tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21054386
Lý luận phê bình văn học
28.10.2013
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (7)

Xuân Diệu sống hết mình cho cuộc sống và cho thơ



- Nhấn chuột vô đây để đọc liên tục: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (6)



Gần nửa thế kỷ đến với thơ, Xuân Diệu đã miệt mài trong lao động sáng tạo. Từ phong trào Thơ mới đến các giai đoạn phát triển của thơ ca ca sau Cách mạng tháng Tám, ở chặng đường nào Xuân Diệu cũng có những đóng góp quan trọng. Sáng tác, phê bình, nghiên cứu, dịch thuật và nói chuyện về thơ, Xuân Diệu có mặt ở tất cả các hoạt động của thơ, đưa thơ về với cuộc sống và công chúng văn học. Nói về phong trào Thơ mới cũng là nói về mối băn khoăn suy nghĩ da diết của Xuân Diệu trong mấy chục năm qua. Ông muốn có một sự đánh giá chính xác, công bằng về hiện tượng văn học nhiều màu vẻ và phức tạp này. Theo thời gian, những ý kiến đánh giá về thơ mới ngày càng thỏa đáng hơn. Cảm nhận thấy điều đó nên Xuân Diệu hay nói vui: “Mình phải luyện yôga để sống lâu, và bảo vệ cho quan điểm của mình về thơ mới”. Công lao của Xuân Diệu trong phong trào Thơ mới thật không nhỏ. Có lần nói chuyện với Tế Anh về thơ mới, tôi hỏi: “Nếu cần chọn năm nhà thơ tiêu biểu nhất trong phong trào Thơ mới thì theo anh đó là những ai?”. Tế Hanh suy nghĩ và bảo: “Kể cũng khó, nhưng theo tôi thì phải kể đến Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử…”. Tôi lại hỏi: “Nếu chọn một người tiêu biểu nhất thì theo anh là ai?”. Tế Hanh trả lời nhanh hơn: “Đó là Xuân Diệu”. Nhưng đóng góp của Xuân Diệu cho thơ mới cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc với tinh thần khoa học và sự nhạy cảm nghệ thuật. Trong những năm đầu chống Mỹ cứu nước, tôi đã đề nghị với Xuân Diệu để được nghe những ý kiến của ông về phát triển thơ mới và riêng về những sáng tác của ông. Thành phố lúc này sơ tán nên đã vợi người và một ngày báo động đến mấy lần. Tôi gửi cho ông các câu hỏi và ông trả lời dần sau những lần gặp gỡ. Cứ một tháng khoảng hai lần tôi lại được gặp ông. Câu chuyện có lúc trọn vẹn trong hai ba tiếng đồng hồ, có lúc bị ngắt quãng vì báo động. Tôi nhớ nhất là vào một đêm trăng thanh, thành phố mất điện, Xuân Diệu rủ tôi ra ngồi nói chuyện dưới bóng cây hoàng lan trong vườn. Trăng vào cuối thu rất sáng và Xuân Diệu nói về nghệ thuật của bài Nguyệt cầm. Ông muốn nhấn mạnh đến sự cộng hưởng của ánh sáng và âm thanh. Tiếng đàn trong đêm trăng, tiếng nước suối thánh thót, không gian mở ra mênh mông và thời gian như ngưng đọng lại. Ông đọc xong và ngâm nga theo điệu Nam ai, bài thơ ngân vang lên trong nhạc điệu. Đêm ấy trở về, giọng ngâm của ông làm tôi xao xuyến mãi. Xuân Diệu đã nhập thân hoàn toàn vào con người “linh thiêng” của nghệ thuật. Ông bồi hồi xúc động có thể như chính lúc làm ra bài thơ đó. Lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất tôi được nghe ông ngâm thơ theo giọng đặc biệt trên. Từ đấy, khi nói về thơ mới của Xuân Diệu, tôi dè dặt và thận trọng hơn. Tôi đã đôi lần phát biểu về thơ mới và vẫn mong có dịp nói kỹ hơn về hiện tượng văn học này.


Sau Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu đã góp phần mở đầu cho thơ ca cách mạng với hai trường ca Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông. Trong những năm gần đây, khi trường ca phát triển, tôi có lần hỏi ông về hai sáng tác này. Ông nhận xét rằng: “Nhiều người viết trường ca bằng việc mà mình viết trường ca bằng hồn”. Tôi nghĩ câu nói cô đúc của ông đã chỉ ra một yêu cầu quan trọng của trường ca, không thể quá tham lam kể sự việc mà phải đến với trang viết bằng tâm huyết và những xúc động sâu xa của tâm hồn.


Xuân Diệu là người góp phần mở đầu cho hướng thơ đi vào cuộc sống. Ông làm thơ, viết tiểu luận khẳng định mối quan hệ hàng đầu giữa thơ và cuộc sống. Mở rộng đề tài, ôm nhiều sự sống vào trong thơ, thơ ông bắt được nhiều tình ý lạ. Đưa cuộc sống vào thơ là một vấn đề khó. Nhiều bài thơ của Xuân Diệu còn mang tính chất thể nghiệm. Xuân Diệu hiểu rõ điều đó. Có lần ông tâm sự: “Trước kia chúng tôi tựa lưng vào hàng “ngàn năm thương nhớ” để viết nên có sự tiếp nối dễ dàng. Làm thơ về cuộc sống sản xuất và chiến đấu là một điều mới mẻ”. Ông đến với thực tế một cách nhiệt tình và cuộc sống cũng nuôi dưỡng ở ông lòng yêu thiết tha sự sống và con người. Thơ Xuân Diệu sau Cách mạng đã phản ánh nhiều mặt của hiện thực lớn của đất nước, từ tập thơ Mũi Cà Mau - Cầm tay đến Riêng chung, từ Tôi giàu đôi mắt đến Thanh ca. Điều thú vị nhất ở ông là những đóng góp về thơ tình, từ những trang thơ tình trong Thơ thơ đến những bài thơ tình viết sau Cách mạng tháng Tám. Xuân Diệu là nhà thơ tình bậc nhất trong thơ ca của thời kỳ hiện đại. Nhiều mạch của tình yêu cuộc sống được tác giả chuyển thành tình yêu lứa đôi. Ông viết thơ tình với một khiếu năng và tài năng đặc biệt. Khác với một số nhà thơ viết thơ tình bằng chính cuộc đời riêng của mình, Xuân Diệu viết thơ tình cho mình, nhưng đúng hơn là cho tuổi tẻ và cho cuộc đời. 522 bài thơ đã viết và đã in được 428 bài thơ tình, con số khổng lồ ấy đã nói lên bao xúc động( ) trong trái tim yêu đương của Xuân Diệu. Phải chăng những vui mừng, xót xa ấy đã giày vò trái tim ông suốt trên nửa thế kỷ và gây nên cả những cơn xúc động lúc ông sắp qua đời? Một phần quan trọng của thơ tình Xuân Diệu vẫn chưa được giới thiệu. Trong những năm mà việc in thơ tình còn chưa rộng rãi, Xuân Diệu đã chấp nhận để nhiều anh chị em trẻ được chép thơ tình chưa in của ông. Nhiều bài thơ tình của Xuân Diệu đã trở thành nhịp cầu cho những trái tim. Xuân Diệu rất vui về chuyện này. Ông cho rằng không gì đền bù hơn là bài thơ tình đã góp phần xe duyên cho đôi lứa. Tôi cũng như nhiều anh em nghiên cứu khác đã được đọc những bài thơ tình chưa in của ông. Nhiều bài có sức hấp dẫn đặc biệt. Xuân Diệu cho rằng thơ viết về tình yêu được đền bù, tình yêu ngọt ngào trong hạnh phúc cũng hay nhưng không hay bằng thơ viết về tình yêu không may mắn, không được đền đáp. Ông có nhiều bài thơ tình có tứ lạ, giàu sức tưởng tượng. Nếu trong thơ viết về cuộc sống, cái hữu hình trong thơ ông thật đậm nét và cụ thể thì trong lĩnh vực thơ tình, Xuân Diệu có khả năng nói rất giỏi về những cái vô tình. Ông cho rằng tình yêu phải đúng phạm trù, nếu không đúng phạm trù thì cho dù thật gần gũi vẫn có sự ngăn cách. Từ đấy nảy sinh bài thơ Tấm kính giữa đôi ta. Ông chú ý đến ánh mắt như những sợi dây đan lưới vây bọc lấy người yêu, ánh mắt trong chớp giây mà có lượng thông tin rất cao. Nhiều tứ thơ hay đã nảy sinh từ ánh mắt của người yêu. Thơ tình của ông đã đi vào lòng nhiều thế hệ thanh niên. Những năm cuối đời, Xuân Diệu vẫn say sưa viết nhiều bài thơ tình song ông hiểu rõ những hạn chế không tránh khỏi của thời gian và tuổi tác. Có lần ông tâm sự: “Mình vẫn say mê như thuở ban đầu, những bài thơ tình của thời kỳ Thơ thơ và Gửi hương cho gió nhưng làm sao giữ được cái nhụy, cái tơ non của tuổi trẻ yêu thương”. Ông nói rồi im lặng ngẫm nghĩ. Nếu với thơ, Xuân Diệu biểu hiện tài năng bẩm sinh của người nghệ sĩ thì ở các hoạt động khác, ông là người lao động cật lực. So sánh giữa làm thơ và viết nghiên cứu, ông Xuân Diệu bảo với tôi: “Làm thơ tuy vất vả nhưng có cảm xúc bù đắp khi suy nghĩ. Viết nghiên cứu dễ tổn thọ”. Biết thế nhưng ông đã đầu tư vào hoạt động này phần lớn công sức của mình. Đối với thế hệ chúng tôi, ông là tấm gương lao động nghệ thuật. Mỗi lần đến thăm ông, tôi thường thấy ông đang chìm ngập trong công việc. Ông rời bàn làm việc, vồn vã chào hỏi khách rồi kể ngay vào việc: “Mình đang phải trả nợ. Cái tiểu luận về Tú Xương gay quá”. Một dịp khác ông lại phân trần: “Thơ Tản Đà dễ chinh phục người đọc, nhưng những vấn đề của thơ Tản Đà lại thật là hóc búa”. Ông vừa nói vừa vỗ vào đầu, những món tóc xõa xuống vầng trán rộng. Những giây phút của tư duy chưa qua. Trong giây phút ấy tôi thấy ở ông vẻ đẹp đặc biệt của khuôn mặt đang suy nghĩ và sáng tạo. Xuân Diệu làm việc không mệt mỏi. Ông làm việc như để trả nợ cho cuộc đời. Hết việc này lại đến việc khác, hăm hở, nhiệt tình. Có lẽ cái giây phút sung sướng nhất ở ông là lúc vừa hoàn thành xong một công việc. Và sau đó lại bắt tay vào một việc khác. Tôi nói với ông: “Anh cả nể nên nhận nhiều đơn đặt hàng quá”. Xuân Diệu cười: “Mình tự làm vất vả mình, song đó là niềm vui. Như thế là xã hội còn tín nhiệm mình. Vả lại cũng phải để cho các nhà xuất bản và báo chí thúc giục, có thế mới chịu làm đúng hạn, mới được việc”. Xuân Diệu đã khéo léo kết hợp yêu cầu của xã hôi với kế hoạch lâu dài của bản thân. Trong phạm trù nghiên cứu và phên bình văn học, ông đã phác họa ra hàng chục năm về trước những dự kiến công việc sẽ làm. Công trình Các nhà thơ cổ điển Việt Nam của ông là kết quả của quá trình sáng tạo ấy. Ông trân trọng những nhà thơ cổ điển của dân tộc và muốn khám phá ra cái thế giới riêng của mỗi người. Ông viết Hồ Xuân Hương - Bà Chúa Thơ Nôm, và từ cái đột phá điểm ấy, Xuân Diệu mở ra với Nguyễn Du nhân dịp Kỷ niệm 200 năm năm sinh, rồi Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu, Tản Đà, Nguyễn Trãi… Ông chưa có dịp nói nhiều đến Cao Bá Quát, Nguyễn Bỉnh Khiêm - những đỉnh thơ mà ông hâm mộ. Có lần nói chuyện với ông về chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến, tôi tỏ ý hơi ngạc nhiên vì Nguyễn Khuyến đã bắt được cái ý thu, hơi thu trên khung cảnh của một vùng đất đồng chiêm trũng. Xuân Diệu gật đầu đồng tình và bảo: “Cái tài là ở chỗ ấy. Không cần đến rừng thu, hồ thu mà chỉ là ao thu thôi, và ngày nay sự nghiệp của nhiều nhà thơ chúng ta không khéo lại thua cái từ thơ “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo - Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” của Nguyễn Khuyến. Xuân Diệu trân trọng với cái hay, cái đẹp trong từng câu thơ cổ. Ở mỗi thế giới thơ, ông say sưa chiêm ngưỡng, tìm tòi, khám phá. Trong câu chuyện về nghiên cứu văn thơ cổ, tôi đặt một số câu hỏi với ông: “Với khối lượng nghiên cứu lớn như thế, anh giải quyết làm sao cho đầy đủ vấn đề tư liệu?”. Xuân Diệu nói rõ mục đích và phương pháp của mình: “Mình chỉ chú ý những bài đặc sắc và tìm hết cái riêng độc đáo của mỗi nhà thơ qua những bài thơ hay. Mỗi người có một cách tìm tòi và đóng góp”. Tôi nghĩ cách làm của ông là một hướng nghiên cứu quan trọng. Nhà thơ Chế Lan Viên có lần nhận xét: “Năng suất của Xuân Diệu bằng cả một Viện bởi vì chỉ một một mình Diệu đã viết hầu hết các danh nhân văn học. Viết hay và khó ai thay được”. Đó là một cách nói vui. Dĩ nhiên là công việc của Xuân Diệu không thể thay thế được việc làm của nhiều nhà nghiên cứu khác. Tìm hiểu một tác giả như Nguyễn Du, một tác phẩm như Truyện Kiều, có thể tiếp cận từ nhiều góc độ và khai thác theo nhiều phương pháp nghiên cứu. Chỉ riêng về văn bản học cũng đòi hỏi nhiều công sức. Xuân Diệu chú ý chủ yếu ở khâu phê bình văn chương cổ qua những áng thơ hay của từng tác giả. Quả thật ông đã có nhiều khám phá tinh tế, mới lạ làm cho người đọc yêu thích và kính trọng hơn tài năng của các nhà thơ cổ điển của dân tộc. Công lao ấy một đời nghiên cứu chưa dễ đã có thể làm được. Với thơ ca của thời kỳ hiện đại, Xuân Diệu từ những năm kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến những tổng kết về thơ nhân các cuộc thi thở của báo Văn nghệ, các bài tựa cho các tuyển thơ hiện đại luôn luôn bộc lộ nhiệt tâm xây dựng vun đắp cho phong trào thơ: Dao có mài mới sắc, Cây đời mãi mãi xanh tươi, Mài sắt nên kim, Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn, Công việc làm thơ,… Cứ nghĩ đến những cái tên sách cũng hình dung ra những điều nhà văn định tâm sự, nhắn gửi. Nghề văn là một nghề lao động công phu, kiên trì và sáng tạo, Xuân Diệu đòi hỏi thơ phải có chất lượng, và mang vẻ đẹp của thơ. Thơ không dung hòa với sự kể lể dài dòng, với sự buông thả tùy tiện. Ông quan tâm đến lao động câu chữ. Có lúc ông tỏ ra nghiêm khắc khi nói về nghề nghiệp và chuyện bếp núc trong thơ. Ông ít tham gia vào việc phê bình, đánh giá các tác giả và tác phẩm cụ thể nhưng luôn băn khoăn suy nghĩ về công việc phê bình thơ. Phải xác định cho đúng giá trị thật của các hiện tượng văn học. Phải công bằng trong nhận xét đánh giá. Ông vẫn thường nói: “Cái nguy hiểm của các nhà phê bình là dùng quá nhiều thước đo. Với người này thì cái thước là một trăm xăng ti mét, với người khác cái thước lại chỉ còn bảy mươi xăng ti mét. Tôi nói thế cũng là để răn đe mình vì tôi cũng là nhà phê bình”. Xuân Diệu không chỉ giới thiệu những bông hoa trong vườn nhà, ông muốn giới thiệu cái đẹp muôn màu vẻ của những nền thơ của các dân tộc với bao hương sắc lạ. Những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, ông dịch và giới thiệu Aragông, Êluya, rồi Maiacốpxki. Ông dịch và giới thiệu thơ Pêtôphi, Nadim Hítmét, Blaga Đimitrôva, Pablô Nêruđa, Nicôla Ghiden,… Nhiều nền thơ các nước xã hội chủ nghĩa anh em trở nên gần gũi với bạn đọc Việt Nam qua bản dịch của ông. Dịch và giới thiệu thơ bè bạn. Ông nói say sưa về Nadim Hítmét, về Pablô Nêruđa và Blaga Đimitrôva. Xuân Diệu ca ngợi: “Chất thơ của Hítmét quyến rũ ta bằng những chuyện đời thường, cái hằng ngày bình dị mà lớn lao. Đọc Hítmét lắm khi quên rằng mình đọc thơ mà đang đứng giữa cuộc đời”. Hítmét lớn lao mà bình dị. Tôi nghĩ rằng Xuân Diệu có chịu ảnh hưởng một phần của Hítmét trong một số bài thơ của ông. Ông khen ngợi Blaga Đimitrôva. Ông cho rằng: “Người phụ nữ ngang phần trí tuệ với đàn ông thì đã hơ đàn ông phần tình cảm rồi. Chị Blaga Đimitrôva có thể lại vượt hơn nhiều cây bút nam giới cả cái trí nữa”. Cứ thế, mỗi nhà thơ được ông yêu mến và phát hiện những vẻ đẹp riêng. Đến với những bản dịch có khi phải chuyển dịch qua nhiều ngôn ngữ khác nhau. Xuân Diệu đã vượt qua bao khó khăn để đem lại cho bạn đọc cái giá trị tương đối thật của nó. Xuân Diệu cố đem lại cái hồn của bài thơ có lúc như được lọc ra, chắt ra từ cái vỏ bề bộn của ngôn từ. Xuân Diệu đã dịch thơ với một tâm hồn thi sĩ. Tôi thích đọc những trang thơ dịch tin cậy của ông nhưng còn yêu mến hơn tấm lòng của nhà thơ với những tiếng nói bè bạn. Tình cảm của ông cũng được bù đắp lại xứng đáng. Mùa hè năm 1979 trong một chuyến thăm Bungari, tôi và Trần Đăng Khoa đã có dịp đến thăm nhà thơ nữ cao tuổi Bagriana ở biệt thự của bà ở chân núi Vitôsa. Bà vui mừng với tập thơ Bungari dịch ra tiếng Việt và nói: “Tôi đã đến được với các bạn qua tập thơ này. Tôi cám ơn Xuân Diệu. Và Xuân Diệu cũng đến với chúng tôi cùng với nhiều nhà thơ Việt Nam tiêu biểu khác. Đó là một phần công sức của Blaga”. Bà nói và tươi cười chỉ vào thi sĩ Blaga Đimitrôva. Và như chợt quên một điều gì, bà giơ ngón tay trỏ lên nhà nhìn vào để ngẫm nghĩ rồi đi thẳng vào thư viện. Một lát sau bà cầm ra một tuyển tập thơ tình. Bà vui vẻ giới thiệu: “Đây là một tập thơ tình mà tôi tuyển chọn theo ý riêng của tôi. Tôi bắt đầu bằng Puskin và kết thúc bằng Xuân Diệu”. Tôi đón nhận tập sách ở tay bà và xem phần mục lục. Hai bài thơ tình xinh xắn của Xuân Diệu kết thúc một cách có ý nghĩa tập thơ tình chọn từ nhiều nước này. Những câu chuyện như thế có thể tìm thấy nhiều trong quan hệ của Xuân Diệu với bè bạn các nước. Ông có nhiều bạn thơ trên đất Pháp. Khi ông qua đời, Mirây Găngxen đã viết những lời trân trọng tiếc thương một nhà thơ lớn. Ông là Viện sĩ thông tấn của Viện Hàn lâm nước Cộng hòa dân chủ Đức. Lầu thơ của ông có một khung cửa mở rộng để đón nhận gió tự bốn phương thổi tới. Để tạo được những giao lưu thực sự, ông đã lao động vất vả, nhất là trong điều kiện sách báo nước ngoài đến với chúng ta một cách thất thường. Tôi nghĩ rằng, Xuân Diệu đã nắm bắt được trùng mạch tình cảm trong khâu giao cảm quan trọng giữa thơ ca và bạn đọc thơ ca của nhiều dân tộc. Ông là người đi hàng đầu trong việc giới thiệu và đón nhận những giá trị thơ ca trên dòng giao lưu của dân tộc Việt Nam với các nước khác.


Xuân Diệu tìm hiểu, khám phá những đóng góp của thơ ca cổ điển dân tộc nhưng không rơi vào khuynh hướng phục cổ. Ông hiểu kỹ càng, tinh tế từng tình ý, từng chi tiết ngôn từ trong văn thơ cổ trên chỗ đứng của nhà thơ hiện đại. Ông trân trọng vốn thơ ca quý báu của dân tộc nhưng không tự đóng cửa lại. Xuân Diệu đến với bè bạn trên thế giới trên thế đứng vững chắc và niềm tự hào về nền thơ dân tộc. Ông đã lao động không mệt mỏi với tư cách một nhà thơ, một nhà nghiên cứu và phê bình văn học, một dịch giả. Ông còn say mê đóng góp cho thơ qua công việc của một diễn giả. Xuân Diệu đã nói chuyện thơ hàng trăm tuổi trên khắp các miền đất nước. Nhiều lần nghe ông nói chuyện tôi thấy ông có một cái duyên nói rất độc đáo. Ông chăm chú đến hội trường, khoảng cách giữa diễn giả và người nghe, ánh đèn, micrô với một yêu cầu nghiêm khắc như một diễn giả chuyên nghiệp. Nhưng khi đứng trước mặt công chúng thì ông chỉ là một nghệ sĩ với tất cả những nét đáng yêu và hồn nhiên nhất. Ông muốn có sự giao cảm thực sự trong câu chuyện. Những tràng vỗ tay của công chúng khi câu chuyện đến cao trào hoặc kết thúc một đoạn bình thơ diễn cảm làm ông thực sự xúc động. Ông cúi đầu xuống rất lâu để cảm tạ người nghe. Và câu chuyện lại tiếp tục như lúc mở đầu. Xuân Diệu nói chuyện có điệu bộ để tăng thêm sự diễn cảm. Ông thu mình lại để bắt chước những cô thiếu nữ e thẹn trong những câu ca dao giao duyên. Ông nói đến kẻ thù với giọng đay nghiến băm bổ khi bình bài Sự sống chẳng bao giờ chán nản. Ông như tự ru mình và mềm mại trong điệu bộ khi đọc những bài thơ tình. Câu chuyện của ông có lúc thật mạnh mẽ sôi nổi khi cần bảo vệ một điều gì đó. Kết thúc buổi nói chuyện, ông vẫy tay chào mọi người và sau đó thường ngồi một mình yên lặng như để nhớ lại những giây phút sôi nổi đã qua. Có thể lúc này ông cũng thấm mệt sau hai ba tiếng đồng hồ hoạt động liên tục. Gặp gỡ, chuyện trò giao tiếp với quần chúng là nhu cầu nội tại, là một vòng khâu hoạt động của Xuân Diệu. Mỗi lần ông đến với công chúng lại cảm thấy như được tiếp sức thêm. Sau những chuyến đi thực tế nhiều ngày trở về, Xuân Diệu kể lại với bè bạn về những buổi nói chuyện. Ông hào hứng nói về đêm bình thơ cho công nhân gang thép Thái Nguyên. Ông vừa nóiv ừa tìm tờ áp phích trải rộng trên bàn. Tờ áp phích hoan nghênh nhà thơ Xuân Diệu đến với công nhân gang thép. Ông trách cứ tôi đã không lưu ý và biết đến đầy đủ cái hay của bài thơ Sự sống chẳng bao giờ chán nản, một bài thơ có sức chinh phục công chúng. Một lần khác ông lại kể về chuyến đi bình thơ ở phía Nam. Tên tuổi ông đã đến với mọi người từ rất lâu trong thơ lãng mạn. Hôm nay công chúng những tỉnh vừa được giải phóng lại được chào đón Xuân Diệu - nhà thơ cách mạng. Người say mê chiêm ngưỡng ông từ khuôn mặt, vầng trán, đến dáng đi, người nắm tay, người xin chữ ký. Những miền quê hương mới, lớp công chúng mới đã đem lại cho ông bao phấn chấn nhiệt tình. Xuân Diệu say sưa nói có ngày hai buổi, thậm chí đến ba buổi cho những đối tượng khác nhau. Tôi còn nhớ vào những năm đầu chống Mỹ cứu nước, ông vào chỗ sơ tán của Trường Đại học Sư phạm Vinh để dự hội thảo khoa học và nói chuyện. Đây là vùng quê miền núi của Thanh Hóa. Ngoài những buổi hội thảo khoa học, anh em chúng tôi thường gặp gỡ theo từng nhóm nhỏ để chuyện trò. Xuân Diệu đã tranh thủ tất cả thời gian để nói chuyện với cán bộ và sinh viên. Những lần đi nói chuyện ở các nơi, không phải bao giờ Xuân Diệu cũng có được những điều kiện thuận lợi. Có lúc ông đi ô tô hàng đến một thị trấn rồi thầy trò một trường cấp III đem xe đạp ra đón. Khi ra về, một thầy giáo cấp III vui vẻ xách lên ô tô theo ông mấy con gà, món quà nhỏ của nhà trường. Ông vui vẻ nói: “Đến với anh em sinh viên mình như được trẻ lại”. Lúc này ông cũng đã ngoài năm mươi tuổi nhưng tình cảm của ông lại đang như ở chính giữa độ thanh xuân. Sau này ông cũng đến với sinh viên Khoa Văn mấy lần nữa. Ông đã để lại cho các em những ấn tượng sâu sắc và nổi lên nhất là tình cảm chân thực và sức sống tươi trẻ của tâm hồn một nhà thơ. Ông có ý thức chống đỡ lại những biến đổi của thời gian và độ cao của tuổi tác. Và chính nhiệt tình gắn bó với cuộc sống, với công việc đã luôn luôn giữ ở Xuân Diệu chất thanh xuân của cuộc đời. Ông vẫn thường hay nói đến sự hồi sinh và những chu kỳ tái tạo của một cuộc đời thơ. Cái vòng đời của một người nghệ sĩ là hữu hạn song chu kỳ sáng tạo ở mỗi người có thể còn nhỏ bé hơn nhiều. Phải biết mở rộng sức sáng tạo và theo Xuân Diệu, cái bí quyết, cái chìa khóa vẫn là ở cuộc đời. Ông thường nói: “Hết một chặng đường thơ tôi lại nghèo nàn đến khánh kiệt và cuộc sống lại hồi sinh cho tôi một chu kỳ sáng tạo mới”. Xuân Diệu thiết tha yêu mến và trân trọng cuộc đời, cuộc đời rộng lớn mà gần gũi, cuộc đời nghiêm khắc mà ân cần độ lượng, cuộc đời như trớ trêu, vô tình mà công bằng chu đáo. Xuân Diệu tha thiết yêu cuộc sống, ông truyền cả tình cảm ấy đến bạn bè và đó là ngọn lửa không ngừng đốt cháy lên ánh sáng trên những trang sách, thôi thúc ông trong mỗi công việc làm. Thời gian với ông là thời gian hữu ích, thời gian lao động. Khối lượng công việc thật lớn lao, phần của cuộc đời đặt nặng trên hai vai ông, phần của khát vọng không ngừng của người nghệ sĩ. Ông đã sống hết mình cho cuộc đời, cho thơ. Trong những lần đến thăm tôi chưa một lần thấy ông trong dáng vẻ nghỉ ngơi. Ông sinh ra để lao động, sáng tạo. Niềm vui lớn của ông cũng là những thành quả lao động. Ông chuẩn bị cho tác phẩm thứ năm mươi. Sức sáng tạo của ông như con tàu lao về phía trước. Chưa có dấu hiệu nào của sự ngưng nghỉ.


Mùa thu năm ngoái tôi đến thăm ông. Khi tiễn chân ông ra cổng, tôi nhìn lại tòa nhà đẹp hai tầng và buột miệng nói:


- Xuân Diệu ạ, mai sau tòa nhà này sẽ là một bảo tàng văn học đẹp cho hai anh.


Xuân Diệu cười và bảo: “Đất nước mình khó khăn, nhà cửa lại thiếu thốn, mình chỉ mong một cái tấm biển thôi, gọi là một dấu hiệu kỷ niệm”.


Ý kiến chân thành và khiêm tốn của ông làm tôi xúc động và suy nghĩ lan man. Một tòa nhà kỷ niệm, một căn phòng, một tấm biển,… tuy có nói lên một cái gì… nhưng sâu xa hơn, cuộc đời và tác phẩm của ông sẽ sống mãi trong lòng mọi người, sống mãi với thời gian.


 


Tạp chí Văn học, số 1 - 1987


 (còn tiếp)


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học, 2013.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »