tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22987391
Tiểu thuyết
30.10.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

13. CẤP TRÊN LÀ TÔI ĐÂY


 


Trời gần tối, ghé một chiếc quán nhỏ, nhìn ra phong cảnh vẫn như xưa, chàng uể oải lấy cơm nắm ra ăn, thì nghe có giọng nói oang oang như lệnh vỡ:


A! chú Một!


Chàng buột miệng:


Ối! Anh Hồng Long! Anh chưa xuống tàu sao?


Người học trò cũ của cha chàng, người đã lau nước mắt khóc tám mươi năm nô lệ trên cấm Ma Da chín năm trước, bây giờ cái giọng còn quyền uy hơn:


Đúng lý bây giờ tôi đã phải cập bãi Sầm Sơn ở Thanh Hóa rồi, để chỉ huy mọi việc. Nhưng tôi mới được lệnh ở lại. Coi bộ chú phấn khởi nhỉ, tốt.


Rồi anh đưa mắt nhìn chàng, soi mói từ đầu tới chân, cuối cùng dừng lại nơi vừng trán của chàng, anh có vẻ nghĩ ngợi. Rồi như mới khám phá ra một điều mới mẻ:


Sắp tới, những thanh niên trí thức con nhà địa chủ tiến bộ, lại thơ hay dạy giỏi như chú sẽ có ảnh hưởng đối với tầng lớp tiểu tư sản, rất cần cho ta đấy. Nhơn danh Thường trực Ủy ban tỉnh Quảng Ngãi, tôi ra lệnh cho chú trở lại, coi như chú không muốn đi tập kết. Nữa rồi tôi cho người đến gặp, ta tính.


Như kẻ sắp chết đuối vớ được cái bè gỗ chắc nịch trôi trên con nước xoáy mênh mông, được lời như cởi tấm lòng, nhưng vẫn khôn ngoan, chàng nói:


Như vậy có trái lệnh cấp trên không. Vả còn tương lai của em sau hai năm nữa chứ?


Anh chậm rãi, từng tiếng:


Cấp trên là tôi đây. Còn tương lai? Hoạt động giỏi, tôi còn đưa vô Quốc hội khi Tổng tuyển cử. Không do dự gì hết, trở về!


Quay một trăm tám mươi độ trên con đường cái quan, anh Cả đắc thắng thấy thằng em áp út lần đầu tiên ngoan ngoãn vâng lời mình từng tiếng một. Mẹ thở phào nhẹ nhõm hết bệnh vì thằng con không đi theo những kẻ từng đấu tố mình. Người vợ trẻ, lúc đầu quả không mấy vui vẻ thấy chồng không theo kịp đồng bạn, đồng chí nhưng liên tiếp sau nhiều đêm chăn gối ngọt ngào mùi mẫn sớm khám phá ra rằng, tối nào cũng được nằm ôm lấy nhau thì còn lạc khoái chán vạn hơn cái tương lai chỉ được hứa hẹn nào đó ở chốn xa vời.


 


14. QUỐC GIA TIẾP THU


 


Ngày Quốc tế Lao động năm 1955, một đoàn xe vừa Jeep vừa Camion cắm cờ vàng ba sọc đỏ, chở một đại đội bảo an tiến vào chợ Thi Phổ.


Những người lính, ăn mặc lạ hoắc, quần áo kaki vàng, mũ kết vải có tua, ngoài súng ống lách cách, lưỡi lê sáng chói, họ có cả máy phát điện và loa phóng thanh. Chiều tối, điện sáng như ban ngày, micro vặn hết cỡ, họ chiếu phim cảnh Thủ tướng Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh và tấu bản Này bao hùng binh tiến lên… Rồi họ ngâm bài thơ: Anh về qua xóm nhỏ, đêm trăng ướt lá dừa của vị Đại úy chỉ huy toán quân này, cũng là một thi sĩ. Cùng với đám quân lính bát nháo này, họ thành lập ngay chính quyền hương thôn. Cụ hương bộ Văn, địa chủ từng bị đấu tố, nay làm chủ tịch Hội đồng hương thôn xã.


Tuần lễ sau, chàng ngạc nhiên thấy trong danh sách thiện chí Quốc gia có tên mình với chức vụ thông tin thôn Phước Thịnh, nhưng chàng sợ hãi nín khe, không nhận cũng không dám chối từ.


Để tránh đi một thời gian, chàng xin mẹ cho phép đưa vợ về trển ít hôm. Trên đây là trên Nguồn, quê vợ. Ngày đó, nhờ bán mấy chục ký gạo, chàng mua được hai vật quý: một cái xe đạp cà tàng của ông Sĩ, một người béo ù mới phát lên ở ngõ chợ Thi Phổ bằng tài lắp ráp, hàn xì những phế liệu mua từ tỉnh về để làm ra những chiếc xe đạp rất thô kệch, bánh bằng cao su đặc thật nặng nề nhưng nếu gò lưng hết sức đạp nó vẫn chạy tới một cách văn minh hiện đại so với thời dép râu cuốc bộ bấy giờ.


Tất nhiên trước đó, chàng cũng đã phải tốn một số tiền để mướn xe đạp của ông Sĩ mà tập cưỡi, suốt tuần lễ, té lên ngã xuống hàng trăm bận, trầy da sứt trán, thâm tím mình mẩy mấy chỗ. Nhưng thượng lên được trên con ngựa sắt, điều khiển cho nó đi, chàng hiên ngang hãnh diện biết bao trước tia nhìn khâm phục đấng trượng phu của người vợ mới cưới.


Còn vật thứ hai là cái đồng hồ quả lắc treo tường trong cái hộp gỗ đen mọt đã ăn gần hết. Nó có lẽ còn lớn tuổi hơn anh Cả chàng, vốn do ông cậu từng tốt nghiệp Bá công[1] trì chí sửa lại và bán rẻ cho. Nhà mới có tân nhân, phải sắm sửa cái gì mới cho đáng mặt chứ!


Với chiếc xe đạp, vợ chồng chàng xuất hiện trên quê nàng như một nhân vật văn minh đến từ một thành phố hoa lệ nào trên thế gian. Cả xóm bu lại hỏi thăm. Hóa ra chàng không biết một chút gì thời sự hết. Cụ xã Ba, người có con trai từng bị giết năm khởi nghĩa[2], giờ đang nắm quyền ở đây. Ông là bà con xa với gia đình bên vợ, và theo ngôi thứ, chàng phải kêu bằng chú. Được ông cho gọi tới nhà, chàng bỏ dép râu tận ngoài ngạch cửa, rồi rón rén đi vào, khúm núm ngồi vào mép phản gỗ trong khi ông đang ngự trên bộ trường kỷ cẩn xà cừ lưu truyền đã bao thế hệ của một đại tộc, mới đây được đánh bóng lại để thị uy.


Ông cười đắc chí để lộ mấy chiếc răng lòi xỉ mà kẻ không ưa ông mô tả là tiếu trung hữu đao:[3]


Chào thầy giáo, nghe nói thầy giáo mới lên. Thật may, tôi mới từ tỉnh lỵ về đây. Bây giờ phải hết sức thiện chí Quốc gia mà xây dựng chánh quyền. Tôi thiếu một tay tuyên truyền, anh của thầy giáo đang làm ngoài tỉnh. Thầy nổi tiếng là con nhà văn, giúp tôi một tay đi.


Đợi ông đẩy chén trà mời, chàng nhắp một ngụm, thăm dò:


Dạ. Cảm ơn chú. Chú cho phép cháu nghĩ vài bữa. Ở quê, mẹ cháu đang bệnh. Mà lạ quá, dưới đó người ta cũng nhờ cháu một công việc như vậy.


Có gì mà lạ. - Ông đổi cách xưng hô- Thầy Diễn, anh cháu, đang phụ tá cho ông Tỉnh trưởng Phạm Đình Nghị.


Chàng hiểu: nhờ anh Sáu, chàng chẳng những không bị làm khó mà còn có uy tín. Còn ông tỉnh trưởng, anh Phạm Đình Nghị, chính là con cụ thống chế Nam triều Phạm Tường. Anh Nghị trước đỗ tú tài Tây, làm tham phán thời Pháp.


Khởi nghĩa lên, anh đi bộ đội, sau giải ngũ về dạy Lê Khiết, chàng không học anh nhưng cũng biết. Anh có cái mũi thật cao như Tây và đôi mắt sâu hoắm, nhưng người nhỏ con, tụi học trò hay gọi anh là thầy Nghị Tây còm.


Anh cũng bị Việt minh giam giữ vài năm trước đây. Chàng lơ mơ nhớ lại những bài nói chuyện về đấu tranh giai cấp của cán bộ hồi đi chỉnh huấn. Trong cải cách ruộng đất nhiều người bị bắt bớ giam cầm, uất tức, bây giờ có cơ hội, họ theo Quốc gia chống Cộng để bảo vệ vị trí và quyền lợi trong xã hội. Chàng từng nghĩ, phải bồi dưỡng nông dân cho họ phấn khởi dốc sức người và đổ máu cho kháng chiến đưa tới thắng trận Điện Biên Phủ là phải. Nhưng chàng cũng ngầm tán thành ông Đảng viên ấm Giới, ở trường Tư thục An Phong rằng: chính sách đó quá khắt khe tàn nhẫn khi quy cho mọi người, những phú hào yêu nước, kể cả con em họ, là đối tượng của cách mạng mà đấu tố thì chẳng trách gì bao kẻ đã chẳng dinh tê chống lại. La fin justifie le moyen[4] - ông ấm Giới từng phê phán.


Ở Hành Thiện có một cố nông đã vượt lên số phận, vừa đi làm thuê cho một ông chủ ở huyện, vừa cố học đậu bằng Tiểu học. Tính anh hung hãn và hay cãi lý nên đã trở thành cái gai khó chịu trước mắt một số cán bộ. Bởi vậy, thời Việt minh anh bị kêu đi tù lao động công ích dài dài. Với sự tiếp thu của Quốc gia, anh nhanh chóng trở thành Công an, ngày đêm những mong phục hận.


Lúc còn dạy học, chàng- tức Hạm- thường tập các em nhỏ hát những bài hát kháng chiến, anh ta ghét cay ghét đắng chàng. Biết chàng về quê vợ, anh báo cáo với Chủ tịch xã Ba:


Thằng đó là Cộng sản thứ thiệt đấy. Không thể để yên nó ở đây được.


Tất nhiên, ông xã Ba cùng lập trường với anh ta. Ông bắn tiếng cho chàng:


Trên đã có lệnh, ai ở đâu phải về nhà nấy mà làm tờ khai gia đình và căn cước.


Chàng cũng mang máng thấy có điều gì đó bất thường, bèn khăn gói quả mướp trở về Thi Phổ. Ngay hôm sau, công an Mộ Đức về tận xã làm lăn tay nhận dạng, cấp Thẻ kiểm tra cho tất cả mọi người. Chàng khai tên là Nguyễn Hoàng Văn. Không hiểu sao sau tên Nguyễn của dòng họ chàng rất thích cái chữ lót Hoàng thay vì Văn đó, cái chữ lót mà về sau chàng đưa vào tên của tất cả các con cháu: Tên họ của người yêu, mối tình đầu: Hoàng mà gốc là Huỳnh. Vợ chàng mới mười sáu, chàng phải bịa cái ngày sinh là 1-1-1937 cho nàng để đủ mười tám tuổi có thể làm hôn thú. Không thấy ai nhắc việc chàng phải làm Thông tin ấp. Con tu hú đã gọi hè 1955.


Để độ nhật, chàng mở lớp dạy Toán và Quốc văn cho những học sinh đang dở dang chương trình lớp sáu Việt minh trước đây. Lại lấy mấy tấm phản và đá ong chồng lên nhau làm bàn ghế như anh Sáu mười lăm năm trước, chàng giải những bài toán phương trình bậc một, biểu thức đại số cho năm bảy cô cậu, phần lớn là bà con trong xóm như Sương, con anh đội Mẹo, Hoạn, em nàng Liên mà chàng hằng yêu dấu… Chồng làm cụ đồ, cô vợ trẻ thay mẹ tưới rau cải và cắt, bó đem ra chợ bán, lợi tức trong vườn cộng với hoa lợi từ vài miếng ruộng mới được trả, cuộc sống tạm nhàn.


Những đêm trăng, họ tập nhau cỡi xe đạp, hì hục đuổi theo chiếc bóng mình trên con đường cái quan vắng vẻ vừa mới được lấp các hố, hào đào lên trong tiêu thổ kháng chiến mấy năm trước. Họ té huỳnh huỵch nhưng vui vẻ cười nắc nẻ: nàng chưa sợ hư thai.


Tháng Bảy, có tin cho biết, em út Thủ tướng Ngô Đình Diệm, Cố vấn tối cao ở miền Trung là cậu Cẩn, đã cách chức toàn bộ nhóm Quốc dân đảng địa phương Quảng Ngãi mà từ non một năm nay từng ra công giúp nhà Ngô lập bộ máy hành chính từ tỉnh xuống tận thôn ấp.


Tỉnh trưởng Phạm Đình Nghị, nhà hành chánh bất đắc dĩ và luộm thuộm buổi giao thời đó, dù quen thân với Phạm Văn Diêu, mưu sĩ số một của bào đệ Thủ tướng là Ngô Đình Nhu, bản thân thầy Nghị đã phải chạy thoát thân vào Sài Gòn.


Trưởng ty công an Nguyễn Lữ, người con độc nhãn gan lỳ xứ Đồng Cát bị phe Cẩn bắt giam ở Mang Cá.


Anh Sáu Diễn tội nghiệp của chàng lại như đúng mười năm trước, nhìn quanh mình chẳng thấy còn ai, bèn rút êm khỏi vai viên chức chính quyền để thối vi sư, về dạy học tại ngôi trường Trung học mang tên vị anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn vừa mới khai giảng. Rừng đã động thì dây phải bứt, nữa là một sợi tơ hồng tầm gửi mỏng manh.


Thi Phổ lại có tiếng xì xầm rằng chàng là một tên Việt cộng nằm vùng. Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, chàng không giấu được nỗi lo âu.


Một bữa cơm, chàng chống đũa thừ người nhìn ra ngoài thì vợ hỏi:


Anh làm sao thế?


Chàng chối:


Đâu có gì, anh tính nhờ anh Bảy đang ở Huế xin cho một chỗ dạy để kiếm sống và còn học thêm.


Ở đâu? - Nàng thắc mắc.


Ra tỉnh hay xa hơn, Đà Nẵng, Huế gì đó cũng được.


Nàng chưa hình dung được đất nước mình to rộng bao nhiêu và cái xứ Huế, Đà Nẵng xa xôi đó ra sao. Chỉ sợ xa nhau, nàng buồn rầu dặn hờ:


Có thì cho em đi theo với.


Hẳn rồi.


Đang lúc bối rối thì được thư anh Sáu nhắn phải ra ngay nhà anh ở thị xã Quảng Ngãi để chuẩn bị đi Huế. Mừng rỡ làm sao. Anh còn dặn thêm: Chú Một nó đi một mình. Tháng sau, thu xếp được chỗ ăn ở, sẽ trở về đón vợ ra.


Lần đầu tiên nàng đi tỉnh, một thị xã nhỏ bé bằng bàn tay, nghèo nàn lạc hậu, vừa ra khỏi mười năm chiến tranh với lác đác mấy mái nhà tôn, vài mươi cửa hàng buôn bán, dăm bảy cái quán nước, phở; điện đóm đường sá chưa có. Nhưng dưới mắt nàng tất cả đều kỳ lạ: Ở đây người ta đi giày, bận đồ Tây ngay ở trong nhà, ăn nói lịch sự. Anh chị Sáu lại rất thương đứa em dâu còn nhỏ, ngây thơ và chân chất. Đích thân anh Sáu mua cho nàng một đôi guốc sơn xanh đỏ mà nàng vuốt ve nhìn ngắm mãi, không dám tra chân vào. Anh còn tự tay ra chợ chọn lấy một chục trứng vịt lộn, bảo nàng mang biếu nhạc mẫu của anh, nói là của mẹ gửi cho.


Hai vợ chồng ở đó một đêm, sáng hôm sau, họ tiễn nhau ra bến xe đò, nước mắt nàng lưng tròng, anh Sáu phải quay lại trấn an.


Chú đi độ vài tuần sẽ trở vô đón thiếm. Nếu không về trển, thiếm cứ ở lại đây với anh chị.


Năm ấy, Ất mùi, chị Sáu mới có đứa con thứ ba, gái: Anh Vũ


 


15. HUẾ, 1955


 


Dù rất ham học, lầu thông thơ ca Tàu, Tây đủ thứ, gốc gác chàng vẫn là anh nhà quê. Trên chiếc xe đò Lộc Thành thời danh ở miền Trung cách nay hơn nửa thế kỷ, chạy lung lay lốc xốc trên con đường lổm chổm đá, nhưng chàng vẫn có cái cảm giác khoái lạ, như ngồi trên mây. Lần đầu tiên đi ô tô, nhìn ra làng mạc lác đác những ngôi nhà ngói đỏ, giữa cánh đồng lúa Sơn Tịnh xanh rờn, chàng thấy ngọn núi Thiên Ấn của quê hương, cỏ non xanh mướt dưới chân, đỉnh đá đỏ như chiếc ấn son của Trời vuông vức đóng giáp lai bên bờ sông Trà Khúc quanh co lượn khúc giữa hai bờ cát trắng mà trí tưởng tượng phong phú của người xưa đã vẽ vời ra cho thật văn hoa: thắng cảnh Long đầu hí thủy (đầu rồng giỡn nước). Chàng nghĩ con người bao giờ cũng cố bay bổng lên khỏi thực tại, gán cho sự vật tất cả sự hoa mỹ, bóng bẩy của một thế giới truyền thuyết, thần thánh để tự an trú mình trong cảnh trí có rồng bay phượng múa, có Thiên thai, Đào nguyên nhằm quên đi, dù trong giây lát, những lao nhọc mà nền nông nghiệp thô sơ luôn luôn bắt mình phải vất vả đối diện với. Chàng nhớ Maxime Gorki cũng có một ý tưởng tương tự như thế. Xét ra, như thế cũng chẳng có hại gì.


Hai bên đường, từ Tam Kỳ trở ra, trên những mảnh ruộng lúa xanh, bao mẹ nghèo vẫn còn áo vá chằng đụp đã trở về đang còng lưng nhặt từng cọng cỏ. Nhưng con đường cái quan với lớp nhựa đen láng bóng, chiếc xe khách lướt đi êm ru nhẹ nhàng khiến cho chàng, dù đã được anh Sáu cho bộ quần simili đen, sơ mi trắng tươm tất văn minh, dù là một giáo viên cấp hai từng đọc bao sách vở, chàng vẫn như một xã Quých[5] ra phố, thấy cái gì cũng mới cũng lạ.


Phà Cô Lâu qua sông Cái đang mùa nước nhẩy mênh mông, con đò ngang nhỏ bé chòng chành mỗi lần sóng dội. Rồi Đà Nẵng, vùng bị chiếm với bao nhiêu nhà lầu, có cái tới bốn năm tầng, ngoại trừ những hình in trong sách thì đây là những kiến trúc lần đầu tiên trong đời chàng trông thấy tận mắt. Dây điện, dây thép dọc ngang tua tủa, ô tô, xe gắn máy mắc cửi, người qua lại như trẩy hội, ai ai cũng mặc tử tế, mùi phở xào bên đường bốc lên sực mũi. Ra đến Huế, qua trường Khải Định, chàng thấy nhiều trai trẻ kém chàng năm ba tuổi đang mang sách đi học, cười đùa hồn nhiên với những nữ sinh kiều diễm, áo dài trắng tinh khiết, nón bài thơ che nghiêng tóc xõa bờ vai.


Chàng không hiểu thái độ của những người Pháp. Sao suốt chín năm trở lại Đông Dương (1945-1954), tại quê chàng thì họ bắn giết, thả bom, nướng vàng thân thể một số bạn bè chàng, còn tại cố đô này (xưa kia có nhà vua mà cha chàng luôn ngưỡng vọng nhưng mạng trời đã không cho ông cái ơn mưa móc được bày tỏ lòng trung) thì họ lại mang đến sự sang giàu. Mà hai vùng đó chỉ cách nhau hơn trăm dặm. Nhớ lại, khi qua Hải Vân, khi chiếc Traction 15[6] đen dừng lại trên đỉnh chờ đổ đèo, chàng nhìn xuống núi non cuồn cuộn, chim kêu khe đá, quang cảnh hùng vĩ, bể bạc bao la, mây trời tụ hội, càng bái phục lời thơ của đại Nho Tam nguyên Vị Xuyên Trần Bích San:


Tam niên tam thướng Hải Vân đài


Nhất điểu thân khinh độc vãn hồi[7]


Chàng, một cậu bé nhà quê, một anh giáo hò lơ, bây giờ đứng đây, trên đỉnh đèo, mây bay dưới chân, xa kia là trùng dương vô tận. Và chàng mông lung suy nghĩ, không biết mình sẽ đi đâu? Quá khứ sau lưng là xóm nghèo, Thi Phổ và Vạn Xuân với người vợ mười sáu tuổi học mới hết lớp năm, còn đang dầm chân trong bùn đất quê hương. Và trước mặt là kinh thành mà chàng từng biết qua sử sách, thuở xưa với bao cung điện, hàng ngàn quân cấm vệ canh phòng nghiêm ngặt và cả triều đình với một đấng cửu trùng mà, có lúc chỉ là cậu bé lên tám, thay trời trị dân, tượng trưng một cách danh chánh ngôn thuận cho hàng chục triệu lê dân, như bao nhiêu bà con của chàng, vốn không tên không tuổi.


Anh Bảy đã xin cho chàng được tám giờ Việt văn ở Tư thục Nguyễn Du với mấy giờ Sử, Địa xếp vào năm buổi sáng trong tuần, tiền lương gộp lại gần năm ngàn, hồi đó còn rất có giá[8]. Cùng anh Bảy trọ tại nhà một ông Chệch già trong con hẻm nhỏ đường Hàng Bè, lúc đầu chàng đi bộ tới trường, ăn ở tặn tiện, chỉ tốn mỗi tháng một ngàn. Người con gái duy nhất của ông Chệch, cô Bướm, đã độ hai mươi, mồ côi mẹ từ nhỏ, tuy không đẹp nhưng có duyên, luôn tay may vá và lo cơm nước nuôi cha già. Da nàng trắng muốt, tóc thả dài tận mông. Lúc chấm bài, chàng hay nhìn trộm cái ót nõn nà của nàng, và Bướm, dường như có cái cảm giác bị ai dòm ngó, mất tự nhiên, luôn đưa tay mân mê, vén tóc thành lọn đen nhánh sau lưng.


Ông Chệch âm thầm, anh Bảy âm thầm, cô Bướm âm thầm, chàng cũng âm thầm. Ở đây, không có tiếng nói của loài người, chỉ có tiếng sột soạt của ông Chệch thỉnh thoảng bày chuyện xếp sửa chăn gối hoặc hút thuốc lào, tiếng giở sách sang trang của anh Bảy, tiếng Bướm hoặc nhẹ nhàng đưa cây kéo cắt vải trên bàn hoặc vo gạo nước chảy lon ron sau bếp. Nàng may tay những chiếc áo dài Việt Nam kiểu cách xa xưa cho các mệ từng có quan hệ máu huyết xa gần với một dòng dõi vua chúa đã lụi tàn hay tân thời hơn, những chiếc lemur cho các nữ sinh trung học Đồng Khánh mộng mơ.


Chàng khám phá ra rằng ở đâu cũng có cái nghèo, như gia đình Bướm, như gia đình chàng. Nó hoành hành ở thôn quê, len lỏi tới đô thị, vào sâu trong ngang cùng ngõ hẻm. Không chừng nó lên tận Thiên đàng và xuống tới Địa ngục, nên người ta phải đốt một mớ tiền giấy vào dịp ma chay cúng kiếng, mỗi khi tiễn đưa một thân nhân vừa giã từ cái cõi thế đầy bụi bặm này, giống như một nghĩa cử của Liên hiệp quốc đông đảo phú cường tài trợ cho các nước chậm phát triển ngày nay, nhưng không đòi hỏi dự án hay luận chứng kinh tế kỹ thuật gì.


Những học sinh mới của chàng ở Huế, phần lớn con nhà công chức, tiểu thương hay thậm chí lao động thành thị của vùng bị chiếm đều áo quần lành lặn hơn, một số sang trọng nữa là khác, và hầu hết rất lễ phép. Không còn những bài thơ kháng chiến nữa, những Đêm liên hoan của Hoàng Cầm, những cô lái đò… từng thi hóa người thôn nữ trên sông Hàn nhớ mong anh Vệ quốc một chiều đưa khách sang sông, nói với giòng nước đang lặng lờ trôi:


Nước ơi có chảy về nguồn


Mang giùm ta chút mùi hương tóc thề.


Chàng say sưa truyền đạt cho những cô cậu mười bốn mười lăm tuổi cái mối tình trượng phu liệt nữ Vân Tiên- Nguyệt Nga hay những đoạn văn trích trong Tự Lực Văn Đoàn. Dù còn đặc cái giọng quê mùa xứ Quảng, chàng vẫn mang trọn tâm trạng của kẻ tha phương cầu thực, nỗi thương nhớ làng quê, mẹ già, vợ trẻ, cộng với bao tử biệt sinh ly trong thơ cổ của cha chàng, tất cả được cách tân theo kiểu lãng mạn thao thức của thời đại mà rót vào tai lũ trẻ. Lắm lúc đang say mê diễn giảng, chàng bỗng dưng nín lặng, thấy chúng cũng bần thần ngơ ngác như chàng.


Dạy học vừa có cơm áo, vừa là nguồn thỏa mãn tâm linh. Nước sông Đông Ba vơi đầy theo thời tiết, mùa thu xứ Huế mây bạc lênh đênh, với những đêm bất ngờ trăng sáng rợn người.


Chủ nhật, thỉnh thoảng chàng lên núi Ngự Bình thả mình lên bãi cỏ có khi tới tận hoàng hôn, hoặc chàng xuống Vỹ Dạ thưởng thức dĩa cơm Âm Phủ trong cái bóng tối huyễn hoang của đêm đen dày đặc và của cả khói bếp cố ý cho tỏa ra mù mịt trong chiếc quán nhỏ, bên ngoài sương chiều bay phủ lối.


Dạy học sang tháng thứ ba, chàng đã tậu được chiếc xe đạp và một ít sách vở. Được biết một số bạn bè đang dọn bài để thi tú tài, cái ý chí không thể thua trang lứa và hình ảnh người vợ trẻ thôi thúc chàng, ngoài thời gian phải đi làm kiếm cơm, chàng dốc tâm miệt mài kinh sử…


Bên ngoài, bao biến động đang diễn ra. Huế là đất thánh của gia đình họ Ngô nên tháng mười năm ấy những cuộc huy động dân chúng hoan hô Thủ tướng Ngô Đình Diệm xảy ra như cơm bữa bên dòng Hương Giang nước không hề chảy, lững lờ thành tập quán, như giấc ngủ mê man của đền đài rêu phong. Như mọi người, chàng nhận một phiếu trưng cầu dân ý. Đám thiện chí Quốc gia của cậu Cẩn lùng sục mọi nhà, vừa giơ nắm đấm hăm dọa, vừa dỗ ngọt cử tri, bắt đọc như vẹt câu: Xanh bỏ giỏ, Đỏ bỏ bì. Xanh là phiếu truất phế Hoàng đế Bảo Đại, đỏ là phiếu suy tôn thủ tướng Diệm lên ngôi Quốc trưởng. Sau khi làm xong nghĩa vụ và quyền lợi công dân lớn lao và quan trọng đó, phiếu được đóng dấu nhật ấn ngày 25/10/55, sẽ trở thành giấy Thông hành rất đảm bảo mà chàng rất cần để xin nghỉ phép vài hôm về quê đón vợ ra.


Đối với chàng, chỉ trong vòng nửa năm, Tổ quốc đẹp đẽ mà chàng chỉ biết qua sách vở và giảng dạy say mê trong giờ địa lý, thật sự rung cảm đến nỗi viết thành lời thơ:


Tôi đã đi qua


Những cánh đồng phù sa màu mỡ


Lúa chạy về bên nớ


Có thấy chăng, mây trắng vỡ ở những chân trời xa.


Tôi hát để ngợi ca


Tổ quốc chúng ta đẹp đẽ…


Núi xanh, xanh những sang mùa thu.


Này là giòng sông sâu,


Bờ lau xào xạc


Và con tàu đi vào thơm ngát hương rừng…


Sóng bể, bờ nương,


Mênh mông thương nhớ


Chân đi về đâu


Đi về những bãi Cà Mau


Nắng khô mặt bùn đen xám…


Và những bàn tay lần giở


Những trang lịch sử vàng son


Kìa lớp lớp nhà ai


Hàng cau chờ đợi


Tháng năm dài…


Chàng dậy thật sớm đi bỏ phiếu cho xong, không cần biết cho ai, liền mua vé xe đò về quê, mặc kệ sau lưng bao nhiêu người ngợm, cờ quạt sặc sỡ, biểu ngữ ngang tàng và những lời hoan hô, đả đảo om sòm. Trưa hôm đó khắp dải đất miền Trung bắt đầu mưa bão liên miên. Sông Cô Lâu nước nguồn cuồn cuộn về, đỏ cạch một vùng mênh mông. Đến Quảng Ngãi, không kịp ghé nhà anh Sáu, chàng băng bộ vào sông Vệ để lên Vạn Xuân. Qua cầu Cây Bứa, chàng nhận ra cái chốn linh thiêng đầy ma đưa quỷ đón này hồi còn bé bây giờ chỉ là chiếc cống nhỏ chỉ tầy gang tay như trong ca dao, để người thiếu nữ nọ trong dân gian có thể: Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi. Thần thánh quả đã chết hết rồi. Do đó, dù xuyên qua đèo Đá Bàn vào một hoàng hôn trời đất sụt sùi, mây mù xám xịt cả khe núi, chàng cũng không chút e sợ. Sức hút của tình yêu buổi trai tráng đã thổi một nguồn sức mạnh vào cái con người mảnh khảnh này. Mưa dầm gió bấc, sự ướt lạnh đã được đền bù bằng đôi mắt mừng rỡ của vợ, bếp lửa ấm cúng nổ lép bép reo cười.


Cơm nước xong, cả gia đình nông dân và chòm xóm tụ lại cùng thưởng thức mè xửng nổi tiếng xứ Huế và nhắp trà sen Tịnh Tâm. Kẻ đi xa về lại được dịp tha hồ nói khoác về sự văn vật và cảnh sống thần tiên ở Đế đô.


Người con gái quê rất tự hào về đấng trượng phu thông thái đã được cả xứ Huế mời ra dạy học. Bà con thỉnh thoảng lại dừng nhai, dỏng tai nghe để xuýt xoa thán phục khi chàng kể chuyện một bà Tiên đã giáng mộng chỉ chỗ cho chúa Nguyễn Hoàng, đức thế tổ Gia Dũ Hoàng đế đóng quân và lập chùa Linh Mụ tại đây, chuyện chốn đại nội thâm nghiêm, thời Thiệu Trị đã có một vụ linh miêu tráo Chúa như trong tuồng tích nhà Tống bên Tàu và nhờ đó giòng họ Trương ở Mỹ Khê tỉnh Quảng Ngãi chứng nghiệm được lời một thầy địa lý Tàu: Đại đại Công Hầu, nhất Đại vương[9].


Tối hôm đó, thỏa niềm khao khát của hai tháng xa cách, họ yêu nhau còn hơn cả cơn giông bão đang gầm rú bên ngoài, gió núi hú lên từng hồi như tiếng gọi tuyệt vọng của rừng thẳm lẫn với tiếng mưa rơi sầm sập tưởng như bất tận. Sáng ra, nước phủ mênh mông, dâng lên ngập cả bộ phản gỗ. Mọi người phải kê thêm gạch trên đó rồi đặt mấy miếng ván để làm bếp, vừa dầm mình trong con lũ đặc sánh màu bùn, vừa thổi cơm ăn và nói chuyện thời sự, chuyện đồng áng, chuyện đông tây kim cổ. Lại một ngày nữa trôi qua. Quá nóng ruột vì lo hết phép, chàng cáo biệt mọi người dẫn vợ đi Huế.


Mẹ vợ, đỏ hoe tròng mắt, lẳng lặng gói tròn nhớ thương cho con gái trong chai dầu khuynh diệp và bao củ cỏ gấu đã dầm nước đái trẻ con, phơi khô tán bột, làm thuốc điều kinh và một hũ mắm nêm to, thực phẩm mà chàng rất ghiền từ nhỏ. Gói gắm tất cả áo quần và đồ tế nhuyễn của nàng vào một chiếc khăn, chàng vội vã cùng nàng về Thi Phổ.


Lá tre rụng đầy ngõ trước vườn sau, mái nhà tranh gió lộng trống huyênh, bàn thờ lạnh lẽo âm thầm. Em chàng, chú Út đã đi dạy ở Cà Đó, mẹ chỉ còn ở nhà một mình.


Thay vì quần đùi áo lá rách rưới như một năm trước, mẹ đã có mấy chiếc áo dài và vài cái quần lĩnh mà bà rất thích, do anh chị Sáu mua tặng. Chàng cởi cái pull’over [10] bằng len xanh đưa mẹ, chiếc áo chàng vừa tậu để chống cái lạnh buốt người những đêm thu xứ Huế. Tóc mẹ đã bạc, nhưng vẫn ánh lên một niềm vui, nhìn con dâu. Lại rau tập tàng luộc chấm nước cá đồng kho tiêu ớt cay xé. Ba mẹ con ngồi chồm hổm trên nền đất, sát bếp lửa đang cháy bập bùng cho ấm. Nồi nước chè lá trên ba ông Táo đang thở khói phì phì nóng hổi. Tội quá, lâu nay mẹ chỉ ở nhà có một mình.


Mẹ hỏi:


Lương tháng được nhiêu?


Dạ, hơn năm ngàn.


Mẹ trố mắt:


Hơn hai lượng vàng à?


Chàng cười kiêu hãnh:


Mới hai tháng, con đã sắm được sách vở, áo quần, cả một chiếc xe đạp, lại mấy cái khâu[11] nữa đó.


Mẹ gắp bỏ cho nàng dâu một con cá cấn với chiếc bụng bự vàng ươm, âu yếm:


Con này có trứng đó.


Mẹ nhìn chàng, nghĩ tới đứa hài nhi thoi thóp thở, tưởng nó không sao sống nổi được tới đầy tháng, hăm bốn năm về trước.


Giã từ Thi Phổ với bến Đình trâu tắm, giã từ Vạn Xuân với những cây đậu xanh, giã từ mẹ già tóc bạc, chàng lại lên đường tiếp tục cuộc đời kiếm cơm và học hỏi, bắt đầu gầy dựng cái tiểu gia đình nhỏ nhoi, mới manh nha bằng hai con người, một nữ, một nam, cộng số tuổi chưa quá bốn mươi, quá nhỏ nhoi, không tên không tuổi nhưng nó là một tế bào của xã hội, một sự xuất hiện đơn nhất, tự tính, không thay thế được. Nó là Karma.


Cha đã thường dạy: Nhất âm nhất dương chi vị đạo[12]. Cha giảng:


Lưỡng nghi sinh ra tứ tượng rồi phát triển thành vạn vật rộng lớn bao trùm cả trời đất mà khởi thủy chỉ bé bằng đầu mũi kim.


Nhưng con người không thể chỉ sống bằng hoài niệm dù hiện tại hay xa xôi. Nó thuộc về cảm thức, sâu sắc hàng ngàn năm trong giới hạn của nông nghiệp bộ lạc và Quốc gia thủ công. Ánh đèn dầu của tình quê hương luôn luôn leo lét trong tâm khảm chàng. Nhưng cái bóng điện sáng choang của Huế bấy giờ vẫn là biểu hiện của sự tiến lên, chàng thấy nó không phủ định quá khứ mà còn làm cho quá khứ tồn tại, đầy bản sắc. Với đôi mắt ráo hoảnh, chàng lại khăn gói ra đi, lòng mẹ bùi ngùi…


Sao có tiếng sóng ở trong lòng.


Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,


Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong…


… Mẹ, thà xem như chiếc lá bay


                                        (Tống biệt hành-  Thâm Tâm)


Hai vợ chồng chàng ra đến Huế thì anh ruột chàng, anh Bảy và một người bạn, anh Trần Như Cảnh (cựu giáo sư Lê Khiết) vừa thuê được một phần tòa nhà, ở số 17 Bộ Học, nội thành. Ba người đàn ông đi dạy, vợ chàng ở nhà lo việc cơm nước và đi học may buổi sáng.


Lại kiểu côpốt như thời kháng chiến, lại cá nục kho, rau muống luộc, canh thịt bò lá lốt lá sưng, cá lóc thịt vịt có gừng mới ngon như câu ca dao… sáng tác của cha chàng truyền lại.


Vợ chồng chàng được dồn vào một căn phòng nhỏ, nơi đó ngoài chiếc giường, chàng đã mua một xác thùng đựng bia làm bàn học và một chiếc hộp sữa bằng gỗ làm ghế ngồi.


Buổi tối, sau bữa cơm và mấy phút chuyện vãn, chàng chấm, soạn bài và sửa soạn thi tú tài.


Làm việc, đi lại, kháo chuyện, ăn uống, học bài và làm tình đó là thời khóa biểu hằng ngày, hàng tuần của chàng. Từ ba mươi bảy ký chàng đã tăng ngoài bốn mươi cân, đọc được hàng tạ sách vở, thăm thú Khiêm Lăng, về chơi Cửa Thuận, giao thiệp với nhóm thơ Ưng Bình Thúc Dạ Thị, nhà giáo Nguyễn Đình Chung[13], Nguyễn Hữu Trung, cựu chỉ huy chiến khu Túy Vân, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, thủ lãnh nhóm Tì Bà và các bậc đàn anh Quách Tấn, Nguyễn Văn Xuân thỉnh thoảng từ Nha Trang hay Đà Nẵng ra thăm chơi với anh Bảy và anh Cảnh.


Trung tuần tháng mười một trời mưa liền mấy ngày, nước sông Hương dâng cao ngập cả chợ Đông Ba, trường học được nghỉ, đột nhiên lột lịch, thấy đã ngày mười bảy.


Chàng bảo vợ:


Mai trường học được nghỉ, em đi chợ mua ít thịt, cá, hoa quả… để làm cơm giỗ cha. Nhớ là phải có cặp cá trê nướng và bánh tráng làm món ram hệt như trong quê mình.


Nàng xăn quần lội nước ra đi, đôi bắp chân trắng nõn khỏa bạc trong cơn lũ bị giam hãm trên đường phố của cái đô thị trầm buồn, muôn thuở mơ màng, dường như bất cứ lúc nào cũng có tiếng chuông mõ cầu kinh đều đều từ một vườn cây lá âm u nào đó vẳng lại.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info 







[1] Tức trường công nhân kỹ thuật thời Pháp trước 1945.




[2] 1945.




[3] Trong nụ cười có con dao, ý nói thâm độc.




[4] Kết quả biện minh cho phương cách.


 




[5] Nhân vật hài hước, nhà quê của Tự Lực Văn Đoàn trước 1945.




[6] Xe Traction 15 hồi 1954, nay được dùng như xe cổ phục vụ du lịch.




[7] Tạm dịch: Ba năm ba bận lên đài/ Thân chim nhẹ hểu, vãn hồi Hải Vân




[8]  Năm 1955 giá 2000 đồng/lượng vàng.




[9] Truyền thuyết nói vua Tự Đức là con của Trương Đăng Quế để thực chứng sự to lớn của giòng họ Trương ở Sơn Mỹ, Quảng Ngãi: Đời đời làm công hầu, có một đời làm tới Đại vương.




[10] Áo ấm, không tay, bận bằng cách tròng qua đầu.




[11] Tức khoen bằng vàng, đeo ngón tay, còn gọi là chiếc nhẫn.




[12] Một âm, một dương, ấy là Đạo. Đó là thái cực, sanh ra lưỡng nghi có âm, có dương.




[13] Anh ruột giáo sư Nguyễn Đình Chung Song.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 18.06.2018
Trại súc vật - George Orwell 13.06.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.06.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 11.05.2018
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 07.05.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 07.05.2018
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 07.05.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 20.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
xem thêm »