tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21054417
Lý luận phê bình văn học
30.10.2013
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (8)

THI NHÂN VÀ CUỘC SỐNG ĐỜI THƯỜNG


 


Nhà thơ Tế Hanh có lần nhận xét trong câu chuyện vui: Trước Cách mạng, có những nhà thơ có thể nhận ra giữa đời thường như Xuân Diệu và Đinh Hùng. Xuân Diệu có mái tóc bồng rủ xuống trán, dáng vẻ đôi lúc ngơ ngác, đôi mắt nhìn xa xăm. Còn Đinh Hùng theo Tế Hanh thì nuột nà hơn, da trắng, tóc mai thả món nhỏ và hơi xoăn, trông thư sinh và có nét con gái. Gặp hai người rất khó đoán nghề nghiệp, trí thức thì chắc rồi, nhưng trí thức loại gì? Nhà khoa học, bác sĩ, kỹ sư, thầy giáo… đều chưa phải, mà có lẽ là nhà văn nghệ và thơ mộng hơn, chắc là thi sĩ. Thực ra chuyện về nhà thơ có cội nguồn xa xôi và bí ẩn hơn. Platông xem thi sĩ như chiếc cầu nối giữa thế giới tâm linh của thần thánh và cuộc đời thường nhật. Nhà thơ như có một vương quốc riêng với trách nhiệm thiêng liêng nhưng vẫn ràng buộc và sống giữa cuộc đời trần ai. Trong tác phẩm Con đường đau khổ Alếchxây Tônxtôi đã miêu tả nhà thơ Bétxênốp như một nhân vật kỳ tài và huyền bí. Quá trình sáng tạo thơ được miêu tả huyền diệu và quyến rũ. Hai chị em Kachia và Đasa xinh đẹp đều bị mê hoặc. Sau Cách mạng tháng Mười Nga, những kiểu thi sĩ ấy dần lui vào quá khứ. Và đã xuất hiện những nhà thơ kiểu mới, thơ viết và đọc ở công xưởng, nhà máy, đọc thơ giữa quảng trường như Maiacốpxki. Người làm thơ cũng không phải ai khác mà chính là quần chúng lao động như mọi người. Khi có ảm hứng sáng tạo thi ca, hay nói đơn giản hơn là thích làm thơ thì làm thơ. Ở Việt Nam, trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp đã có những cán bộ thông tin tuyên truyền và những chiến sĩ làm thơ và có thơ hay. Hoài Thanh, Xuân Diệu đã bình và khen ngợi nhiều bài thơ hay của Hồng Nguyên, Trần Hữu Thung, Hoàng Lộc, Lê Kim vốn không phải là những thi sĩ bẩm sinh mà đến với thơ, bắt gặp thơ trên đường đời,… Và ngày đội ngũ làm thơ thật đông đảo. Nhiều người nước ngoài ngạc nhiên vì sao lại có nhiều người làm thơ như thế. Tiến sĩ người Mỹ Jamienxki đã nhiều năm làm việc ở Việt Nam cho rằng người Việt giỏi nhất là làm thơ và cãi nhau. Tôi chất vấn lại: “Ông nói thế là nhằm ý gì?”. “Tôi không có ý gì xấu. Tôi quan sát và nêu nhận xét trên. Tôi cũng chưa giải thích được là như thế nào”. Tôi nói: “Ở phương Tây, nếu mâu thuẫn nhiều người thường túm lấy ngực áo nhau mà nạt nộ. Người Việt Nam dùng ngôn từ để bộc lộ. Như thế có thể tốt hơn chứ?”.


Ngoài những nhà thơ trong nghề, ở Việt Nam còn có nhiều người làm thơ từ viện sĩ, nhà toán học, cán bộ cao cấp, cán bộ ngân hàng, nghĩ sĩ quốc hội, cán bộ chuyên ngành tự nhiên, nhà tu, nhà thư pháp, thợ quét sơn,… đều có thơ. Như thế là tốt nếu có thơ hay và đừng gây phiền hà cho mọi người vì nói như Gớt, thơ đến với cả cộng đồng. Điều này không có gì phải bàn luận nhiều. Điều muốn nói là ở một số nhà thơ có danh tiếng thì nên quan niệm cuộc sống đời thường của họ như thế nào. Xuân Diệu có một câu thơ nổi tiếng: “Nhân loại xem gần vẫn xấu xa”. Và phương Tây cũng có thành ngữ: “Không có nhân vật nào là anh hùng với người hầu phòng”. Trở lại với ngày xưa để khảo cứu cuộc sống riêng của các nhà thơ danh tiếng như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Chu Mạnh Trinh cũng có thể thấy bên cạnh mặt thánh thiện, cao thượng, bao dung, có phần con người bình dị nhiều ham muốn, ham chơi, ham sống. Trong thơ ca Nguyễn Công Trứ còn như vẳng những tên Hồng Hồng Tuyết Tuyết… và tiếng đàn của những ca kỹ. Và ngay cả khi lên chùa cũng có phong cách riêng: “Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi - Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi đi - Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”. Thơ Dương Khuê phóng túng trong cảm hứng thi ca “Chơi cho phờ râu, cho trắng mắt, cho long giải yếm, cho bục dây lưng”. Những nhà thơ xa gần của thế kỷ XX bên cạnh phần tài cũng có chút tật. Tản Đà say trong thơ và say trong đời: “Đất say đất cũng lăn quay - Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười”. Bước sang thời hiện đại thì ngoài chuyện rượu chè còn có đàn hát, cô đầu, thuốc phiện,… Nhiều nhà thơ trong phong trào Thơ mới say đắm với duyên tình, trong thơ, phần thì từ chuyện đời thật, phần thì do tưởng tượng mà nên. Một số nhà thơ gặp gỡ vui chuyện thường uống rượu và nhấm nháp thức nhắm, đơn giản là đĩa lạc luộc, quả muỗm xanh chấm muối hoặc đĩa nem chua với tương ớt. Cũng có trường hợp rượu chan hòa với thơ và có lúc gây cảm hứng cho thơ. Hoàng Trung Thông có những bài thơ hay về rượu. Ông so sánh em với rượu (Em như rượu) và tâm sự: “Anh yêu em như rượu và thơ”. Song có nhiều nhà văn, nhà thơ không đam mê chuyện đó. Huy Cận và Xuân Diệu là những trường hợp cụ thể. Hai người có những nét gần gũi về cách sống. Gần như hai ông không nghiện ngập một thứ gì. Họ yêu đời ham sống, khỏe và lạc quan. Huy Cận mặc giản dị và đôi lúc hơi xuềnh xoàng. Ông ngại thắt caravát và buộc dây giày. Ông hay bôi dầu Phật Linh. Trong chuyện ăn uống ông không khó tính và ăn dễ ngon miệng cả thức ăn Âu và thức ăn dân tộc. Tuổi đã cao, trí nhớ ông vẫn rất tốt. Hẹn ai điều gì ông nhớ kỹ lời hẹn và ghét người sai hẹn. Ông nhớ giỏi các số điện thoại của bạn bè, và dù ai ở đầu dây, câu nói đầu tiên cũng là: “Ai đấy, cái gì thế”. Ông hồ hởi vui vẻ với mọi người khi tiếp xúc và thường chú ý đến ưu điểm của người đang nói chuyện với mình. Nhiều năm làm quan chức nên bên cạnh vẻ xuề xòa, vui vẻ bên ngoài vẫn có một con người chính thống, nguyên tắc. Nhiều khi ông nói mạnh mẽ, có điệu bộ, thẳng thắn bộc lộ chính kiến của mình. Ông đi nhiều nước, quan hệ quốc tế rộng nhưng vẫn giữ bản sắc của quê hương và quý trọng mái ấm gia đình. Một lần tôi và anh Trần Khánh Thành mời ông đi ăn ở khách sạn Níchkô. Ở đấy có món cá hồi và các loại rượu vang uống tùy thích. Ăn theo kiểu tự chọn, nên tôi nói: “Anh cứ ngồi đây, tôi và anh Thành sẽ lấy rượu và thức ăn giúp anh”. Tôi lấy rượu và cá đến. Huy Cận ăn cá hồi theo kiểu cách chung, có vắt chanh, có mù tạt rồi khen rất ngon. Nhưng Huy Cận chỉ ăn nửa đĩa còn để lại một phần. Tôi hỏi: Anh không thích à? Huy Cận trả lời: “Ngon, rất ngon nhưng mình muốn mang về cho cô Thu vợ mình. Cô ấy chưa được ăn cá hồi bao giờ”. Tôi nói khéo với cháu phục vụ để mua một ít cá hồi cho Huy Cận mang về. Khách sạn không bán nhưng vì nể nhà thơ nên một lát sau cháu phục vụ mang ra một gói cá hồi màu hồng bọc giấy bóng và tôi trao cho Huy Cận. Ông cảm ơn và bảo: “Ăn miếng ngon dễ nhớ đến vợ con”. Tôi muốn nói nhiều đến Xuân Diệu, nhà thơ yêu cuộc sống, yêu vẻ đẹp của thiên nhiên và tình yêu đôi lứa. Trong phòng, Xuân Diệu luôn có những bông hoa tô điểm cho cuộc sống. Niềm say mê lớn của ông là tìm sự giao cảm với đời bằng nhiều hình thức, làm thơ, nói chuyện thơ, viết phê bình, nghiên cứu thơ. Có lần Xuân Diệu nói với tôi: “Nên nhớ mình không phải chỉ là nhà thơ mà là bốn nhà: nhà thơ, diễn giả, nhà phê bình nghiên cứu và dịch giả về thơ. Nếu ngồi vào mâm, mình có quyền gắp bốn miếng nhưng chỉ dè dặt gắp một lần thôi”. Ông thường đi nói chuyện nhiều ngày say mê đợt này đến đợt khác đến nhiều tỉnh. Vào những năm chống Mỹ, khi tới dự hội thảo khoa học ở Trường Đại học Sư phạm Vinh sơ tán tại một vùng quê miền núi Thanh Hóa, ngoài những buổi tham dự ở hội trường Xuân Diệu tranh thủ buổi trưa xuống bếp đọc thơ cho các chị cấp dưỡng. Còn làm thơ, nghiên cứu thơ thì đó là niềm say mê lớn của Xuân Diệu. Gần 50 cuốn sách tính đến gần cuối đời, gần 500 bài thơ tình, hàng mấy trăm buổi nói chuyện. Sau những chuyến đi công tác, những lần gặp gỡ trở về không có những bàn tay chào đón, những ánh mắt âu yếm của người thân trong gia đình mà chỉ là nỗi cô đơn, vắng vẻ. U Khang chào ông với lời ngắn ngủi: “Ông đã về” và chuẩn bị đi chợ cho bữa ăn. Lao động như thế nên Xuân Diệu phải bù đắp bằng những bữa ăn để bù lại sức lực. Ông ăn ngon miệng, ăn có chọn lọc và đó cũng là một niềm vui song nếu so với chuyện ẩm thực ngày nay của các nhà báo, nhà văn được cuộc đời chiều chuộng thì cũng chỉ là một thực khách ở quê ra. Trong những năm chiến tranh, đời sống vô và khó khăn nên không dễ có được cuộc sống đầy đủ và cái bếp luôn đượm lửa hồng. Một lần tôi tặng ông một cuốn sách, Xuân Diệu cảm ơn, cầm lấy cuốn sách và xem số trang rồi bảo: “Chúc mừng cho Hà Minh Đức, như thế là ngọn lửa trong bếp lại hồng rồi, bếp lửa có hồng mới lại có được cuốn sách khác”. Tôi cảm ơn và hiểu rằng sự nghèo nàn dễ dẫn đến kiệt sức - rất khó để có tác phẩm văn chương hay khi đã kiệt sức. Cũng vì thế Xuân Diệu thích ăn những món ăn tươi, có năng lượng và không cầu kỳ. Sau giải phóng, ông về Quy Nhơn thăm quê ngoại. Bà mợ đãi ông món thịt bò xào, thơm ngon. Ông bảo với tôi: “Thịt bò Quy Nhơn tươi, mềm, mình ăn hết cả suất và lại nói với bà mợ, chiều mợ lại cho cháu ăn món thịt bò xào”. Ông giải thích thịt bò miền Bắc kéo cày nhiều và chỉ cho mổ những con bò già mất sức nên nó làm khổ người ăn. Ông đi nói chuyện ở trường cấp III Hà Tây thuộc vùng đồng chiêm trũng. Bữa ăn thết ông là món cá quả om, cá tươi nặng trên một cân. Xuân Diệu bảo: “Nói chuyện cho các anh chị giáo viên và học sinh tôi không nhận thù lao. Cảm ơn bữa ăn ngon miệng”. Một giáo viên nói: “Chiều mời anh ăn cơm trước khi ra về”. Ông gật đầu và bảo: “Lại cho mình ăn cá. Không cần gì món khác”. Nói chuyện về cá, Xuân Diệu thích cá nấu theo kiểu truyền thống. Cá tươi to con đem luộc hoặc om, không cầu kỳ. Xuân Diệu rất thích ca trê và bảo cá trê kho, nướng không thể bằng các trê nấu dưa, nhưng phải là dưa khú thì mới thực đúng vị. Ông hỏi tôi đã được ăn cá trê nấu dưa khú chưa. Tôi trả lời là quê tôi cũng có món ăn khó quên này. Trong các thức ăn hằng ngày, Xuân Diệu thích món thịt chó luộc. Ông thường tự đi mua ở chợ gần nhà, loại thịt ngon, chó phải mềm và béo. Tôi ít ăn thịt chó và chỉ thích món dựa mận. Xuân Diệu thích thú món luộc. Ông bảo: “Thịt chó nhiều chất đạm, ăn đậm và giàu năng lượng. Phải ăn luộc mới thấy hết vị của nó”. Ông thường mua hai ba lạng để dành lại cho Huy Cận một phần. Còn lại, ông ngồi nhấm nháp với chén rượu trắng. Một lần, chi Phong Lan ở Viện Văn học đến thăm ông và thấy nhà thơ đang cầm bát thịt sắp xếp theo một chủ định nào đó. Chị hỏi: “Anh làm gì đấy?”. Xuân Diệu trả lời là mình đang soạn thịt. Có lẽ ông đang chọn thịt và để dành cho Huy Cận một phần. Ông chú ý giữ sức khỏe, nhất là trong các chuyến đi nói chuyện. Ông cho rằng đứng trước hàng ngàn người để nói chuyện cũng giống như vào trận đánh. Phải tổ chức chu đáo và người nói cũng phải dốc sức cho đến khi kết thúc. Xuân Diệu cũng chú ý đến đồ uống. Ông thích nước cam vắt, bia,… nhưng những năm tháng này chất lượng của đồ uống rất kém, nhất là ở các huyện và tỉnh nhỏ. Xuân Diệu lưu ý đến chất lượng của nước uống trong giờ nghỉ. Nhiều lần ông tỏ ý nghi ngại những chai bia, chai nước ngọt mua vội ngoài quán về cho diễn giả. Phải đảm bảo cho bụng dạ diễn giả được an toàn. Ông nói với tôi: “Tốt nhất là đánh bốn năm lòng đỏ trứng gà, pha với nước sôi và đường, uống để bồi dưỡng sức. Nó giữ cho dây tơ ở họng khỏi rát và căng ra”. Tôi ghi nhận kinh nghiệm của ông song vì còn ít tuổi nên chỉ uống nước chè bình thường khi nói chuyện. Xuân Diệu khi ăn uống thường thích ngồi một mình - có thể vì hoàn cảnh sống độc thân nên đã thành thói quen. Ông thích sự yên tĩnh nhưng lại hay bắt gặp hoàn cảnh trái khi về nói chuyện ở các tỉnh nhỏ và huyện. Bữa ăn thường rất đông người tham dự. Có khi đến hai ba chục người ăn. Khách đến đông trước hết cũng vì mến mộ diễn giả, sau nữa tục quê có thói quen nhân một dịp gì đấy lại liên hoan chè chén.Tôi cũng đã gặp tình cảnh này một số lần. Vui thì vui thật, nhưng ồn ào, kẻ ăn, người nói, tiếng bát đĩa va chạm nên cũng muốn ăn nhanh cho xong chuyện. Trong những năm sau chiến tranh, đời sống khó khăn nên chuyện ẩm thực cũng khó khăn. Một lần Xuân Diệu và chị Thiếu Mai đi thăm Hungari và khi về chị Thiếu Mai kể nhiều chuyện vui ở nước ngoài. Về sinh hoạt, nước bạn đề nghị chọn một trong hai chế độ, một là chi cho đoàn một khoản tiền rồi đoàn tự túc trong chuyện ăn uống. Hai là đoàn có thể ăn uống thoải mái khi ở khách sạn, khách sạn ghi sổ và Hội Nhà văn chi trả. Chị Thiếu Mai nói với tôi là chị thích chọn cách thứ nhất, tự do hơn và có thể dành chút ít tiền để mua sắm quà. Anh Xuân Diệu lại thích cách thứ hai. Ông bảo chị Thiếu Mai: “Ở nhà ăn uống cần kiệm mãi rồi sang đây bạn đãi mình, mình nên thưởng thức. Cũng không có nhiều dịp, thím nên theo ý tôi, chúng ta cứ ăn uống cho thoải mái, cho ngon miệng thì hơn, còn tiết kiệm thì có nhiều dịp khác”. Chị Thiếu Mai nói: “Mình chiều theo ý trưởng đoàn và trong các bữa ăn anh Xuân Diệu quen với thức ăn Tây nên ăn ngon lành hơn”. Nghĩ đến chị Thiếu Mai, nhà phê bình mảnh khảnh, tháp tùng một nhà thơ to khỏe, mạnh mẽ cũng thấy vui vui.


Câu chuyện về sinh hoạt đời sống của Xuân Diệu, tôi không có điều kiện để biết nhiều, hiểu nhiều. Chỉ nghĩ rằng phần đóng góp của ông cho đời là to lớn, còn phần bù đắp của cuộc đời với ông còn hạn chế. Ông luôn khiêm tốn và cố kiềm chế mình trước những chuyện chưa vừa ý. Nghĩ về mai sau, Xuân Diệu không mong có một bảo tàng hoặc căn phòng tưởng niệm mà chỉ nghĩ đến một tấm biển trên tường kỷ niệm chỗ ở của mình. Có lần ông hỏi tôi: “Trình độ của mình hiện nay theo Hà Minh Đức có xấp xỉ với một phó tiến sĩ không?”. Tôi cười và bảo: “Chắc chắn là hơn rồi, nhưng anh so sánh làm gì cho thêm buồn”. Ít tháng sau, ông được Viện Hàn lâm Cộng hòa dân chủ Đức phong làm Viện sĩ thông tấn. Ông sống tiết kiệm nhưng sẵn sàng giúp đỡ những người thân. Có lần ông phổ biến kinh nghiệm cho tôi. Với bạn bè và người thân gặp khó khăn, nếu ai hỏi vay không nên cho vay mà nên tùy tình hình tặng hẳn cho một nửa hoặc một phần số tiền. Nếu cho vay mà họ không trả được thì mất cả tiền lẫn cả bạn. Xuân Diệu không phải là người giàu có. So với một số nhà văn, Xuân Diệu có sách ra đều và thỉnh thoảng có một chuyến đi thăm nước ngoài. Ông có một số tiền gửi tiết kiệm nhưng lần đổi tiền của nhà nước ông thiếu thông tin mách bảo nên bị hẫng hụt. Căn phòng của Xuân Diệu đẹp, có màu sắc văn hóa nhưng không nói lên sự giàu có. Chưa có những trang bị hiện đại cần thiết. Chỉ có sách và sách. Ông quý sách, giữ gìn và bảo vệ sách. Có những cuốn sách hay tôi cũng ngại không dám ngỏ ý mượn. Xuân Diệu nói: “Mình và Huy Cận có một nguyên tắc là những cuốn sách đã vào nhà này sẽ không đi ra nữa”. Ấn tượng của tôi khi đến thăm ông khi ra về thường là một dáng trầm tư suy nghĩ của nhà thơ bên bàn làm việc hoặc chỗ tiếp khách. Một chiếc bàn nhỏ luôn có những bông hoa. Ông sôi nổi trong công việc khi giao tiếp với bạn bè, còn lại là sự lặng lẽ cô đơn của một tâm hồn thơ vượt lên những khó khăn của cảnh ngộ riêng và những chuyện thường tình của đời sống.


 


Xuân Diệu - Về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, 1998.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học, 2013.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »