tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18404254
Những bài báo
28.10.2013
Nhiều tác giả
Nguyễn Văn Trỗi - Sống như Anh, sống mãi một tình yêu

Anh Trỗi, chị Quyên trong lễ cưới, 19 ngày trước khi sa vào tay giặc!


19 ngày hạnh phúc và gần năm chục năm thương nhớ


Anh Trỗi đã hy sinh ngày 15-10-1964, nhưng khi chị ra đường, kể cả khi đi với chồng, con, nhiều người vẫn nói: "Chị Quyên - vợ anh Trỗi đấy".


Chị bảo, mấy chục năm qua chị sống gần như hai cuộc đời, một cuộc đời dành cho quá khứ đã thành "danh từ chung", một cuộc đời dành cho hiện tại, tổ ấm riêng thầm lặng của mình. Làm thế nào để chu toàn được, không để cái nọ làm ảnh hưởng hay tổn thương cái kia và ngược lại, là một điều không đơn giản...


Chị giờ đã nghỉ hưu, trong một căn hộ khá khang trang trên đường Trần Ngọc Diện, quận 2, TP HCM. Sau tiếng chuông, người phụ nữ tóc hai màu ra mở cửa. Tôi vẫn nhận ra nét cười của chị Quyên năm nào trong bức ảnh đăng trên báo và trong cuốn “Sống như Anh” của Trần Đình Vân.


Nét cười ấy vẫn còn giữ lại vẻ tươi tắn, dù khóe mắt đã hiện hữu nhiều dấu ấn của thời gian. Chị bảo rằng, khi còn sống, anh Trỗi rất thích mỗi lần ngắm chị cười. Rồi chị đếm từng đốt ngón tay: “Thế mà cũng đã 43 năm, chẳng biết là thời gian trôi nhanh hay là trôi chậm”.


Tôi hiểu phần nào những gì chị nói. Gần năm chục năm, hơn nửa cuộc đời một con người, nhanh đấy nhưng cũng chậm đấy. Nói rồi chị dẫn tôi lên lầu thắp hương cho anh Trỗi. Bước chân chị như nặng hơn, chầm chậm trên những bậc cầu thang.


“Góc của anh Trỗi” (theo cách gọi của chị), được hương khói thường xuyên. Tấm ảnh anh thời trẻ với nét nhìn nghiêm nghị. Chị thắp hương và khấn anh, rồi im lặng ngắm tấm ảnh cũ, như thể anh vẫn còn hiện hữu một con người bằng xương bằng thịt trong căn phòng này.


“Góc của anh Trỗi” thực ra vẫn còn nữa, trên chiếc tủ của chị, với những bức ảnh và những kỷ vật về anh, cứ năm bữa nửa tháng chị lại lau những hạt bụi trên khung kính. Và “góc” riêng ấy, vẫn còn ở một nơi thẳm sâu hơn - trong cuộc sống của chị mấy chục năm qua. Người về với cát bụi, người ở lại vẫn còn gìn giữ những gì thiêng liêng nhất của một tình yêu thủy chung son sắt và hơi ấm của hạnh phúc dù chỉ vỏn vẹn 19 ngày.


“Mọi người biết đến anh Trỗi là một anh hùng, biết đến tôi từng là vợ của người anh hùng đó. Nhưng khi yêu anh, anh thực là anh hùng. Hạnh phúc ngắn ngủi với 19 ngày nhưng sống trong tôi. Đó là hạnh phúc với những điều bình dị nhất, những quan tâm cụ thể nhất của người chồng dành cho vợ" - chị nói.


Bởi vậy, những gì chị kể về anh Trỗi, là những chuyện “con người” nhất của một người đàn ông bình thường. Có gì khó hiểu đâu, một người trước và sau khi thành một anh hùng, họ là một người bình thường.


Chị biết và yêu anh Trỗi khi chị tròn 20 tuổi, anh hơn chị 1 tuổi. Lúc đó chị là công nhân của Hãng bông Bạch Tuyết, anh là công nhân điện. Chị bảo, đến giờ hình ảnh anh ngày đầu đón chị khi tan ca vẫn cứ như đang đâu đây chứ chưa xa đến thế, chưa xa đến những 45 năm rồi đâu... Anh mặc cái quần loe màu xanh đã bạc. Chiếc áo trắng cắm thùng. Chùm chìa khóa to tướng treo lủng lẳng bên dây lưng. Anh kiệm lời, chỉ hỏi thăm chị về những gì cụ thể nhất như ngủ khi mấy giờ, công việc ra sao, có hay làm tăng ca không...


Ngay cả những bức thư anh gửi chị, cũng rất ngắn, không một từ “nhớ thương” nào cả mà chỉ nhắc nhở: “Em phải uống đủ mỗi ngày hai lít nước. Uống nước nhiều sẽ chống táo bón và bài tiết những chất độc, chất thải trong người ra. Ăn cơm xong mới được húp canh. Chan canh cùng cơm, khi ăn sẽ nhai không kỹ, rất dễ đau bao tử...”.


Chị “kể tội” anh với nét vui cười trở lại: anh hay “bắt nọn” và hơi “âm lịch” nữa.


Chỗ chị làm là một hãng bông tư nhân nên thời gian nghỉ không nhiều. Những khi đóng gói hàng để chuẩn bị xuất đi, phải làm tăng ca hoặc làm luôn cả ngày chủ nhật. Bình quân mỗi tháng, chị được nghỉ hai ngày.


Một lần anh sang vào ngày nghỉ, không thấy chị, anh lẳng lặng ra về. Ngày nghỉ của tuần tới, chị đến chỗ anh. Vừa gặp anh đã phủ đầu: “Chủ nhật tuần trước em đi chợ Bến Thành với anh nào à?”. “Đâu, em ở nhà ngủ vì tối hôm thứ bảy làm tận 2 giờ sáng, rất mệt”. “Sao thằng Hứa nó bảo nó nhìn thấy một anh nào chở thím đi chợ Bến Thành?”.


Đúng lúc ấy Hứa về. Chị hỏi Hứa có nhìn nhầm không, Hứa không biết đầu cua tai nheo gì mà nhầm với không nhầm. “Sao chú Tư bảo là cháu nói cháu nhìn thấy thím đi chợ với người đàn ông nào đó?”. “Cháu đâu có nói gì. Hôm đấy cháu có ra đường đâu. Chắc chú nghe nhầm”.


Anh Trỗi cười vui, ngồi bẻ ngón tay lia lịa trong khi chị bắt đầu giận đùng đùng. “Thì anh cứ nói vậy để thử xem em có đi với ai không” - anh vừa dứt lời thì chị bỏ về. Mặc dù anh đi theo năn nỉ nhưng chị vẫn đi và giận anh những hai tuần lễ.


“Đấy. Cái nết của tôi đến giờ vẫn không sửa nổi, là hay tự ái” - chị vui vẻ nói. Hơn một năm yêu nhau để rồi đi đến làm đám cưới, chị nhớ là đã giận anh đến cả chục lần. Và việc tổ chức đám cưới nhanh như vậy, một phần, cũng sợ những sự giận dỗi kia làm ảnh hưởng đến tình cảm hai người. Cưới nhau, chị về căn phòng nhỏ của anh, trong một con hẻm ở Phú Nhuận.


Chị bảo: “Anh Trỗi dù rất quan tâm chăm sóc vợ nhưng việc gì của đàn ông anh ấy mới làm. Những việc của phụ nữ, ví dụ như mắc màn, chẳng bao giờ anh ấy làm cả”.


Có một lần anh xin mấy cái hộp gói quà cưới của chị rồi xếp những thỏi pin nhỏ vào làm bình điện. Còn bình điện để làm gì, sử dụng vào mục đích gì anh cũng không nói.


Ngày 9/5/1964, khi cưới nhau tròn 19 ngày, anh vẫn chở chị đi làm như mọi khi. Nhưng chỉ có khác là chiều hôm đó chị chờ mãi ở góc đường chẳng thấy anh đâu, cuối cùng chị đi nhờ xe về nhà. Khi về tới nhà, thấy hàng xóm đồn đại là anh đã bị bắt. Chị buồn bã nằm một chỗ chẳng thiết ăn uống gì. Sáng hôm sau, chúng giải anh về nhà để tìm xem trong nhà có giấu bom mìn gì không và chúng bắt chị vào nhà giam.


Chị bị giam ở phòng giam số 3. Trong phòng đó có 2 phụ nữ nữa. Thấy chị khóc, một người mới hỏi chị thực hư làm sao mà bị bắt. Sau khi nghe chị kể, nữ tù nhân đó giải thích cho chị nghe về việc làm của anh Trỗi. “Anh ấy làm một việc chính nghĩa, không quản mạng sống để đánh bọn cướp nước. Em hãy tự hào về anh ấy. Rồi một thời gian dài nghe giải thích và chuyện đồng bào bị bắt bớ giết hại làm sao, chị mới cảm nhận được ý nghĩa của việc chồng mình làm". Nữ tù nhân ấy về sau trở thành Phó Chủ tịch nước, đó là bà Trương Mỹ Hoa.


Giam giữ chị một thời gian không khai thác được gì, chúng đành phải thả. Chị được cấp phiếu thăm nuôi anh vào ngày 15 và 30 hàng tháng. Khi anh vào khám tử hình, chị chỉ gặp anh 3 lần. Mỗi lần gặp, anh vẫn tỏ ra bình thường. Anh nói ngắn gọn với chị, tổ của anh có 4 người nhưng 2 người thoát được. Anh và Tư Lời bị bắt. Thương Tư Lời còn trẻ, anh nhận hết tội về phía mình và khai rằng, Tư Lời là do anh thuê kéo dây nổ chứ không dính líu gì cả. Cuối cùng địch tuyên phạt anh mức án tử hình và Tư Lời 20 năm tù giam.


Lần gặp thứ hai, anh bảo chị yên tâm, địch chỉ kêu án như vậy chứ chúng có thể sẽ không xử. Anh bảo chị nên mua canxi uống cho bổ xương, ăn uống điều độ và phải uống nhiều nước. Anh còn dặn chị mua len vào trong khám cho anh thêu, vì trong này anh em hay thêu khăn lắm. Và những lần gặp đó, anh không hề biết chị đã mang trong mình giọt máu của anh.


Còn lần gặp gỡ thứ ba, đó là một nỗi ám ảnh lớn nhất trong cuộc đời chị. “Em có hình dung ra được một người phụ nữ mới lấy chồng được 19 ngày, chồng bị tù tội, rồi bị giết và chị phải đi tìm thi thể rồi tìm mộ anh hết nơi này đến nơi nọ?”. Câu hỏi của chị khiến tôi cảm thấy quá nặng nề và không sao có thể tưởng tượng ra được.


Một anh Trỗi hào hùng giữa pháp trường và trong sử sách. Một người con gái lang thang hết nghĩa trang này đến nghĩa trang nọ tìm người đã khuất. Quá khứ bi hùng như thế đúng là không bao giờ quên được. Bởi trong quá khứ có cả máu và nước mắt.


 Tạm gọi là lần gặp gỡ cuối cùng, nhưng thực tế, lần đó chị không gặp được anh. Bình thường, khi vào thăm nuôi, chị chỉ xuất trình giấy ở cổng ngoài rồi vào trong chờ chúng giải anh ra. Nhưng lần này, chị vào trong, chúng bảo chị ra cổng ngoài nộp lại giấy thăm nuôi rồi vào phòng đợi.


Một lúc sau, chúng gọi chị vào và bảo chị, hôm nay trung tâm cải huấn này đón khách đặc biệt nên buổi sáng không thăm nuôi được mà phải hẹn đến chiều. Chị lặng lẽ ra về.


Khi bước ra, chị thấy một tiểu đội quân cảnh đang mang súng đứng nghiêm. Chị bước thêm vài bước thấy có một chiếc xe chở cái quan tài đang đi gần lại, chị thấy rờn rợn. Đi vài bước nữa, thấy cánh phóng viên đang đứng chờ ở ngoài rất đông. Chị chỉ nghĩ chắc họ đến đưa tin về việc thăm trại cải huấn của quốc trưởng bù nhìn Phan Khắc Sửu vì phía bên trong, biểu ngữ “chào đón” đã giăng lòe loẹt.


Khi chị bước ra khỏi cổng ngoài thì là lúc cổng đóng sầm lại. Tên gác cổng nhìn chị rất khác thường, hỏi lần này vào có gặp chồng không? Chị bảo hôm nay trại cải huấn có khách nên chiều vô gặp. Tên gác cổng nhìn theo từng bước chân chị, rồi lắc đầu.


Ra đến bãi gửi xe, chị giữ xe đạp cũng hỏi vào có gặp chồng không? Chị cũng trả lời y như trả lời với tên gác cổng. Chị giữ xe bảo: “Tụi nó gạt em đó. Lát nữa chúng sẽ đưa chồng em ra xử bắn!”. Chị bàng hoàng, không tin vào tai mình. Đúng lúc đó, những người bán dạo phía ngoài trại giam xui chị vào đập cửa. Chị chạy lại, hết đập rồi gào thét nhưng cánh cửa vẫn đóng im lìm.


Chị gục đầu vào cánh cửa. Chị giữ xe lại khuyên chị, thôi thì đằng nào cũng đã thế rồi, hãy về báo cho gia đình biết chứ đứng ở đây chúng cũng không cho vào.


Chị về nhà báo cho ba anh Trỗi. Mấy ngày trước, đọc tin con sẽ bị xử trên báo, ông vội vàng vào Sài Gòn xem thực hư thế nào. Trước đó, chị có mời một luật sư bào chữa để anh được giảm án. Chị và ba chồng vội vàng đến gặp vị luật sư kia, vị luật sư này lấy làm bất ngờ: “Sao lại thế này nhỉ? Họ bảo vụ này tạm hoãn, đâu có xử hôm nay?”.


Luật sư điện vào khám Chí Hòa, câu trả lời là vừa xử xong. Đến giờ, khi thuật lại câu trả lời của nhà tù năm ấy, chị đưa hai tay ôm lấy mặt. Cái cảnh tượng đó như vừa mới xảy ra. Chị run run lau nước mắt.


Khi chị nhờ ông luật sư nhắn qua điện thoại, là muốn xin thi thể anh về mai táng, đầu dây bên kia trả lời, việc của họ là chỉ biết thi hành, còn chuyện cho thi thể phải qua Tòa án quân sự. Hai cha con vội vàng qua tòa án, lại nhận được câu trả lời, Tòa án quân sự không xử vụ này. Nơi xử, là tòa án mặt trận Vùng 3 chiến thuật.


Hai cha con lại đi xích lô đến nơi cũng là lúc hết giờ làm việc. Chúng hẹn hai cha con, hoặc là về chiều quay lại, hoặc là chờ cho đến chiều. Đến giờ, tên quan ba trả lời lạnh lùng, rằng ở đây chỉ biết việc kết án. Còn việc xin thi thể, thì qua bên quân vụ thị trấn.


Hai cha con tới đó. Câu trả lời lại là: “Cô và bác thông cảm. Anh em lỡ đưa đi chôn rồi mà không hề cho biết chôn ở đâu".


Chị đứng phắt dậy quát: “Các ông giết chồng tôi. Giờ cái xác các ông cũng không cho nữa. Các ông ra lệnh chôn ở đâu thì binh lính của các ông đem đi chôn ở đó, sao lại nói vô trách nhiệm là không biết?”.


Chúng bảo hai cha con đi về, vài ngày nữa chúng sẽ cho biết. Hai cha con nghĩ, giờ có hỏi cũng chỉ gặp những câu vòng vo, mà chờ thì không biết đến khi nào, thôi thì đi tìm khắp các nghĩa trang của thành phố. Hết nghĩa trang Đô Thành đến Bách Việt và một nghĩa trang nữa, hỏi người quản trang cũng chỉ nhận được câu trả lời là không thấy, không biết. Chị gục đầu xuống đất gọi tên anh, nhưng cũng chỉ là sự im lặng.


Qua ngày hôm sau, có tờ báo đăng tỉ mỉ việc anh Trỗi ra pháp trường, anh gọi tên Bác Hồ như thế nào. Tờ báo đó chụp tất cả hình ảnh của anh Trỗi, và cũng thông tin rằng, sau khi xử bắn, địch chôn anh ở nghĩa trang quân đội tại Gò Vấp. Sau đó, gặp rất nhiều ý kiến phản đối, sao Việt Cộng lại nằm chung một nghĩa trang với lính Cộng hòa? Thế là chiều hôm ấy, chúng đưa anh đem chôn tại nghĩa trang Đô Thành.


Hai cha con lại “lùng sục” khắp nghĩa trang này, thấy có 3 ngôi mộ nằm cạnh nhau, đều đất mới như nhau. Chị cầu khấn: “Anh ở đâu trong 3 nấm mộ này, chỉ cho em và ba đi anh ơi!”. Rồi chị như tỉnh ra, bảo với ba chồng: “Người Việt mình có tục mở cửa mồ. Chờ qua 3 ngày nữa ba con mình tới đây, nếu hai ngôi mộ kia đã có người mở cửa, thì ngôi còn lại chắc chắn là của anh ấy”.


Đúng ba ngày sau, chị cùng hai người cháu đến. Có hai ngôi mộ đã được gắn bia. Chị quỳ xuống và gần như kiệt sức...(còn tiếp)


Hoàng Nguyên Vũ


http://antg.cand.com.vn/vi-VN/ktvhkh/2008/2/65530.cand


 


Chuyện chưa biết về vợ của Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi


Chúng tôi là những cựu học sinh của mái trường đầu tiên trên miền Bắc XHCN được mang tên anh Nguyễn Văn Trỗi. Vì thế chúng tôi có một mối thân tình với chị Phan Thị Quyên, vợ anh Trỗi. Dù nay không còn một mái trường cụ thể, nhưng năm nào chị cũng về họp mặt truyền thống và chị được coi là “bà chị cả” của trường.


Chuyện của 48 năm trước


Sau sự kiện Vịnh Bắc bộ, 5/8/1964, Mỹ bắt đầu chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, đầu tiên ở các tỉnh Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An...


Sau ngày 15/10/1964, báo chí ở miền Bắc đưa tin: Cuộc thương lượng trao đổi - đòi thả người thợ điện mang tên Nguyễn Văn Trỗi ở miền Nam Việt Nam, đổi lấy con tin là trung tá không quân Mỹ Micheal Smolen vừa bị du kích quân Caracát (Vênêduêla) bắt giữ -không thành; chính quyền Sài Gòn đã hèn hạ đưa anh ra pháp trường. Trước khi chết, anh đã quả cảm giật phắt mảnh đen khăn bịt mắt và hô lớn: “Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ! Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm…”.


Ngay sau đó, các cơ quan, trường học trên miền Bắc đều tổ chức lễ truy điệu anh. Còn nhớ, vì không có ảnh mà nhiều trường phải treo di ảnh anh vẽ bằng bút chì.


Sang năm 1965, chiến tranh phá hoại càng ác liệt. Nhiều cơ quan, trường học ở thành phố lớn phải sơ tán về nông thôn. Cha mẹ nhiều học sinh lứa chúng tôi đã ra chiến trường, vì thế việc chăm lo hậu phương cho các gia đình liệt sĩ, gia đình có công và cán bộ, sĩ quan ra trận cũng là nhiệm vụ quan trọng; xa hơn Đảng và Bác Hồ thấy “cần thiết phải chuẩn bị lực lượng kế cận cho ngày mai”.


Vậy là nhiều đứa chúng tôi được gọi lên Trường Văn hóa quân đội, đóng ở Hiệp Hòa, Hà Bắc. Doanh trại nằm ngay dưới đường bay của giặc Mỹ tới bắn phá tuyến quốc lộ 1A, sân bay Kép và Nhà máy Phân đạm Hà Bắc, rất nguy hiểm nên nhà trường bí mật hành quân lên xã An Mỹ, Đại Từ, Bắc Thái.


Ngày 15/10/1965, đúng 1 năm sau ngày anh hy sinh, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập trường Văn hóa Quân đội mang tên Nguyễn Văn Trỗi. Năm học đầu tiên được khai giảng ở An Mỹ, Đại Từ - ATK (An toàn khu) thời kháng chiến chống Pháp, ngay cửa rừng sườn đông bắc dãy Tam Đảo. Từng khóa tốt nghiệp, 100% nhập ngũ, nhiều bạn bổ sung ngay ra chiến trường.


Trong số bạn bè chúng tôi có Tất Thắng, Toàn Thịnh – con chú Lê Toàn Thư, Phó trưởng Ban Thống nhất Trung ương. Khi trò chuyện mới hay đầu hè năm 1969, chị Phan Thị Quyên cùng chị Nguyễn Thị Châu (vợ tử tù Lê Hồng Tư) được tổ chức đón ra Bắc. Đúng ngày sinh nhật Bác năm ấy, chú Thư đón 2 chị vào thăm Bác. Cả nghĩ đó cũng là hạnh phúc của bạn vì quen biết được vợ của người anh hùng mà chúng tôi hằng ngưỡng mộ.


Quê hương, gia đình và anh Trỗi


Sau này khi vào Nam sinh sống, thường gặp chị Quyên, tôi mới biết được nhiều sự thật cảm động… Khi trò chuyện, ai cũng nghĩ chị Quyên người Nam vì giọng nói đặc sệt Nam bộ. Vậy mà không phải, quê nội chị ở thôn Văn Giáp, xã Bạch Đằng, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông cũ; cách trung tâm Hà Nội có 17km. Từ năm 1917, dân Văn Giáp đã lang thang tứ xứ, nhiều người vào tận Nam bộ kiếm sống. Thấy mưu sinh được, họ đã kéo bà con thôn xóm cùng vào.


Năm 1937, bố mẹ chị gồng gánh đưa con cái theo cùng, đích đến là Nam Vang. Lúc đầu tá túc ở đồn điền Chúp (tỉnh Công-pông-chàm); bố làm nghề cắt tóc, mẹ bán hàng xén. Tới năm 1944, chị mới ra đời, nên nói giọng Nam từ bé. Vì tham gia hoạt động yêu nước nên cụ ông bị lùng bắt, phải trốn về Sài Gòn năm 1956, một năm sau cả nhà mới đoàn tụ.


Tới 1951, có đến nửa thôn Văn Giáp vào mưu sinh ở phía Nam. Họ che chở, bảo bọc nhau và mua cả mảnh đất gần Ngã tư Phú Nhuận, xây ngôi chùa lấy tên Pháp Vân - thờ 2 bà Pháp Vân, Pháp Lôi đều là dân Văn Giáp. Tới 1960, thấy cần có đất lo hậu sự, bà con lại chung tiền mua mảnh đất cỡ 10 công (10.000m2) ở Giồng Ông Tố, ngoại ô Sài Gòn, xây dựng nghĩa trang mang tên Văn Giáp.


Về Sài Gòn, gia đình chị sống ở 104 Lê Quốc Hưng (nay thuộc phường 12, quận 4). Khi tròn 16 tuổi, chị đi làm cho Hãng bông Bạch Tuyết. Tới năm 1963, gặp anh Trỗi, 2 người yêu nhau và đám cưới được tổ chức vào ngày 21/4/1964 (ngày 10 tháng 3 âm). Sống bên anh mà chị không hề biết anh là chiến sĩ biệt động thành. Chỉ đến khi anh bị bắt rồi chị bị giam cùng khám với các chị Trương Mỹ Hoa, Nguyễn Thị Châu, chị Quyên mới hay: anh Trỗi đi làm cách mạng. Đúng 6 tháng sau, ngày 15/10/1964 (nhằm 10/9), anh Trỗi thân yêu đã ra đi.


Chị kể: “Sáng đó, chị vào thăm nuôi thì bị giám thị từ chối nhưng không cho biết chúng chuẩn bị xử bắn anh ngay trường bắn khám Chí Hòa. Sau khi bắn anh, chúng đưa về Nghĩa trang của lính ngụy ở Gò Vấp. Vì anh là Việt Cộng, chúng lại đưa về Nghĩa trang Đô Thành (nay là Công viên Lê Thị Riêng)”.


Nghe tin chúng xử bắn anh, chị chạy đôn đáo khắp nơi mà không thấy. Hôm sau đọc báo mới hay, anh được chôn ở Nghĩa trang Đô Thành. Đến nơi thấy có đến 3 ngôi mộ mới mà không biết cái nào của anh? Tới sớm 17/10 nhờ tục lệ “mở cửa mả” nên thấy 2 ngôi mộ đã “mở”, chị cùng ba anh mới nhận ra mộ người thân. Gia đình đã chọn chùa Pháp Vân để cầu siêu cho anh. Sau đó chị phải đưa ba anh về quê nên bà con, cô bác Văn Giáp thay mặt chị cầu siêu cho anh suốt 7 tuần chay.


Đầu năm 1965, chị quyết định thoát li. Hôm 25 tháng chạp, chị mang hương hoa ra thăm anh. Vì mộ chôn ở “đất thí”, sau 3 năm phải dời nên chị bàn trước với bố mẹ: hết 3 năm sẽ đưa hài cốt anh về Nghĩa trang Văn Giáp.


Tới 7/5/1967, cụ lên xin phép rời mộ. Ban quản lí sinh nghi vì thấy tên Nguyễn Văn Trỗi, cụ nói: trùng tên và cho ít tiền mới xong. Về Nghĩa trang Văn Giáp cũng vậy, cụ cũng phải lo lót cho cảnh sát khu vực. Như vậy, mộ phần anh được bà con Văn Giáp hương khói suốt từ bấy đến giờ.


Chú Sáu Dân và anh chị Quyên, Dũng trong ngày cưới.


Cứ đến ngày giỗ anh hoặc kỉ niệm thành lập trường, chúng tôi thường cùng chị ra Nghĩa trang Văn Giáp viếng anh. Nơi đây trở thành địa chỉ văn hóa cho thanh, thiếu niên thành phố tới cắm trại, tổ chức lễ kết nạp đoàn viên mới. Chị kể: “Trước khi chú Sáu Dân (cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt) mất, chú có hỏi thăm về mộ anh Trỗi. Biết anh vẫn an nghỉ ở Nghĩa trang Văn Giáp, chú nói: “Hay là đưa nó về phần đất của tổ chức dành cho chú ở Nghĩa trang thành phố?”. Chị cảm ơn và báo cáo: “Thành phố cũng đã dành cho anh chỗ trên Nghĩa trang liệt sĩ, phòng khi Nghĩa trang Văn Giáp phải di dời do quy hoạch đô thị mới”. Khi đó chú mới yên tâm”.


Ba lần gặp Bác


“Là người con miền Nam nhưng chị rất tự hào vì được gặp Bác 3 lần. Lời Bác dặn đã theo chị suốt cuộc đời”. Chị nhớ lại…Ngày 13/5/1969, chị Quyên cùng chị Nguyễn Thị Châu, chị Tư Thảo, chị Mười Mẫn và cô Ba Thanh Loan được tổ chức đón từ R (Tây Ninh) sang Phnômpênh để bay ra Bắc. (Ngày đó ông Hoàng Sihanouk hết lòng với Việt Nam). Ngày 16/5/1969, đoàn tới Hà Nội.


Sáng 19/5/1969, chị Quyên và chị Châu được đưa lại nhà chú Lê Toàn Thư, nhưng không ai biết sẽ được gặp Bác. Xe đưa 2 chị vào Phủ Chủ tịch. Mừng quá, nước mắt chảy dài vì không ngờ được vinh hạnh như thế. Thấy vậy, chú Vũ Kỳ, thư kí riêng của Bác, dặn: “Hôm nay là ngày sinh của Bác. Biết các cháu mới từ trong Nam ra nên Bác cho 2 cháu vào thăm. Nhưng gặp Bác không được khóc. Các cháu khóc nhiều sẽ làm Bác xúc động, không có lợi cho sức khỏe vì Bác dạo này yếu nhiều”.


Ngồi trong ngôi nhà nhỏ xưa dùng cho người phục vụ, thấy cụ già râu tóc bạc phơ, trong bộ quần áo lụa màu mỡ gà, lững thững vòng qua ao cá tiến tới phòng khách. Định chạy ra đón Bác nhưng chú Vũ Kỳ ngăn lại, phải chờ cho Bác đến thật gần 2 chị mới chạy ra, ôm lấy Bác.


Hai chị ngồi bên Bác, thân thiết như cha, con lâu ngày đi xa mới gặp nhau. Bác hỏi thăm đi đường thế nào, ra Bắc nóng quá có ngủ được không; tình hình trong Nam, ở R có thiếu thốn không; cha mẹ, gia đình ra sao… Ngồi bên Bác thấy hạnh phúc, chị nhớ tới anh Trỗi từng mơ ước có ngày ra Hà Nội thăm Bác, vậy mà lần này chỉ có mình chị. Còn Bác rất tế nhị, không đả động gì tới nỗi đau ấy.


Trò chuyện một lúc, Bác nói: “Đến bữa trưa rồi, 2 cháu ở lại ăn cơm với Bác”. Bữa cơm hôm đó có cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng và chú Kỳ. Hai chị được ưu tiên ngồi sát bên Bác. Bữa cơm có thịt gà kho, cà muối và rau muống luộc cùng bát nước rau đánh dấm sấu. Bữa cơm thanh đạm nhưng ngon miệng làm sao.


Bác gắp từng miếng ngon cho 2 chị rồi dặn: “Ra đến miền Bắc, 2 cháu phải ăn uống, bồi dưỡng sức khỏe; nhất là cháu Châu quá yếu, cần chữa bệnh cho khỏi. Sau đó các cháu còn phải học hành để sau này về phục vụ đồng bào miền Nam”. Cơm xong, chú Vũ Kỳ cho mang dưa hấu xứ Nghệ ra tráng miệng.


Trước khi ra về, Bác ra phòng khách lấy 2 bông laydơn đỏ cắm trên bàn cho 2 chị. (Chị Quyên mang về ép vào sổ tay. Cách đây 20 năm, chị đã mang bông hoa này tặng lại Bảo tàng Hồ Chí Minh).


Cuối tháng 6 năm ấy, 2 chị lại được đón vào thăm Bác. Hai chị báo cáo với Bác sẽ được Ban Thống nhất bố trí cho đi nghỉ và thăm một số nước XHCN, trong đó sẽ tham gia đoàn phụ nữ sang Cuba dự kỉ niệm 10 năm Chiến thắng Môncađa 26/7.


Nghe xong, Bác hỏi sẽ ăn mặc ra sao? Biết sẽ được may áo dài, Bác dặn: khi sang Cuba sẽ phải tiếp xúc với nhiều tầng lớp nhân dân, nên có bộ bà ba khi về nông thôn, nên có bộ quân phục giải phóng quân cùng mũ tai bèo khi xuống thăm đơn vị bộ đội, còn áo dài để xuống máy bay và đi dự tiệc. Rồi Bác khuyên: “Sang Cuba phải đi chặng đường rất dài từ Hà Nội, Bắc Kinh, Mạc-tư-khoa rồi bay qua Đại Tây Dương tới La Habana, sẽ rất mệt. Nhân dân Cuba lại rất quý mến dân ta nên đoàn sẽ được tiếp đãi và cho đi thăm nhiều nơi, sợ rằng sức khỏe của cháu Châu không chịu nổi. Châu nên ở nhà điều trị cho hết bệnh…”.


Hai chị thấy sao mà Bác chu đáo, cẩn thận đến vậy. Sau đó Bác nói: “Hôm nay họp Bộ Chính trị. Các chú cần vụ có nấu phở cho các đồng chí ăn trưa. Bác mời 2 cháu ở lại cùng ăn, xem phở miền Bắc có giống phở miền Nam”.


Đầu tháng 7 năm đó, trước ngày đoàn lên đường, Bác lại cho gọi 2 chị vào. Sau khi dặn, sang đó không phải khách sáo, coi như về nhà mình vì nhân dân Cuba và Phiđen rất quý nhân dân Việt Nam anh hùng, rồi Bác gửi chị Quyên mang sang tặng Phiđen tấm ảnh sơn mài vẽ hình Phiđen có khảm xà cừ cùng đôi dép cao su. Bác còn dặn: “Đi thăm một số nước rồi, cháu phải về chuẩn bị học tập. Quyên học lớp mấy rồi?”. Biết chị ở R mới học hết chương trình lớp 5, Bác lắc đầu: “Cháu phải học hết chương trình phổ thông, sau đó còn lên đại học. Chỉ có kiến thức mới có thể làm việc tốt cho cách mạng”. Trưa đó, 2 chị cũng ở lại ăn cơm với Bác. Ai ngờ, đó là lần cuối cùng gặp Bác.


Đám cưới không giấy hôn thú


Phải hàng chục năm sau tôi mới được nghe câu chuyện cảm động từ con trai cụ Hà Huy Giáp. Thấy chị được mời đi khắp các đơn vị để nói chuyện về anh Trỗi và giới thiệu tác phẩm Sống Như Anh, Bác Hồ tâm sự với đồng chí Hà Huy Giáp: “Quyên nó còn trẻ, còn phải xây dựng gia đình mới. Các đồng chí có đưa đi nói chuyện cũng phải kheo khéo, kẻo khó cho cháu sau này”. Thế mới biết Bác quan tâm, lo lắng đến từng chi tiết.


Khi từ Cuba về, tại Matxcơva ngày 3/9/1969, chị Quyên nghe tin Bác mất. Đau xót. “Chị cứ tiếc mãi không có tấm ảnh nào chụp chung với Bác, em ạ. Nay đã hết cơ hội. Ngày đó chú Kỳ nói: không được chụp vì phải giữ bí mật”, chị nhớ lại.


Nhớ lời Bác, sau khi đi Cuba, Liên Xô về, chị vào học Trường phổ thông Lao động Trung ương. Trường có mật danh HT2 và sơ tán về Từ Hồ, Bần Yên Nhân, Hưng Yên - cách Hà Nội chừng 20km. Trường có tới ngàn học viên, toàn là cán bộ khắp các đơn vị, chiến trường vì bận công tác nay mới có điều kiện đi học bổ túc.


Học viên được chia làm 2 khối A và B cho cán bộ miền Bắc và miền Nam. Khối B cũng khá đông; trong đó có anh Thiện, dân Bến Tre. Ngày nghỉ, học viên khối A thường đạp xe về nhà, riêng cánh miền Nam thì ở lại. Họ ra chợ mua mớ cá, mớ rau về cải thiện. Khu trường sơ tán lại gần bờ sông nên lắm cóc; vậy là có thêm nguồn “thực phẩm không mất tiền”. Chính những sinh hoạt ấy làm anh, chị thêm gần gũi.


Chị nhắc lại chuyện cũ: “Đêm 30 Tết 1965, chị được bí mật đón ra “Y tư” (Y4) – đại bản doanh của Bộ chỉ huy mặt trận Sài Gòn – Gia Định, đóng tại Hố Bò, Củ Chi; sau đó lên Tây Ninh. Khoảng tháng 10 năm ấy, chú Sáu Dân từ Y4 về Tây Ninh, họp với cơ quan phụ nữ. Biết chị cũng mới từ thành phố ra, chú cho 100 “ria” (tiền Campuchia) tiêu vặt. Từ đó cứ mỗi lần đi công tác về chú đều có quà”.


Cũng năm 1973, trong buổi liên hoan tiễn chị Châu và chị Duy Liên về lại miền Nam tại nhà chú Lê Toàn Thư, chị Châu ghé tai chị: “Chú Sáu Dân và chú Mười Cúc (cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh) đang ra ngoài này họp. Chị có kể chuyện của em và anh Thiện cho chú Sáu nghe”.


Chị Quyên được các em anh Trỗi đón ra thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân ngày 20/11/2005.


Xa miền Nam đã 4 năm, nhớ nhà, nhớ quê, chị xin phép chú Thư cho lại thăm 2 chú. Lần đó, chú Thư và chú Tô Lâm (Phó ban Tuyên huấn Trung ương Cục) đưa chị và anh Thiện tới thăm chú Sáu. Gặp chú, anh Thiện chào:


- Chào anh Sáu!


- Trời, mày đó hả Dũng? – chú bắt chặt tay anh và quay sang chị Quyên: - Nghe Châu nói học ở ngoài này cháu có thân với Thiện, mà Thiện có thời gian làm cơ yếu ở Y4, chú nghĩ hoài mà không nhớ ra có ai tên Thiện. Té ra Thiện chính là Tư Dũng, Lê Tâm Dũng!


… Đầu 1965, anh Tư Dũng được phân công về Y4. Mậu thân 1968 lại được theo chú Sáu xuống chỉ đạo mặt trận Sài Gòn – Gia Định. Sau khi về lại “R”, anh được phân công sang Sứ quán Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Phnôm-pênh. Do yêu cầu bảo mật, anh phải đổi tên Lê Trung Thiện. Năm 1970, sau khi Chính phủ Sihanuok bị đảo chính, anh ra Bắc; sau đó được phụ trách đoàn dũng sỹ diệt Mỹ sang thăm Tiệp Khắc. Đến đầu 1971, anh vào học tại HT2.


Nghe kể lại chuyện cũ, chú Sáu cười: “Thôi, Tư Dũng thì cứ xưng hô “anh em” cho tiện, còn Quyên cứ giữ nguyên cách gọi “chú cháu”. Thế hai đứa làm đám cưới đi!”. Mừng quá, chị mách với chú:


- Ở ngoài này cưới phức tạp lắm chú ơi, phải đi đăng ký kết hôn. Khi đăng ký, Ủy ban lại đưa tên 2 nguời lên bảng để nhân dân xem có đúng là anh chưa vợ, chị chưa chồng hay không; nếu đúng thì một tuần lễ sau mới cho đăng ký… Mà thôi, để cháu học xong rồi về Nam cưới luôn thể.


- Không nên vậy, nếu học đại học phải 4-5 năm sau mới xong. Năm nay Quyên đã 29, còn Tư Dũng đã 37 rồi. Cưới đi, nhất là dịp đang có chú ở ngoài này. Thế hiện nay 2 đứa quân số ở đâu?


- Dạ, trong Nam quản lý ạ. Vì quân số trong Nam, nên khi bầu cử, tụi cháu không được đi bỏ phiếu.


Khi đó, chú Sáu cười và quay sang chú Thư:


- Nếu là quân số trong Nam thì có thể cưới không cần đăng ký. Trong chiến trường, thủ tục rất đơn giản. Khi 2 anh chị yêu thương nhau và quyết định xây dựng gia đình thì chỉ cần báo cáo tổ chức là xong, sau đó sẽ làm đám cưới. Ta có thể tổ chức cho Quyên và Tư Dũng cưới “kiểu miền Nam”.


- Ý anh như vậy thì ta sẽ tổ chức cho 2 đứa cưới “không đăng ký” - chú Thư trả lời.


Ngày 29/4/1973, vào đợt nghỉ lễ Lao động quốc tế, đám cưới “không có đăng ký kết hôn” đã được tổ chức tại nhà chú Lê Toàn Thư ở 57 Phan Đình Phùng. Chú Thư làm chủ hôn. Tối đó, các cô chú ở Ban Thống nhất, cả chú Sáu Dân cùng các anh chị bên Trung ương Đoàn, anh chị trong Nam đang học chung cùng bà con họ hàng thôn Văn Giáp… đến dự đông đủ. Đám cưới tổ chức theo kiểu “đời sống mới”, đơn giản, chỉ có kẹo bánh, thuốc lá, nước trà, nhưng thật vui.


Từ chương trình lớp 5, chị Quyên học hết chương trình lớp 10; đến năm 1973 thì vào học dự bị Đại học Bách khoa. Sau giải phóng, đến tháng 9/1976 chị mới trở về thành phố.


Năm học thứ tư, 1979, đang có bầu, chị vẫn không bỏ học. Tối chủ nhật vào viện thì ngày thứ bảy vẫn lên lớp. Anh chị đặt tên cháu là Lê Tâm Việt để kỷ niệm anh Trỗi đã hô vang: “Việt Nam muôn năm!” trước phút hy sinh. Việt từng là cảnh sát hình sự Công an TP HCM. Năm 1987, chị sinh cháu gái, đặt tên là Lê Phan Hồng Nga để kỷ niệm mẻ dầu đầu tiên của Liên doanh Vietxovpetro.


Năm 1980, sau khi ra trường, chị về công tác tại Công ty Du lịch TP HCM cho đến khi nghỉ hưu. Còn anh Tư Dũng sau về Thành ủy TP HCM công tác, trên cương vị Chánh Văn phòng.


Anh Tư coi chúng tôi như những đứa em và gia đình anh chị là nơi chúng tôi về dự đám giỗ anh Trỗi hàng năm.


Trần Kiến Quốc – Đông A


cstc.cand.com.vn



 Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi qua lời kể của người vợ hiền


Ngày 2-5-1964, anh thợ điện Nguyễn Văn Trỗi nhận nhiệm vụ đặt mìn ở cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi), để ám sát phái đoàn quân sự cao cấp của Chính phủ Mỹ do Bộ trưởng Quốc phòng Rô-bớt Mắc Na-ma-ra (Robert McNamara) dẫn đầu. Công việc bại lộ, anh bị bắt và bị xử bắn tại nhà lao Chí Hòa sáng 15-10-1964. Những phút cuối cùng, anh không đồng ý bịt mắt mà hét vang: “Đả đảo Nguyễn Khánh. Hồ Chí Minh muôn năm!”. Bà Phan Thị Quyên - vợ người anh hùng kể với người viết bài này những thông tin đã đi theo bà suốt cả thời xuân sắc.


6 tháng làm vợ anh Trỗi


Phan Thị Quyên đi làm công nhân hãng bông Bạch Tuyết, nằm ở đường Võ Tánh (nay là đường Hoàng Văn Thụ). Tại đây, chị được một đồng nghiệp giới thiệu về anh Nguyễn Văn Trỗi (quê Quảng Nam, sinh năm 1940), làm thợ điện của nhà máy điện Định Quán. Ấn tượng trong lòng cô gái trẻ là người thanh niên đó hay mặc quần ống rộng trong khi quần ống chật đang là mốt lúc đó. Những bận về quê, thế nào anh Trỗi cũng viết thư cho người yêu với những từ ngữ tràn đầy yêu thương, cuối thư lúc nào anh cũng dặn: “Uống đủ 2 lít nước mỗi ngày em nhé!” và ký tên Trỗi. Những dịp dạo phố, chị mới biết anh là con thứ tư trong một gia đình ở Quảng Nam, vào Sài Gòn năm 1956. Tình yêu cứ thế lớn dần giữa hai người. Thưa chuyện cùng mẹ cha, hai họ đều đồng ý, lựa ngày lành tháng tốt, ngày 21-4-1964, chị Quyên và anh Trỗi tổ chức hôn lễ. “Dù ở Sài Gòn nhưng gia đình tôi vẫn giữ gìn nét Bắc, đám hỏi phải có trầu cau, cốm, biếu người làng người nước vì con mình nên duyên vợ chồng. Buổi trưa, ba má tôi làm mấy mâm cơm để chờ nhà trai đón dâu ở quận 4. Hơn 10 người phía chú rể đã đến đúng giờ, ở lại ăn cơm trưa và làm thủ tục xong thì rước dâu về nhà anh Trỗi ở khu chợ Kiến Thiết (nay thuộc quận Phú Nhuận)” - cô dâu trẻ ngày nào nhớ lại.


Nơi đôi uyên ương xây dựng tổ ấm là căn nhà trong hẻm, vách gỗ, mái lợp lá, nền xi măng do anh Trỗi cùng một người bạn hùn tiền mua lúc mới vào Nam. Sống với nhau được 18 ngày, đêm 9-5-1964, ăn cơm xong, anh Trỗi nói là đi công việc. Người vợ trẻ không hề biết anh nhận nhiệm vụ ám sát Mắc Na-ma-ra và đi mãi không về. Ngày 5-8, chính quyền Sài Gòn đưa anh Trỗi ra xử tại tòa, đến ngày 10-8 thì kết án tử hình. Dư luận thế giới lúc này rất căm phẫn, một tổ chức du kích tận Vê-nê-xu-ê-la đòi “đổi” một sĩ quan quân đội Mỹ là Trung tá không quân Mai-cơn Smô-len (Michael Smolen) để anh Trỗi được tha bổng, nhưng chính quyền Sài Gòn lật lọng.


Sáng 15-10-1964, Quyên vào khám Chí Hòa để thăm nuôi chồng nhưng lính gác hẹn chiều tới. Ra chỗ lấy xe đạp, cô mới biết là mình bị lừa, phía bên trong, chúng đang thi hành án tử hình đối với anh Trỗi.


Hành trình tìm thi hài chồng


Cô con dâu trẻ quáng quàng chạy về nhà báo tin cho cụ thân sinh anh Trỗi mới từ quê vào. Hai bố con thuê xích lô máy xuống tòa án quân sự đóng ở bến Bạch Đằng, một lính gác nói là vụ này họ không xử, rồi chỉ đến tòa án vùng 3 chiến thuật. Bọn lính thoái thác trách nhiệm, không hề chỉ địa chỉ cho người nhà anh Trỗi. Cô la lớn: “Cùng tòa án với nhau mà các ông nói không biết là vô lý”. Người lái xích lô nhiệt tình chỉ cho hai người một trụ sở lớn trên đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám). Đến nơi gần 12 giờ, cô vào hỏi thăm thì một lính gác cho cô biết đây là trại lính Lê Văn Duyệt. Quyên nhanh trí bịa ra lý do: “Tôi đến tòa án quân sự, họ chỉ xác chồng tôi trong này”. Lính gác hỏi thẻ căn cước của cô rồi chỉ vào trong. Một tên khác nói đã hết giờ làm việc, hai người nên về nhà, 2 giờ chiều quay lại. Cô nói với ba chồng ngồi đợi đến khi nào tìm thấy xác anh Trỗi thì mới về.




Phan Thị Quyên, quê gốc Văn Giáp, xã Bạch Đằng, huyện Thường Tín, Hà Đông, kết hôn cùng anh Trỗi ngày  21-4-1964.


Bụng đói cồn cào, hai cha con gặp một người đi vào. Biết chuyện đi tìm xác anh Trỗi, tên này nói chúng chỉ có quyền tuyên án, không biết chôn ở đâu. Cả đêm trằn trọc không ngủ được, tình cờ hôm sau đọc báo, Quyên mới biết sau khi hành quyết người chiến sĩ cộng sản kiên trung, chính quyền Sài Gòn đưa thi thể anh về mai táng tại nghĩa trang quân đội ở Gò Vấp. Nằm chưa yên chỗ, di hài anh Trỗi lại được bốc lên, chuyển tới nghĩa trang đô thành.



Quyên cùng cha chồng và các cháu vội tìm đến. Tụi cảnh sát mật thấy cô đến, chạy đến xưng là phóng viên, rất khâm phục tinh thần anh Trỗi, muốn gặp gia đình viết một thiên phóng sự. Vốn cảnh giác, Quyên đáp: “Chồng tôi làm gì tôi không biết, hỏi tôi cũng như không”. Thấy chúng giương ống kính, chị từ tốn nói hồi bị nhốt ở tổng nha có sẵn hình, vào đó mà lục. Nhưng bọn chúng vẫn tranh thủ chụp một tấm hình lén lúc chị đang khóc cùng hai đứa cháu chồng.


Anh Trỗi đã làm gì mà bị ngụy quyền tử hình, anh hoạt động với những ai là những câu hỏi chưa có lời giải đáp, chị quyết tâm đi tìm hiểu cho rõ ngọn nguồn. Gặp được anh Phạm Văn Hai thì chị mới vỡ lẽ, chồng mình đã nhận nhiệm vụ đi giết bọn cướp nước. Lúc vẫn còn đang yêu nhau, những lúc anh Trỗi nói bận công việc chính là thời gian anh được tập huấn cách đánh biệt động nội thành ở căn cứ Rừng Thơm, Đức Hòa, Long An.


Chị bắt đầu nhập tâm hai từ cách mạng từ dạo đó. Ngày 1-2-1965, chị đi thoát ly, tham gia Đội biệt động 65 do anh Phạm Văn Hai chỉ huy, đóng tại Long An rồi được điều chuyển về R (Trung ương Cục miền Nam). Tháng 3-1965, chị dự Đại hội phụ nữ toàn miền Nam và được Trần Đình Vân (nhà báo Thái Duy) viết nên ký sự nổi tiếng “Sống như anh”.


Bác Hồ trong trái tim tôi


Tháng 5-1969, chị được cử ra Bắc. Nhân sinh nhật Hồ Chủ tịch, Quyên cùng chị Nguyễn Thị Châu, người yêu anh Lê Hồng Tư, bị kết án tử hình ở Côn Đảo, là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Thanh niên sinh viên giải phóng khu Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định được vào thăm Bác.


Bà Quyên vẫn nhớ như in lần thứ hai được vào Phủ Chủ tịch là buổi trưa, sau khi Bác họp. Thương các cháu ở miền Nam khói lửa, Người dặn đầu bếp làm phở cho hai cháu như khẩu phần ăn của các đồng chí thành viên Bộ Chính trị. Bác thông báo, sắp tới hai thiếu nữ miền Nam sẽ đi thăm Cu-ba làm ai nấy vui mừng khôn xiết. Trước khi xuất ngoại, ngày 13-7, Bác lại gọi hai chị em vào ăn cơm, thấy Bác vẫn còn khỏe, ai nấy đều mừng. Bác gửi tặng đồng chí Phi-đen Ca-xtơ-rô hai món quà là đôi dép râu và hình ảnh Phi-đen bằng ốc xà cừ.


Về nước, chị đi học bổ túc lớp 5 rồi hết cấp 3. Đất nước trọn vẹn ngày thống nhất, chị trở về Nam, học Đại học Kinh tế đến năm 1980 thì ra trường. Từ năm 1981 đến khi nghỉ hưu năm 1999, chị công tác tại Công ty Du lịch Sài Gòn. Trước đó, năm 1971 chị quen một người bạn học cùng trường là anh Lê Tâm Dũng. Sau ngày anh Trỗi ra đi, chị vẫn một mình một bóng để nhớ về anh. Được sự động viên của bạn bè, 27 tuổi, chị tái giá và hiện có một gia đình hạnh phúc tại quận 2, TP Hồ Chí Minh với chồng con và cháu nội.


Nguyễn Thị Tuyết Nhung


qdnd.vn




Cây đàn xưa và những lá thư tình bất diệt


Chị Phan Thị Quyên ngày nào trong tác phẩm Sống như anh của nhà văn Trần Đình Vân giờ tóc đã hoa râm, nhưng dường như chị không quên bất cứ một chi tiết nào về chuyện tình với anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi...


“Em ráng mỗi ngày uống hai lít nước”


“Tôi gặp anh Trỗi vào một ngày thứ Bảy của tháng Giêng năm 1963, sau Tết âm lịch. Chị anh làm cùng với tôi đã giới thiệu anh gặp tôi.


Nói thật, thoạt đầu tôi thấy anh không cuốn hút lắm. Anh mặc áo sơ mi trắng, quần ka ki, ống rộng cỡ 24 phân, thắt lưng đeo một chùm chìa khóa. Hồi đó mốt của thanh niên Sài Gòn là quần ống túm.


Tôi lúc ấy là một thiếu nữ hay mơ mộng nên thấy cách ăn mặc của anh không giống như mình hình dung. Nhưng thực sự anh Trỗi rất đẹp trai, anh cao dong dỏng, nước da trắng, môi hồng.


Trước khi gặp anh, chị anh đọc một câu thơ: “Chim quyên trỗi giọng oanh vàng”, và bảo câu thơ này có tên của cả hai đứa. Tôi đoán chắc anh tên “Oanh, tên “Vàng” chứ không nghĩ anh tên Trỗi. Khi gặp nhau, anh ấy bảo, anh là con thứ tư trong gia đình, nên cứ gọi anh là Tư”.


Sau “cái buổi ban đầu lưu luyến ấy”, họ gặp nhau thường xuyên. Khi chị tan ca ở nhà máy dệt kim Bạch Tuyết (thực ra là hãng bông BT), anh Trỗi thường đến đón chị. Quen một thời gian, nhưng anh ít khi biểu lộ tình cảm của mình bằng những lời có cánh như nhiều chàng trai khác mà thường chỉ lặng lẽ quan tâm, chăm sóc chị.


Ngày 16/3/1963, chị được đi nghỉ mát Vũng Tàu với các đồng nghiệp. Trước khi đi, anh dặn chị: “Quyên đi biển thì nhớ mang theo áo ấm và lọ dầu gió”.


Biển Vũng Tàu, tối thứ Bảy người ta đi chơi với nhau, chị nằm một mình trong phòng. Buồn tênh. Chị chợt nghĩ: “Nếu anh Trỗi không thương mình chắc anh không dặn dò cẩn thận như vậy”.


Một lần, gần nhà chị có một ngôi nhà bị cháy. Chị tình cờ chứng kiến một người đàn ông đang đi đường thấy cảnh lửa bốc cháy dữ dội đã lao vào dập. Người đàn ông ấy chính là anh Trỗi. Tình yêu trong chị với anh cứ thế được nhen lên.


Biết chị có thói quen ít uống nước, anh về quê ở Thanh Quýt (Điện Bàn, Quảng Nam) vẫn viết thư ra dặn chị: “Chúc em ăn ngon, ngủ nhiều và ráng uống mỗi ngày hai lít nước”. (Bức thư đề ngày 7/4/1963). Đó là lần đầu tiên anh Tư gọi chị bằng em. Và cũng là lần đầu tiên chị hay tên anh là Nguyễn Văn Trỗi nhờ ký tên phía dưới.


Lần về quê ấy, anh mua tặng chị hai chục đôi đũa nứa và chiếc nón bài thơ Huế với hai câu thơ: “Bước chân ra đất Thần Kinh/ Mua về chiếc nón tâm tình tặng em”. Chị nói đùa: “Quyên thích đũa mun mà Tư mua đũa nứa?”. Anh lặng lẽ đem cất rồi nói: “Quyên chê đũa xấu, mai mốt Tư cho vợ Tư xài”.


Tưởng anh nói đùa vậy nhưng không ngờ đến ngày cưới nhau, anh lặng lẽ mang bó đũa nứa ra và nói: “Năm ngoái anh về quê mang vô bó đũa tặng cô bạn gái, cô ấy chê nên anh ghét quá bảo mang về để mai mốt vợ anh xài. Chị giật mình bảo: “Anh này ghê thật”. Anh cười: “Ủa em cũng biết cô đó à?”


Lễ cưới của họ diễn ra theo phong tục miền Bắc vì ba mẹ chị vốn quê gốc ở Hà Tây. Quyên là cô con gái đầu tiên của gia đình “lấy chồng thiên hạ” và gả trên đất Sài Gòn nên mẹ cô yêu cầu anh Trỗi chuẩn bị lễ ăn hỏi 250 phần quà để biếu dân làng.


Anh Trỗi tuy nghèo nhưng cũng cố mua một đôi nhẫn cưới bằng vàng cho hai người. Sau đám cưới giản dị, họ về sống với nhau êm đềm hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc ấy chỉ được tính bằng ngày, chính xác là 19 ngày.


“Có cái chết hóa thành bất tử”


Ngày 30/6/1965, Phan Thị Quyên được cử về Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong thời gian công tác tại đây (đến tháng 5/1969) chị học các lớp y tá, y sĩ, giữ chức vụ Tổ trưởng Tổ Y tế, Phó bí thư chi đoàn của cơ quan.


Ngày 13/5/1969, chị được lệnh ra Bắc, về Ban Thống nhất Trung ương để bồi dưỡng và đi công tác nước ngoài.


Từ tháng 01/1970 đến tháng 6/1973, chị học văn hóa tại Trường phổ thông lao động T.Ư và tham gia đoàn công tác đại diện cho phụ nữ Việt Nam sang thăm các nước Cuba, Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Phần Lan.


Chị nhớ mãi ngày hôm đó. Ngày thứ 19 kể từ khi hai người thành vợ chồng. Chiều 9/5/1964 hôm đó, anh Trỗi đi làm về, hỏi vợ: “Cơm chín chưa em, nếu chín rồi dọn cơm ăn sớm nhé, anh phải đi có việc”. Khi ăn cơm, thấy chị có vẻ uể oải, anh hỏi: “Em làm sao thế?”.


Chị bảo: “Em bị viêm họng, ăn không thấy ngon”. Anh lo lắng: “Em lấy lá mơ nấu nước uống sẽ hạ sốt ngay”.


Dù đang vội, ăn cơm xong, anh ra bờ rào hái một nắm lá mơ bỏ vào nồi cho lên bếp và dặn: “Em nhớ lấy thuốc uống nhé”.


Anh dắt xe đạp đi. Khoảng 20 giờ, anh về. Thấy chị nằm trên chiếc chõng ngoài hè, anh sờ tay lên trán chị. Trán chị nóng hầm hập. Anh bảo: “Em vô nhà nằm đi”. Anh mắc màn cho chị. Từ khi lấy nhau, đó là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng anh mắc màn (anh có thói quen ngủ không mắc màn).


Anh đổi xe đạp, lấy xe máy dắt ra ngõ và dặn chị:“Anh đi một lúc anh về”. Chị nằm thiếp đi, đến lúc tỉnh dậy nhìn đồng hồ đã 2 giờ sáng. Không thấy anh nằm cạnh như mọi khi. Chị giật mình, bật dậy hỏi thím Ba - hàng xóm: “Thím Ba ơi, anh Tư đi đâu mà chưa thấy về?”.


Thím Ba trấn an: “Con đừng lo, chắc thằng Tư nó gặp bạn bè rồi ngồi với nhau thôi”. Chị nghĩ anh bị bắt vì trốn quân dịch. Từ đó đến sáng, chị chẳng thể chợp mắt.


8 giờ sáng hôm sau, anh về trong tình trạng bị trói. Một tốp lính ngụy hung hãn xông vào nhà lục soát. Chúng lấy máy dò mìn dò khắp nhà. Chị bàng hoàng chẳng hiểu chuyện gì xẩy ra. Anh đã làm gì để đến nông nỗi này? Anh bảo: “Em đừng buồn, anh chẳng có tội gì hết”. Trước khi giải anh đi, tốp lính còn giật theo tấm ảnh cưới của hai người.


Chị không hề biết, đêm hôm trước anh Trỗi đặt mìn ở cầu Công Lý, mưu sát Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNarama. Việc không thành nhưng đã gây tiếng vang trên toàn thế giới.


Ít ngày sau, chị cũng bị quân đội Sài Gòn bắt, đưa về giam ở Tổng nha Cảnh sát. Chị ở cùng buồng với chị Trương Mỹ Hoa, nay là Phó Chủ tịch nước. Lúc đó, chị chẳng hiểu gì về cách mạng hay Việt Cộng và cũng chẳng hay về việc làm của chồng mình. Chị Trương Mỹ Hoa – nhân vật Y trong tác phẩm Sống như Anh, đã giác ngộ cách mạng cho chị, giải thích cho người vợ trẻ này hiểu việc làm của chồng mình là chính nghĩa, là yêu nước.


Bắt giam chị một tháng nhưng không có bằng chứng để kết tội, chị Quyên được trả tự do. Lúc đó, toà án của chính quyền Sài Gòn xử anh Nguyễn Văn Trỗi án tử hình.


Trong những ngày xa cách anh, chị đã viết cho anh một lá thư tình bằng thơ. Bốn câu thơ được chị thêu bằng chỉ đỏ trên tấm khăn mùi xoa trắng: “Dù cho mưa gió bão bùng/ Lòng em vẫn giữ thủy chung vẹn toàn/ Cầu mong anh được bình an/ Nước nhà thống nhất, vinh quang anh về”.


Chị vào thăm anh ở khám tử hình. Anh gầy hơn nhưng gương mặt vẫn ánh lên nụ cười lạc quan. Anh bảo: “Anh em ở trong này thêu đẹp lắm, lần sau em mua vải và chỉ vô để anh thêu nhé. Thấy chị xanh xao, anh hỏi: “Em có bầu à?”.


Chị lắc đầu. Chị cố kìm tiếng khóc vì đã nói dối anh. Chị đã có bầu nhưng những ngày cơ cực trong tù, những lần đạp xe mệt nhọc giữa nắng nóng Sài Gòn cộng với nỗi đau chồng bị kết án tử hình đã khiến cho cái thai gần 3 tháng bị hỏng.


Chị nhớ ngày 7/10/1964, báo chí Sài Gòn đưa tin sẽ đưa anh Trỗi ra xử tử hình. Sau đó báo chí lại cho biết một tổ chức du kích ở Venezuela tuyên bố trao đổi Nguyễn Văn Trỗi lấy một con tin là trung tá Michael Smolen mà họ vừa bắt được. Vì thế việc xử tử anh sẽ hoãn vô thời hạn...


Ngày 15/10, chị vào thăm anh ở khám tử hình nhưng bị lính ngăn lại. Khi xách giỏ ra chị thấy một tiểu đội lính mang súng cạcbin, chở một cái quan tài vào. Theo sau tốp lính, rất đông các nhà báo trong nước và quốc tế.


Ông gác cổng hỏi chị: “Vô có gặp được chồng không?”. Chị bảo “Không ạ”. Ông lắc đầu. Bà giữ xe đạp ở gần đó nói rất to, có ý để cho chị Quyên và cả người dân cùng nghe: “Chút nữa nó đem anh ấy ra xử bắn đấy”. Người dân nghe thấy xúm lại, họ giận dữ xô cổng khám Chí Hòa, ai đó hét lên: “Quân dã man, bắn chồng người ta mà không cho gặp mặt”. Chị rụng rời chân tay, cảm giác như hàng nghìn họng súng đang nhằm vào trái tim mình.


Buổi xử tử anh Nguyễn Văn Trỗi ngày 15/10/1964 được toàn thế giới biết đến khi có sự chứng kiến của nhiều nhà báo quốc tế. Đó là một cuộc hành hình đã khiến anh Trỗi trở nên bất tử!


9 giờ 45 phút, anh Trỗi trong bộ đồ trắng dõng dạc yêu cầu không cần bịt mắt, không cần xưng tội. Anh hô lên những lời cuối được phóng viên ghi lại: “Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ! Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!”.


Nhà thơ Tố Hữu viết về cái chết của anh: “Có những phút làm nên lịch sử/ Có cái chết hóa thành bất tử/ Có những lời hơn mọi bài ca/ Có những người như chân lý sinh ra”.


Tờ giấy bằng hai bàn tay mà chính quyền Sài Gòn cho phép chị đi thăm nuôi anh giờ đã ngả màu vàng ố, tờ giấy anh viết cuối cùng ủy quyền cho chị nhận lại chiếc xe máy bị bắt cùng anh, ảnh cưới, những bài báo tường thuật cuộc xử bắn anh…, chị vẫn cất giữ đến tận hôm nay.


Và có những thứ bây giờ nhìn lại, lòng chị lại đau nhói như cái ngày 15/10/1964 ấy. Đây, bài báo tường thuật lại chi tiết sau khi anh bị bắn: “Máu túa ra nhuộm ướt chiếc nhẫn đeo ở ngón áp út”.


Đó là chiếc nhẫn cưới trên tay anh còn mới nguyên. Chẳng ai ngờ, mới thành hôn, chiếc nhẫn lại nhuộm máu đỏ của anh. Còn chiếc nhẫn y như thế thì nay vẫn ở ngón áp út của chị. Chiếc nhẫn mà anh tặng chị ngày cưới đã trở thành kỷ vật vô giá theo người phụ nữ này trọn đời.


Chị nhớ sau khi anh bị hành hình, chị cùng bố chồng đi khắp nơi để xin được nhận xác anh về. Xuống tòa án quân sự Bằng Đằng (?), lên tòa án quân sự vùng ba chiến thuật, qua các nghĩa trang trong thành phố…


Xin lại xác chồng - chút an ủi cuối cùng cho người vợ trẻ ấy cũng bị đáp lại bằng nhưng cái lắc đầu vô cảm. Sáng hôm sau chị đọc báo, có bài nói chi tiết: Lúc 1giờ chiều, người ta chôn xác anh Trỗi ở nghĩa trang quân sự. Nhưng sau đó có ý kiến phản đối: Sao lại chôn Việt cộng chung với lính Việt Nam cộng hòa? Vì thế xác anh Trỗi lại bị đem chôn ở Nghĩa trang Đô thành.


Chị đến nghĩa trang đô thành, thấy có 3 ngôi mộ mới, không biết đâu là mộ chồng mình. Chị chợt nghĩ ở đây có phong tục sau ba ngày sẽ mở cửa mả. Nếu ngôi nào không có người nhận thì chắc đó là mộ anh.


Ngày thứ 4 chị đến, và nhận đúng mộ chồng mình. Mộ chôn trên khu đất thí, sau 3 năm phải bốc. Sau 3 năm, bốc mộ anh lên, vẫn còn nguyên những đồ cá nhân của anh. Nhưng hộp sọ bị thủng hai lỗ vì vết đạn súng ngắn bắn cuối cùng. Chi tiết đó lại làm chị nhói đau.


Những ngày sau khi anh Trỗi mất, chị những muốn chết theo anh. Chị lang thang khắp đô thành Sài Gòn trong sự cô đơn tột cùng. Chẳng ai dám đến với chị, chị cũng chẳng dám đến nhà ai, bởi vì xung quanh đầy rẫy cảnh sát mật theo dõi từng bước chân của người phụ nữ này.


Nhưng cái chết của anh Trỗi cùng những lời giác ngộ của chị Trương Mỹ Hoa đã gieo vào lòng Phan Thị Quyên niềm tin và lý tưởng cách mạng. Chị quyết định tìm hiểu những việc của chồng mình đã làm.


Chị gặp anh Phạm Văn Hai - Đội trưởng đội biệt động Sài Gòn và bày tỏ ý nguyện được tiếp tục phần việc của anh Trỗi. Thế rồi chị được gia nhập đội biệt động, trở thành liên lạc viên cho bộ đội.


Hơn 40 năm gặp lại cây đàn xưa và những lá thư tình


Những lá thư anh Trỗi gửi chị Quyên trong khám Chí Hòa


Trong quá trình chỉnh lý hồ sơ, cán bộ đi B, các cán bộ của Trung tâm lưu trữ Quốc gia III đã tình cờ phát hiện ra hồ sơ của chị Phan Thị Quyên. Hồ sơ đó ghi lại cả một quãng đời sau này ít người biết của người vợ anh Trỗi.


Năm 1969, chị được ra Bắc học bổ túc văn hóa rồi Đại học. Chị chẳng bao giờ ngờ trong thời gian đó, chị lại vinh dự được gặp Bác Hồ đúng ngày sinh nhật của Người, 19/5/1969.


“10 giờ, tôi báo cáo với Bác trưa nay nhân kỷ niệm sinh nhật Bác, hai cháu Nguyễn Thị Châu và Phan Thị Quyên sẽ vào ăn cơm với Bác. Bác gật đầu tỏ vẻ hài lòng rồi bảo tôi: “Chú mời chú Tô trưa nay sang cùng tiếp khách với Bác. Khi tôi đã xuống cầu thang, Bác còn gọi lại hỏi: “Cháu Trỗi hy sinh cách đây đã gần 5 năm rồi chú nhỉ?”. Tôi báo cáo với Bác: “Thưa Bác! Anh Trỗi hy sinh ngày 15/10/1964, đến nay đã gần 5 năm.


Trầm ngâm một lúc, Bác bảo đồng chí Cần nấu món ăn theo kiểu Nam bộ để hai cháu miền Nam ăn cho ngon miệng. Bữa cơm trưa ngày 19/5 ấy có ai ngờ là ngày 19/ 5 cuối cùng trong cuộc đời 79 mùa xuân của Bác Hồ. Bữa cơm diễn ra thật ấm cúng, thân tình.


Bác ngồi ở đầu bàn, Phan Thị Quyên ngồi ở bên trái Bác, Nguyễn Thị Châu ngồi ở bên phải Bác, cạnh anh Phạm Văn Đồng. Thế là đủ ba thế hệ, đủ cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Hôm đó, Bác Hồ ăn ngon miệng, vừa ăn vừa trò chuyện rất vui". (Trích hồi ký của đồng chí Vũ Kỳ).


 


Năm 1970, chị gặp anh Tâm Dũng - một người đàn ông hiền lành, tốt bụng, khi ấy là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc. Họ thương nhau và thành vợ thành chồng năm 1973.


Anh chị sinh được hai người con. Cậu con trai Lê Tâm Việt và cô con gái Lê Phan Hồng Nga. Anh Dũng coi anh Trỗi như người anh của mình và cả Tâm Việt, Hồng Nga đều gọi anh Trỗi là ba.


Mới đây, Hồng Nga đi hiệu sách, thấy tái bản cuốn “Sống như anh” đã mua về tặng mẹ, chị Quyên xúc động nói: “Cuốn này mẹ thuộc lòng rồi, con hãy đọc và sống như thế nào để không ảnh hưởng đến ba Trỗi, ba Dũng, mẹ Quyên.


Giọng chị rưng rưng: “Cả cuộc đời tôi với anh, Anh không những hiện hữu trong trái tim tôi mà còn hiện hữu trong cả cuộc đời của chồng con tôi sau này”.


Chị nhớ năm 2005, chị ra thăm lại Hà Nội và gặp lại những kỷ vật của anh Trỗi tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Đó là những lá thư, chiếc khăn mùi xoa chị thêu, chiếc đàn măngđôlin anh vẫn thường đánh cho chị nghe như thay lời muốn nói.


Chị nghẹn ngào viết: “Sài Gòn, 24 giờ, ngày 20/11/2005. Đây là chiếc đàn măngđôlin của anh. Em đã đem ra chiến khu tháng 7/1965 và được chuyển ra Bắc. Nhìn cây đàn, em nhớ lại những buổi chiều hồi chúng mình quen nhau, anh đã đàn và cả hát cho em nghe nữa. Anh hỏi em: “Tư đàn và hát có hay không?”. Em nói: “Tư đàn, Q nghe hay. Còn Tư hát, Q nghe tiếng miền Trung nhiều hơn khi nói chuyện với Q”.


Anh cười và nói: “Khi nói chuyện với Q, Tư nói giọng Sài Gòn để Q dễ nghe hơn. Nghe anh nói, em càng thương anh nhiều. Ở cõi vĩnh hằng, anh có nghe em nhắc chuyện cây đàn không, anh hãy nói với em đi, hay anh giận em rồi phải không?”. (Trích nhật ký chị Phan Thị Quyên).


Sài Gòn giải phóng đã hơn 30 năm, bao nhiêu điều đã đổi thay. Cây cầu Công Lý anh hay chở chị qua ngày nào - cây cầu mà anh và trái bom gây tiếng vang toàn thế giới, giờ đã đổi thành cầu Nguyễn Văn Trỗi. Và đôi khi lòng thực sự tĩnh lặng, chị lại nghe vẳng bên tai tiếng đàn măngđôlin và giọng hát miền Trung của anh.


* Lược trích Hồ sơ đi B của chị Phan Thị Quyên tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia III



Phùng Nguyên - Công Trọng


tienphong.vn


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc - Trần Vân Hạc 22.03.2017
Thi hoa hậu trong động Thiên Đường? - Nhiều tác giả 22.03.2017
Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ sau gần 50 năm ẩn dật - Lam Điền 20.03.2017
Người già chật vật kiếm sống và thách thức với kinh tế Việt Nam - Tư liệu 19.03.2017
Cần chính sách đãi ngộ xứng đáng - Nguyễn Mộng Giao 19.03.2017
Ghét người giầu, tiêu diệt người giầu như Pol Pot hay là khuyến khích họ, không làm hư hỏng họ?! - Nhiều tác giả 19.03.2017
Thu phí vỉa hè, Việt Nam có nên học người Pháp? - Tư liệu 16.03.2017
Cố nhà văn Hoài Anh đi xa đã 6 năm! - Nhiều tác giả 15.03.2017
Nhà văn Hoài Anh: Khi viết, tôi luôn tôn trọng lịch sử - Trần Hoàng Nhân 15.03.2017
​Gần 500 cựu chiến binh Trường Sa tưởng nhớ sự kiện Gạc Ma - Tư liệu 15.03.2017
xem thêm »