tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21054395
Lý luận phê bình văn học
07.11.2013
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (10)

NGÔN NGỮ THƠ XUÂN DIỆU


 


Bước sang thế kỷ XX, trong một hai thập kỷ đầu, thơ ca công khai rơi vào trì trệ về nội dung cũng như hình thức thể hiện. Tản Đà, Trần Tuấn Khải có những tìm tòi, sáng tạo đặc biệt trên hướng khai thác cái đẹp và chất phóng khoáng của thơ ca dân gian dự báo cho những đổi thay của thơ ca trong thời kỳ mới. Trên văn đàn thời kỳ này, thơ ca của Đông Hồ, Tương Phố, Đoàn Như Khuê,… và trên tạp chí Nam phong đều có nhiều cảm xúc xưa cũ, đặc biệt là nỗi buồn thê lương da diết:


Bức khăn hồng tầm tã giọt châu,


Gối khăn còn ngấn lệ sầu tới nay.


(Tương Phố)


Bể bao nhiêu nước bao nhiêu thảm,


Lấp chẳng đầy cho, tát chẳng vơi.


(Đoàn Như Khuê)


Sầu gia giọt lệ như sương,


Lệ ai như nước dòng Tương không bờ.


(T.K.)


Thời kỳ sau khi thơ mới nổi lên cũng vẫn là nỗi buồn ngự trị nhưng cũng khác đi rất nhiều là cái buồn được diễn tả với cảm xúc và điệu ngôn từ mới. Tình cảm không chung chung mà gắn với chủ thể sáng tạo, với cái tôi chân thành. Đặc biệt là hệ thống ngôn từ xưa cũ, ước lệ, vốn là nhược điểm cố hữu của thi ca những thập kỷ đầu thế kỷ và người đọc dễ thấy hệ thống từ sáo rỗng phổ biến qua các trang thơ như băng tuyết, phong sương, phong trần, bụi hồng, bể hoạn, mệnh bạc, tái sinh, kiếp phù sinh, chiếc bách giữa dòng, băng tuyết, trần ai, lệ châu, bể thảm, hộc sầu…


Thơ mới đã tạo được sự đổi thay cơ bản. Đó là một cuộc cách mạng trong thi ca, như cách nói quen thuộc của một số nhà thơ, nhà phê bình văn học. Ngôn ngữ là một nhân tố cơ bản đóng góp vào sự đổi thay đó. Điểm chú ý của ngôn ngữ trong phong trào Thơ mới là tính hiện đại, gắn với thời đại, với yêu cầu biểu hiện cuộc sống đương đại. Đó không phải là ngôn ngữ có tính kinh viện, bảo thủ từ chương quen thuộc trên trang sách từ thời này qua thời khác. Ngôn ngữ văn học phải là tiếng nói của thời đại, phải chuyển tải đến mức đầy đủ tâm tư, tình cảm của mọi người, nhất là với thế hệ trẻ. Không đồng nhất nhưng ngôn ngữ thơ phải chắt lọc được cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ đời sống, phải chuẩn mực và hòa đồng. Một điều dễ thấy là ngôn ngữ của thơ mới tuy mang đặc điểm của một trào lưu nhưng chủ yếu là ngôn ngữ cá thể của thi nhân. Có thể thấy rõ trong phong cách của thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử,… có phong cách riêng về ngôn ngữ thơ.


Nói đến ngôn ngữ thơ Xuân Diệu trước hết cần xác định đây là ngôn ngữ của một nhà thơ tiêu biểu nhất cho phong trào Thơ mới: Xuân Diệu “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh); “nhà thi sĩ của tuổi xuân, của lòng yêu và của ánh sáng” (Thế Lữ); “nhà thơ lãng mạn tiêu biểu nhất” (Lê Đình Kỵ);… Cũng vì thế mà thơ Xuân Diệu là tiếng nói của trái tim, tiếng hát của tuổi trẻ, sự giao cảm thắm thiết giữa con người với con người. Ngay từ lúc mới xuất hiện như vầng trăng vừa ló, với con mắt xanh, Thế Lữ đã chỉ ra với nhiều yêu mến và cảm phục nhà thơ trẻ tài hoa: “Đó là một tâm sự nồng nàn mà kín đáo, một linh hồn rạng rỡ và say mê, đằm thắm hiện ở trong những điệu thơ êm dịu và ái ân, thiết tha và bồng bột. Cảnh sắc của sự vật, nỗi âm thầm của tình ái, dáng tươi cười của mùa xuân, nỗi tiếc thương lạnh lẽo của mùa thu, lời van xin khuyên nhủ của tấm lòng yêu thấm thía nhưng rụt rè, tất cả những tình cảm ấy đều tả trong thở của Xuân Diệu một cách mới lạ, ý nhị, vừa đơn giản vừa đầy đủ, gợi cho ta những hình ảnh, những tư tưởng bát ngát và tươi đẹp không ngờ”( ). Để nói lên những tâm trạng và cảnh sắc ấy, chắc chắn phải có một cách nói, một giọng điệu, một hệ thống ngôn từ thích hợp, mềm mại, gợi cảm, đa sắc thái như mơn trớn, lơi lả, mơ hồ, lai láng, hiu hiu, nhỏ nhỏ, nhè nhẹ, mơ màng, run rẩy, chếnh choáng, rung rinh, man mác, thì thầm, lướt thướt, chầm chậm, ngẩn ngơ, xôn xao, chơi vơi, mỏng manh, ôm ấp, xinh xinh, mỹ miều, thì thào, rộn ràng… Đó là hệ thống ngôn từ của thơ ca lãng mạn gắn với những rung động của con tim, những cảm xúc trước thiên nhiên tạo vật:


Sương nương theo trăng ngừng lưng trời,


Tương tư nâng lòng lên chơi vơi.


(Nhị hồ)


Ít có những từ ngữ của cuộc đời thật, những âm thanh đột phá, những vần chắc, những từ ngữ đời thường. Ngôn ngữ thơ Xuân Diệu là tiếng nói âu yếm thiết tha giao cảm của tình yêu thiên về thơ mộng lưu luyến trôi nhẹ trên thanh bằng:


Trăng vừa đủ sáng để gây mơ,


Gió nhịp theo đêm không vội vàng;


Khi trời quanh tôi làm bằng tơ,


Khi trời quanh tôi làm bằng thơ.


(Nhị hồ)


Tất nhiên bao giờ cũng có ngoại lệ khi cần nhấn mạnh một ý tưởng, một tình cảm. Xuân Diệu đã vận dụng thanh trắc, tạo hiệu quả cho cảm hứng sáng tạo thơ. Tình yêu phải chăng chỉ là giao cảm thầm lặng, thì thầm? Mạch ngầm tình cảm này là quan trọng, nhưng không đủ, nhất là khi cả hai cần đến sự bộc lộ, ngọn lửa tình yêu phải cháy sáng, trái tim phải nói lời sôi nổi:


Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ?


Phải nói yêu, trăm bận đến nghìn lầ;


Phải mặn nồng cho mãi mãi đêm xuân,


Đem chim bướm thả trong vườn tình ái.


 


Em phải nói, phải nói và phải nói,


Bằng lời riêng nơi cuối mắt, đầu mày,


Bằng nét vui, bằng vẻ thẹn, chiều say,


Bằng đầu ngả, bằng miệng cười tay riết.


(Phải nói)


Ngôn ngữ thơ Xuân Diệu gắn với sự sống trong thiên nhiên tạo vật nên dễ tạo được nhiều màu sắc phong phú. Xuân Diệu dựng lầu thơ trong đời nên dễ tiếp nhận được sự giàu có về ngôn từ trong cuộc sống. Thực tế ấy khác với các nhà thơ đưa thơ về những nẻo đường khác, tìm đến thế giới huyền bí của tâm linh, hoặc đưa thơ trượt sâu vào những thú vui chơi dễ nhàm chán, hoặc tự đóng kín cửa trước mọi đổi thay của cuộc đời. Ở những trường hợp trên, ngôn ngữ thơ dần trở nên hạn hẹp, nghèo nàn, mất dần sức sống. Và điều dễ thấy nhất là không dễ tạo được giao cảm với cuộc đời. Ngôn ngữ thơ Xuân Diệu mới, giàu sức sống của tuổi trẻ, màu vẻ thanh xuân của cuộc đời và điều quan trọng là sức sáng tạo trong ngôn từ. Sau Cách mạng tháng Tám, thơ ca ở giữa đời nên ngay từ buổi đầu thơ Xuân Diệu đã có giọng điệu khỏe chắc, hòa hợp với cuộc sống. Trường ca Ngọn quốc kỳ có những khổ gieo vần chắc, thích hợp và gây ấn tượng:


Ai từng nghe nói quân du kích?


Nhắc đến lòng son tràn cảm kích.


Ôi những chiến sĩ, những anh hùng,


Những kẻ hồn xanh như ngọc bích:


Đi theo tiếng gọi nước non thiêng,


Đứng dưới sao vàng ra kháng địch.


Ngay từ trước Cách mạng, Xuân Diệu đã tạo được tính đa nghĩa, đa thanh của ngôn ngữ thơ. Xuân Diệu chịu ảnh hưởng quan niệm của Bôđơle về tính tương hợp trong thơ: “Les parfums, les couleurs et les sons se répondent”. Thơ ca cũng như âm nhạc, phải là “khúc nhạc thơm”, “khúc nhạc hường”. Xuân Diệu đã quy tụ và chuyển đổi tài tình và sáng tạo trong ngôn ngữ từ tiếp nhận giác quan này sang giác quan khác từ thị giác sang thính giác:


Tóc liễu buông xanh quá mỹ miều


Bên màu hoa mới thắm như kiêu;


Nỗi gì âu yếm qua không khí,


Như thoảng đưa mùi hương mến yêu…


(Nụ cười xuân)


Và tất cả như hòa hợp trong buổi bình minh của trời đấtl Nào ánh sáng niềm vui, nụ cười, tiếng reo, rồi bướm bay, chim hót,… tất cả thật sinh động, tươi vui:


Vườn cười bằng bướm, hót bằng chim;


Dưới nhánh, không còn một chút đêm:


Những tiếng tung hô bằng ánh sáng,


Ca đời hưng phục trẻ trung thêm.


(Lạc quan)


Xuân Diệu có khả năng sáng tạo hình ảnh và ngôn từ mà trước đây thi ca chưa nói đến, và cùng thời khi viết về yêu đương chưa ai nói thế. Thật là sáng tạo khi viết:


Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.


Và khăng khít xít xao hơn như cuốn vào nhau, hút vào nhau:


Như kẻ hành nhân quáng nắng thiêu,


Ta cần uống ở suối thương yêu;


Hãy tuôn âu yếm, lùa mơn trớn,


Sóng mắt, lời môi, nhiều - thật nhiều.


(Vô biên)


Trong thơ Xuân Diệu, ngôn ngữ nhiều khi bị cuốn theo dòng tình cảm mãnh liệt. Một dòng một câu không thể diễn tả đủ mà phải nhiều câu liên kết chặt với nhau thành một đoạn, một khối kết dính, và tạo hiệu quả qua cao trào đến kết thúc. Những khối chữ ấy gây ấn tượng mạnh mẽ ở người đọc. Từ hình ảnh và cảm xúc liên kết nhẹ nhàng mà gây ấn tượng:


Một tối bầu trời đắm sắc mây,


Cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy,


Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ,


Nghiêng xuống làn rêu, một tối đầy.


(Với bàn tay ấy)


Và với cảm xúc yêu đương sôi nổi cuồng nhiệt, từng dòng thơ kết nối với từng dòng, mỗi dòng là một nấc thang dâng cảm hứng lên cao và kết thúc một cách ấn tượng:


Ta muốn ôm


Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;


Ta muốn riết mây đưa vào gió lượn,


Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,


Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều,


Và non nước, và cây, và cỏ rạng,


Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,


Cho no nê thanh sắc của thời tươi;


- Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!


(Vội vàng)


Những câu thơ sôi nổi trên là thơ ca, và cũng là cuộc đời. Nói như Thế Lữ, có lúc thơ của Xuân Diệu “không phải là “văn chương” nữa mà là lời nói, tiếng reo vui hay năn nỉ”. Say mê miêu tả sức sống của con người và tạo vật, câu thơ Xuân Diệu có lúc không tránh khỏi thiếu chắt lọc. Nhà nghiên cứu Trần Thanh Mai cho rằng trong tập Thơ thơ có nhiều câu thiếu thuần nhất, nhiều câu hay tài tình, điêu luyện bên cạnh một số câu còn vội vàng dễ dãi. Điều này khó tránh khỏi kể cả với nhiều tài năng thơ ca. Có những câu thơ, bài thơ không hay trong một tập thơ hay, có tập thơ không hay trong một đời thơ tài năng. Riêng với Xuân Diệu, thơ của tác giả thuộc hệ thống mở sẵn sàng tiếp nhận những cái mới, cái hay, cái đẹp cho thơ ca. Xuân Diệu không đi về phía khai thác dân gian. Xuân Diệu là nhà thơ của thị thành. Qua hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió ít thấy chất liệu dân gian. Tuy có những câu thơ về làng quê rất hay:


Đã nghe rét mướt luồn trong gió


Đã vắng người sang những chuyến đò.


 


Con cò trên ruộng cánh phân vân


Song Xuân Diệu không đầu tư thơ ca vào khu vực làng quê. Trong một lần đi ra vùng ngoại ô khi đến một vùng quê, Xuân Diệu thốt lên: “Đến đây khởi sự nhà quê”. Nhà thơ Tố Hữu cũng nhận xét là thơ tình thời kỳ 1930-1945 nổi lên hai nhà thơ Xuân Diệu và Nguyễn Bính. Xuân Diệu là nhà thơ của thành thị và Nguyễn Bính là của thôn quê. Xuân Diệu hướng thơ ca vào việc tiếp nhận thơ phương Tây, nhất là thơ Pháp. Phong trào Thơ mới chịu ảnh hưởng trực tiếp của thơ Pháp và Xuân Diệu là trường hợp tiêu biểu. Có thể tìm thấy nhiều câu thơ hay trong thơ Xuân Diệu gần gũi với thơ Pháp. Xuân Diệu viết: “Nhà thơ Pháp Étmông Harôcua có bài thơ ngắn rất nổi tiếng: Partir, c’est mourir un peu (Đi là chết ở trong lòng một ít). Đúng quá, những đôi lứa muôn đời đứt gan đứt ruột phải biệt xa nhau; khoảng năm 1934-1935, tôi đang yêu bèn vận vào mình và chuyển sang:


Yêu là chết ở trong lòng một ít,


Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?


Cho rất nhiều những nhận chẳng bao nhiêu.


Câu thứ ba tôi lấy dáng dấp một câu trong bài tình duy nhất không tiền khoáng hậu của Phêlích Arơve( ).


Thơ Xuân Diệu ảnh hưởng thơ Lamáctin, Bôđơle, Vích to Huygô,… Có khi là ảnh hưởng trực tiếp theo câu chữ, có khi là ở cảm hứng chung của bài thơ, hồn thơ. Xuân Diệu tâm sự: “Bôđơle tăng cường cho tôi sự tự giác và nhận định về các hoa hương, màu sắc, bầu trời, bãi biển xung quanh tôi. Trong bài Buồn trăng, tôi không bắt chước gì của Bôđơle nhưng nhất định cái chất mê ly trong bốn câu thơ cuối bài có sự góp phần khêu gợi của thơ Bôđơle:


Gió nọ mà bay lên nguyệt kia,


Thêm đem sương lạnh xuống đầm đìa.


Ngẩng đầu ngắm mãi chưa xong nhớ,


Hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya”( ).


Bắt chước và sáng tạo trong nghệ thuật bao giờ cũng vẫn là một vấn đề khó. Huy Cận cho rằng: “Khởi đầu của sáng tạo thường là bắt chước”, nhưng bắt chước phải biết dừng lại, phải chừng mực để sáng tạo. Buổi đầu tiếp nhận ảnh hưởng của thơ Pháp với nhiều phương thức tiếp cận nên không tránh khỏi thiếu nhuần nhuyễn. Nhiều câu thơ tuy mang vẻ mới lạ nhưng còn ngô nghê, thiếu uyển chuyển, mềm mại. Một số người đọc hoan nghênh, số khác chê trách”. Nhà phê bình Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam nhận xét: “Ngay lời thơ Xuân Diệu cũng có vẻ chơi vơi. Xuân Diệu viết văn tựa trẻ con học nói hay như người ngoại quốc mới võ vẽ tiếng Việt. Câu văn tuồng bỡ ngỡ. Nhưng cái đáng bỡ ngỡ ấy chính là chỗ Xuân Diệu hơn người. Dòng tư tưởng quá sôi nổi không thể đi theo những đường có sẵn. Ý văn xô đẩy câu văn phải lung lay”( ). Nhà phê bình văn học Trần Thanh Mại cũng nhận xét: “Chẳng những tôi không lấy sự dùng những trợ từ: của, bởi, nên, vì, nhưng mà, sẽ, v.v… mà Xuân Diệu hay dùng làm một thói xấu, mà còn cho đó là một sự cần. Ông Xuân Diệu đã làm rất hay khi ông đem ứng dụng vào văn chương những từ ngữ mới như: “đại dương của thương nhớ”, “sa mạc của cô đơn”, v.v… Ta không nên lấy làm ngây ngô sự “quá Tây” của ông, cũng như ta chưa từng lấy làm ngây ngô sự “quá Tàu” của các bậc văn nhân tiền bối”( ).


Xung quanh vấn đề này mọi việc cũng không diễn ra đơn giản. Nhà thơ Xuân Diệu đã phát biểu suy nghĩ của mình về “tính cách An Nam” trong văn chương, văn chương phải vừa giữ bản sắc vừa tìm tòi cái mới: “Chúng ta phải tạo thêm, phải bày đặt ra những cách dùng mới mà xưa kia các cụ không chịu tìm; vả lại chúng ta ở thế kỷ XX, chúng ta có những cái phức tạp mà các cụ không có. Cái phức tạp là đấy ư? Thế nghĩa là muốn làm An Nam, phải giản dị, đơn sơ như thời trung cổ ư?...”.


“Tôi xin lỗi ông Hoài Thanh vì tôi đã nói “đại dương của thương nhớ, sa mạc của cô đơn”. Tôi nhận rằng chữ của ngô nghê thực, song le nếu nói: “nỗi thương nhớ mênh mông như dại dương” thì hai câu rất khác nhau. Câu dưới là một sự so sánh, câu trên có chữ của là một sự trùng hợp, một sự lẫn lộn. Ý của tôi phải dùng một cái métaphone (ẩn dụ) mới tả được, thì tôi phải dùng chữ của dẫu cái chữ ấy nghe không quen tai”( ).


Ý thức chủ động và tinh tường về vận dụng ngôn ngữ thơ của Xuân Diệu còn thể hiện ở sự chọn lựa cân nhắc kỹ càng từ ngữ trong từng bài thơ.


Các tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió đều có “hồ sơ” bản thảo dày dặn. Mỗi bài thơ đều được giữ lại các bản nháp, từ bản nháp đầu cho đến cuối cùng và bản in đầu tiên.


Trong các bản thảo thơ của Xuân Diệu còn để lại những dấu vết của nhiều lần sửa chữa.


Trong bài Thu, câu thơ:


Gió ngàn mây nhẹ dáng thu xa


được chữa lại là:


Gió thềm, mây lặng, dáng thu xa.


Lao động nghệ thuật, đặc biệt là lao động thơ ca cần đặc biệt chú ý lao động câu chữ( ).


Không những cho riêng mình mà Xuân Diệu đôi lúc cũng góp ý sửa chữa cho một số nhà thơ quen như Huy Cận, Anh Thơ. Trong bài Chiều xưa của Huy Cận, câu thơ:


Ngàn năm sực tỉnh lê thê


Trên thành son nhạt chiều mê mải sầu


được Huy Cận chữa là:


Trên thành son nhạt chiều tê tái sầu


Xuân Diệu đã góp ý và cuối cùng câu thơ được chữa là:


Trên thành son nhạt chiều tê cúi đầu


Huy Cận tâm đắc và Hoài Thanh cũng khen ngợi.


Ngôn ngữ thơ trong các tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió thiên về ngôn ngữ tình cảm chuyển tải những suy nghĩ, cảm xúc riêng của nhà thơ. Xuân Diệu chủ yếu dựa vào bản thân hay nói như tác giả là “dựa vào ngàn năm thương nhớ”để viết nên dễ chủ động và trang thơ cũng thuần nhất. Sau Cách mạng, nhà thơ có niềm vui lớn là đối diện với cuộc sống phong phú, bề bộn tạo ra nhiều thách thức. Nhưng trước hết là niềm vui: Trong nhiều tiểu luận về thơ, Xuân Diệu khẳng định cuộc sống là nguồn gốc của thơ. Chất thơ tồn tại ngay trong sự sống hằng ngày. Trong bài thơ Nguồn thơ mới, Xuân Diệu bộc lộ niềm vui:


Có một suối thơ chảy từ gần gũi,


Ra xa xôi, và lại đến gần quanh.


Một suối thơ lá ngọt với hoa lành,


Nói trong xóm, và giỡn cười dưới phố.


Xuân Diệu đã khai thác thơ của mình qua các chặng đường cách mạng từ sự phong phú của cuộc sống. Nhà thơ tìm thấy nhiều câu thơ như có sẵn trong cuộc sống. Ông tâm sự về hai câu thơ được viết từ lời nói của người lái đò sông Đà: “Tôi chỉ cần bỏ hai chữ thì, thêm vào một chữ uống:


Anh lên lần trước uống nước sông xanh


Anh lên lần này, nấu cơm nước đỏ.


Đây là hai câu thơ khá hơn cả, gợi không khí hơn cả trong bài Trên bến phà Thia của tôi”.


Trong một lần về một vùng đồng quê giữa những ngày hạn hán gay gắt, Xuân Diệu được một đồng chí cán bộ dẫn đi thăm đồng ruộng. Người cán bộ nói về tình trạng hạn hán đến mức con đỉa bò tránh nắng, vắt qua mô đất và chết. Xuân Diệu hứng thú với câu nói, hay như một câu thơ. Từ đó tác giả viết:


Con đỉa vắt qua mô đất chết,


Và người ngửa mắt ngóng trời cao.


Với quan niệm ấy, ngôn ngữ của thơ Xuân Diệu thêm được sự giàu có của chất sống thực tế và hứa hẹn ngôn ngữ thơ không vơi cạn. Tuy nhiên cái mất cũng không nhỏ khi chất sống lẫn lộn ùa vào làm cho ngôn ngữ thơ thiếu sự chọn lọc và có lúc bề bộn đến xô bồ. Sau Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu thấy rõ vai trò của nhân dân trong cuộc sống và trong sáng tạo nghệ thuật. Xuân Diệu ca ngợi thơ bộ đội qua các chiến dịch, đặc biệt tác giả tìm về khai thác kho tàng thơ dân gian. Nhiều hình ảnh, cấu tứ, thể loại của thơ ca dân gian được sử dụng sáng tạo và có hiệu quả. Xuân Diệu cũng tìm đến nhiều nhà thơ tiêu biểu của thơ ca thế giới như Nadim Hítmét, Pablô Nêruđa, Lu-i Aragông, Nicôla Ghiden để học tập kinh nghiệm, đặc biệt là với Nadim Hítmét. Các nhà thơ trên không thuộc khuynh hướng lãng mạn, mà tiếng nói thơ ca của họ gắn với vận mệnh của dân tộc, nhân dân và có giá trị nghệ thuật cao. Tuy nhiên dòng chủ lưu vẫn dựa vào cuộc sống với nhiều từ ngữ mới lạ: chính trị, xã hội, văn hóa nảy sinh từ những sự kiện chuyển động xã hội. Từ Ngọn quốc kỳ, Hội nghị non sông đến Thanh ca, 13 tập thơ viết sau Cách mạng là những nỗ lực và thành tựu của nhà thơ gắn liền với những chặng đường của đất nước: Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, giai đoạn chống Mỹ cứu nước. Ngôn ngữ thơ Xuân Diệu là công cụ hữu hiệu chan hòa, tươi thắm ca ngợi đất nước nhân dân và có khi sôi lên căm giận trước kẻ thù xâm lược. Trong thơ ca thời hiện đại có một phong cách thơ Xuân Diệu, nhà thơ lớn của dân tộc và cũng có một phong cách ngôn ngữ giàu sáng tạo của nhà thơ Xuân Diệu.


02-2008


 


(còn tiếp)


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học, 2013.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »