tranh thế giới II nhìn từ quan điểm Đức) của Hans Speidel, tiếng Đức, NXB Berger -


 


Levrault, 1966...




[3] Tính đến 2006 đã có ít nhất sáu bộ phim màn ảnh rộng, nhỏ, hoạt hình… của Mỹ, Pháp… khai thác từ


cuốn tiểu thuyết tư liệu này.




[4] Bản dịch tiếng Pháp của Raymond Girard, Nxb Gallimard, 1966 ghi bên dưới tên sách: “Câu chuyện có


thực về một vụ tàn sát nhiều người và những hậu quả của nó”.




[5] Ông sinh năm 1949 tại Madagascar, thời ấy còn là thuộc địa Pháp.




[6] Từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm là mùa gặt ở Rwanda. Nhưng mùa gặt năm ấy, người Hutu hầu hết là


nông dân, bị kích động hận thù sắc tộc, đã không thu hoạch cây lương thực bằng liềm hái mà lao vào gặt


đầu người Tutsi hàng xóm bằng cây dao rựa vẫn dùng phát hoang bổ củi hằng ngày.




[7] Linh dương là loài thú rừng có linh khiếu chạy trốn rất nhanh khi nghe có động.


 


 



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
Đôi lời về Vecte và nỗi đau của chàng - Quang Chiến 07.07.2017
Huyền thoại Faust - Triệu Thanh Đàm 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (3) - Phan Quang 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (2) - Phan Quang 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (1) - Phan Quang 06.07.2017
xem thêm »